SKKN Một số biện pháp giúp học sinh trường Tiểu học Liên xã Chánh Công học tốt phần âm, vần trong dạy học Tiếng Việt Lớp 1
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh trường Tiểu học Liên xã Chánh Công học tốt phần âm, vần trong dạy học Tiếng Việt Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_truong_tieu_hoc_lien_xa.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp học sinh trường Tiểu học Liên xã Chánh Công học tốt phần âm, vần trong dạy học Tiếng Việt Lớp 1
- 3 dạy học Tiếng Việt cho học sinh mà còn góp phần nâng góp phần giúp các em mạnh dạn, tự tin, có nền tảng tốt để học các môn học khác trong chương trình lớp 1. 2. Lý do chọn đề tài Tiếng Việt là một trong những môn học rất trọng trong nhà trường nhằm thực hiện mục đích giáo dục toàn diện, nhân cách cho học sinh. Mục tiêu của việc dạy môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nói chung và lớp Một nói riêng nhằm hình thành và phát phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Hình thành cho học sinh các kỹ năng: đọc, viết, nói, nghe. Nếu nắm chắc các kỹ năng đó không những giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt mà giúp các em môn hoàn thành tốt các môn học khác. Đối với môn Tiếng Việt việc dạy đọc và viết đúng là rất quan trọng đây là các kỹ năng nhằm nâng chất lượng học tập trong nhà trường Tiểu học. Muốn hướng dẫn học sinh đọc đúng âm, vần phải giúp các em nắm được cách quy tắc đọc đúng và hình thành những kỹ năng về đọc. Yêu cầu của học sinh lớp 1 là sau một năm học l phải đọc thông viết thạo các mặt chữ. Chính vì vậy, việc rèn cho học sinh đọc đúng âm, vần phải bắt đầu ngay từ những ngày đầu tiên, bài học đầu tiên khi các em bước vào lớp 1. Ở bậc tiểu học, việc giúp cho học sinh có thể đọc một cách thành thạo là hết sức quan trọng. Từ những vấn đề trên, bản thân nhận thấy việc giúp cho học sinh đọc đúng âm, vần là điều hết sức thiết thực. Vậy, làm như thế nào để nâng cao chất lượng trong việc giúp các em học tốt âm, vần cho học sinh lớp Một ? Từ những suy nghĩ đó, đã thôi thúc tôi tìm ra: “Một số biện pháp giúp học sinh trường Tiểu học Liên xã Chánh Công học tốt phần âm, vần trong dạy học Tiếng Việt lớp 1.”. Đây là một vấn đề chắc hẳn không chỉ riêng tôi mà rất nhiều đồng nghiệp khác quan tâm suy nghĩ là làm sao học sinh của mình có thể thực hiện tốt được các kỹ năng này trong học tập. Từ đó, giúp các em có được những kiến thức cho tương lai sau này, trở thành những con người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Đây cũng là một vấn đề mà phụ huynh, nhà trường và toàn xã hội hết sức quan tâm. 3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Học sinh lớp 1 và giáo viên giảng dạy khối lớp 1 trường Tiểu học liên xã Chánh Công. Nếu có thể, đề tài này có thể áp dụng cho tất cả học sinh ở vùng cao.
- 4 b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài - Chương trình môn Tiếng Việt lớp 1. - Một số biện pháp và kỹ thuật dạy học giúp học sinh học tốt phần âm, vần. Trọng tâm là một số biện pháp vận dụng cho các kỹ năng đọc – viết cho năm học này và những năm học tiếp theo. III CƠ SỞ LÍ LUẬN Từ những lo lắng trăn trở về việc dạy môn Tiếng Việt, tôi nhận thức đầy đủ nhiệm vụ đọc đúng và viết đúng chính tả là làm trong sáng tiếng mẹ đẻ. Từ đó, tôi tiến hành khảo sát để nắm bắt được những âm, vần mà học sinh đọc sai để lựa những biện pháp, phương pháp dạy học phù hợp nhằm nâng cao chất lượng học tập học sinh. Đối với học sinh ở đây đa số là con em người địa phương, ở lứa tuổi này khả năng tập trung chú ý của các em chưa cao, tư duy chưa phát triển nên việc có thể giúp các em học tốt môn Tiếng Việt ở giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn. Để giải quyết những khó khăn ban đầu ấy, trong hoạt động dạy học của mình tôi sử dụng một số biện pháp giúp học sinh có thể nắm chắc được những âm, vần một cách tốt nhất. Ngoài ra, từ việc giúp các em nắm chắc được âm, vần sẽ cung cấp cho các em biết thêm nhiều vốn từ, hiểu nghĩa từ để tiến tới việc dùng từ sinh động, viết chính tả chính xác tạo đà cho năm học tiếp theo. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN Môn Tiếng Việt có vai trò hết sức quan trọng chính vì vậy đòi hỏi mỗi giáo viên phải giúp học sinh đọc một cách chính xác từng âm, từng vần, từng tiếng, từng từ trong tiếng Việt. Đối với học sinh lớp 1 là học sinh đầu cấp, các em như một tờ giấy trắng, việc của giáo viên là phải giúp cho những tờ giấy trắng ấy được lấp đầy bởi con chữ. Đó là một vấn đề rất khó khăn đối với giáo viên như chúng tôi. Vậy làm thế nào để các em có thể giúp học sinh các em đọc đúng âm, vần trong dạy học Tiếng Việt đó là một điều làm cho tôi hết sức được quan tâm. Đối học sinh lớp tôi đang chủ nhiệm đa số học sinh là con em người địa phương, vốn ngôn ngữ của các em còn rất nhiều hạn chế. Các em phát âm còn sai và không chuẩn. Một phần là các em còn nhỏ chưa có ý thức trong việc tự học, tự tìm tòi để trau dồi vốn ngôn ngữ cho mình. Một số phụ huynh điều kiện kinh tế khó khăn chưa quan tâm đến học tập của con em mình, việc học tập của các em hầu hết là giao cho giáo viên chủ nhiệm. Chính vì vậy, dẫn đến chất lượng học tập của các em chưa được cao. Từ những vấn đề đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải có những biện pháp dạy học thiết thực nhất để giúp các em
- 5 tiến bộ hơn trong học tập. 1. Thực trạng của vấn đề 1.1.Tình hình thực tế Qua thực tế từ năm học trước tôi được phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 1 trường Tiểu học liên xã Chánh Công. Từ đầu năm học nhận lớp, lớp tôi hầu hết tất cả các em học sinh chưa nhận diện được bảng chữ cái, không nhớ âm, vần. Có học sinh học xong âm này hôm sau kiểm tra lại thì không nhớ nổi mặt chữ của âm đó. Rất nhiều học sinh phát âm, vần không chuẩn và không nhớ được âm, vần đó, đây là vấn đề mà tôi cảm thấy băn khoăn nhất. Qua tiến hành khảo sát ở lớp 1B đầu năm học 2020 – 2021 đạt kết quả như sau: Tổng số Đọc được âm Đọc được vần Chưa đọc được âm, học sinh vần SL TL% SL TL % SL TL% 28 0 0% 0 0% 28 100% Thực tế cho thấy các em mới từ mẫu giáo lên lớp 1 và ở mẫu giáo hoạt động chơi của các em là chủ yếu nên dẫn đến việc các em không biết gì là điều rất bình thường. Các em chỉ là những tờ giấy trắng đang chờ những con chữ viết vào các tờ giấy đó. Chính vì vậy mà việc tìm ra một số biện pháp phù hợp để giúp cho học sinh học tốt phần âm, vần môn Tiếng Việt là vấn đề rất cần quan tâm. Muốn rèn cho các em học tốt âm, vần trong môn học này chúng ta cần phải làm gì ? Đây cũng chính là câu hỏi mà bản thân cần phải tìm tòi, học hỏi để có thể tìm ra được câu trả lời. Từ những thực trạng trên thôi thúc tôi tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Học sinh chưa học tốt âm, vần” là do đâu? để từ đó tìm ra một số biện pháp giúp cho học sinh đạt hiệu quả một cách tốt nhất trong học tập. 1.2. Thuận lợi - Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, Tổ chuyên môn nhà trường đã tạo mọi điều kiện để cho các giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy của mình. Nhà trường đã trang bị tương đối đầy đủ các thiết bị dạy dạy và đồ dùng dạy học để giáo viên có thể phục vụ cho việc giảng dạy của mình. - Một số phụ huynh và học sinh cũng tự nhận thấy được tầm quan trọng của việc học môn Tiếng Việt và cần phải nâng cao chất lượng của môn học
- 6 này. Đa số các em ngoan ngoãn, lễ phép và vâng lời thầy cô giáo, đó cũng là một việc giúp cho giáo viên thực hiện tốt việc dạy – học. 1.3. Khó khăn Qua thực tế giảng dạy ở trường, tôi nhận thấy việc học sinh có thể đọc, viết một cách trôi chảy hầu hết các em chưa thực hiện được do những nguyên nhân sau: - Đa số các em là người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, hằng ngày các em giao tiếp với nhau đa số bằng tiếng mẹ đẻ. Chính vì vậy, khi các em đi học việc phát âm của các em gặp rất nhiều khó khăn. Các em học nói, học đọc đã khó khăn và yêu cầu các em đọc đúng, đọc chuẩn các âm, vần càng khó khăn hơn rất là nhiều. - Các em mới là học sinh lớp 1 còn rất nhỏ chưa biết cách tự học ở nhà như việc ôn lại các kiến thức đã học để có thể bổ sung những hiểu biết cho các em...Từ đó dẫn đến việc các em đọc đúng các âm, vần càng khó khăn hơn vì các em không nắm kiến thức cơ bản trong cuộc sống. - Bên cạnh đó trình độ nhận thức của phụ huynh còn nhiều hạn chế và chưa quan tâm tới việc học của con em mình...Điều kiện học tập ở nhà của các em hầu như không có. Nên dẫn đến việc học của các em cũng không đạt được kết quả cao. V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Qua điều tra thống kê tình hình học tập của học sinh, ngay từ đầu năm học để có được kết quả tốt tôi đã tiến hành họp phụ huynh nhằm tạo nhận thức và giúp phụ huynh hiểu về nội dung và chương trình giáo dục phổ thông 2018, của bộ sách lớp 1 là hành trang đầu đời của các em. Đây là sự cần thiết và tầm quan trọng trong việc dạy âm, vần cho học sinh. Muốn các em thực hiện tốt được các âm, vần thì đòi hỏi cần phải có sự giúp đỡ từ cả phụ huynh và học sinh. - Từ đó tôi đã cố gắng suy nghĩ, tìm tòi và lựa chọn một vài biện pháp để phù hợp với từng đối tượng học sinh của mình. Từ đó để có thể giúp các em đạt được những kĩ năng, thói quen và căn bản trong quá trình dạy học âm, vần trong môn Tiếng Việt. Tôi đã xác định được một số biện pháp dạy học cụ thể như sau: Biện pháp 1. Giúp học sinh nắm chắc phần cấu tạo của các âm.
- 7 Để giúp học sinh lớp 1 nắm vững được âm trong môn Tiếng Việt, trước hết giáo viên cần phải giúp học sinh nắm vững được từng âm, giáo viên cần chú ý 3 vấn đề then chốt: Thứ nhất: GV phải phân tích thật kĩ cấu tạo của âm đó. Ví dụ: Tất cả các chữ trong bảng chữ cái tiếng Việt đều có đặc điểm, cấu tạo và cách viết cụ thể. Do đó, cần tìm hiểu kỹ, chắc chắn nắm rõ phần lý thuyết. Sau đó mới bắt đầu thực hành trên bảng hoặc vở. Cụ thể khi dạy âm h tôi sẽ giúp học sinh nhận biết được: Để hoàn thành chữ h thường, chúng ta sẽ sử dụng 2 nét. Muốn viết đúng kích thước, chiều cao, độ rộng của h thường, học sinh phải nắm rõ đặc điểm của chữ. Cụ thể, chữ h thường cao 5 ly và viết trên 6 đường kẻ ngang. Cấu tạo chữ: Nét 1: khuyết trên. Nét 2: móc hai đầu. Cách viết: Nét 1, đặt bút trên đường kẻ 2, viết nét khuyết xuôi. Chú ý đầu nét khuyết chạm vào đường kẻ 6, kéo thẳng nét xuống và dừng bút đường kẻ 1. Nét 2, từ điểm dừng bút của đường kẻ 1. Người viết đặt bút lên gần đường kẻ 2 để viết tiếp nét móc hai đầu. Nét móc chạm vào đường kẻ 3, sau đó kéo nét móc xuống đường kẻ thứ nhất và móc ngược lên tại đường kẻ 2. Thứ hai: Yêu cầu đối với học sinh là thuộc bảng chữ cái một cách thành thạo. Bên cạnh đó tôi sẽ giúp học sinh nắm vững được các âm, tiếng, từng được ghép bởi những con chữ nào: Ví dụ: Khi dạy - Bài 16: M m – N n + Giáo cần phân tích rõ và phân biệt cho các em rõ âm m nó có 3 nét còn âm n gồm có 2 nét. Ví dụ như trong tiếng ma và tiếng na khi phát âm nó sẽ khác nhau. - Bài 17: G g – Gi gi + Giáo cần phân tích rõ và khắt sâu kiến thức cần nhớ cho các em. Trong âm g chỉ cấu tạo một chữ, còn âm gi nó được cấu tạo bởi hai con chữ g+i. Sau khi phân tích rõ giáo viên cần cho học sinh đọc một số tiếng hoặc tìm một số tiếng cho học sinh đọc như gà – già. Ở đây trong tiếng gà ta sẽ đọc là gờ - a – ga – huyền - gà còn trong tiếng già ta sẽ đọc là gi – a- gia – huyền già và giáo viên phân tích thêm là gà là trong từ con gà, còn già trong từ cụ già - Bài 19: ng - ngh + Giáo viên cần phân tích rõ: Trong tiếng nghé có âm ngh kép được tạo bởi các con chữ n+g+h, tiếng ngà có âm ng đơn được tạo bởi các con chữ n+g. Cả ng đơn và ngh ghép đều đọc là ngờ.
- 8 Ngoài ra giáo viên cần giúp học sinh nắm vững được quy tắc chính tả: Ví dụ: Đối với âm ngh, k thì nó chỉ đứng trước âm i, e và ê. Từ đó việc giúp học sinh nắm chắc quy tắc này sẽ giúp học học tốt hơn ở phần ôn tập bài học. Thứ ba: Giúp học sinh nắm một số nguyên âm đơn và nguyên âm đôi trong bảng chữ cái Tiếng Việt. Trong quá trình dạy vần cho học sinh vào các tiết ôn tập tôi sẽ giúp các em nắm rõ một số nội dung sau: Trong bảng chữ cái Tiếng Việt nó sẽ có gồm 12 nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i, y, o, ô, ơ, u, ư. Ngoài ra còn có ba nguyên âm đôi với rất nhiều cách viết cụ thể như là: ua - uô, ia – yê – iê, ưa - ươ. Sau khi hướng dẫn các tìm hiểu một số nguyên âm đơn và nguyên âm đôi tôi hướng dẫn học sinh cách đọc như sau: + a và ă là hai nguyên âm. Chúng có cách đọc gần giống nhau từ trên căn bản vị trí của lưỡi cho đến độ mở của miệng, khẩu hình phát âm. + Hai nguyên âm ơ và â cũng tương tự giống nhau cụ thể là âm ơ thì dài, còn đối với âm â thì ngắn hơn. - Đối với các nguyên âm có dấu là: ư, ơ, ô, â, ă cần đặc biệt chú ý. Đối với người nước ngoài thì những âm này cần học nghiêm chỉnh bởi chúng không có trong bảng chữ cái và đặc biệt khó nhớ. - Với học sinh trường tôi hầu hết là các em là người dân tộc thiểu số để đạt được hiệu quả dạy học tốt tôi thường xuyên quan tâm giúp đỡ, kèm cặp các em trong học tập. Vì điều kiện học tập của một số ở nhà ko có nên sau khi học xong một số âm tôi sẽ phát cho các em bảng âm và cho các em về nhà tự ôn lại để các em nắm chắc bài hơn. Bảng tổng hợp tên và cách phát âm các chữ cái Tiếng Việt. STT Chữ viết thường Chữ viết hoa Tên chữ Cách phát âm 1 a A A A 2 ă Ă Á Á 3 â Â ớ ớ 4 b B Bê bờ 5 c C Xê cờ 6 d D Dê dờ 7 đ Đ Đê đờ 8 e E E E 9 ê Ê Ê Ê 10 g G Giê giờ 11 h H Hát hờ
- 9 12 I I i/i ngắn I 13 k K Ca ca/cờ 14 l L e-lờ lờ 15 m M em mờ/e-mờ mờ 16 n N em nờ/ e-nờ nờ 17 o O o O 18 ô Ô ô Ô 19 ơ Ơ ơ Ơ 20 p P Pê pờ 21 q Q cu/quy quờ 22 r R e-rờ rờ 23 s S ét-xì sờ 24 t T Tê tờ 25 u U U U 26 ư Ư Ư Ư 27 v V Vê vờ 28 x X ích xì xờ 29 y Y i/i dài I Bảng này không chỉ giúp học sinh học tốt âm mà còn giúp các em nhận biết tên chữ cái để áp dụng vào Toán học. Biện pháp 2. Giúp học sinh nắm chắc phần cấu tạo của các vần. Muốn giúp cho học sinh nắm chắc vần thì giáo viên cần phải thực hiện theo một số vấn đề sau: Thứ nhất: Cần phải phân tích thật kĩ cấu tạo của vần đó. - Giáo viên cần phải giúp các em nắm chắc các vần đã đã học qua từng bài học. - Ví dụ: Khi dạy bài + Bài 24: ua – ưa Đầu tiên là giáo viên giúp học nhận diện lại các âm có trong vần ua – ưa. Trong vần ua nó được tạo bởi âm u đứng trước và âm a đứng sau, vần ưa được tạo bởi âm ư đứng trước và âm a đứng sau. Sau khi đã tìm hiểu kỹ vần xong giúp các em phân biệt giữa vần ua – ưa để khi đọc các em phát âm đúng hơn. Từ đây có thể giúp cho học sinh tìm tiếng có chứa vần ua – ưa như tiếng dứa và tiếng đứa để các em có thể nắm chắc hai âm này phát âm khác nhau. + Bài 57: anh – ênh – inh
- 10 Trong vần anh nó được ghép bởi âm a đứng trước âm nh đứng sau và nó được ghép bởi ba chữ a+n+h. Tương tự ênh và vần inh Thứ hai: Chúng ta sẽ giúp cho các em so sánh và nắm chắc được cách sử dụng đúng vần trong tiếng: - Ví dụ: Khi dạy + Bài 61: ong – ông – ung – ưng Trong vần ong nó được ghép bởi âm o đứng trước âm ng đứng sau, vần ong nó được ghép bởi ba con chữ o+n+g. Vần ông nó được ghép bởi âm ô đứng trước âm ng đứng sau, vần ông nó được ghép bởi ba con chữ ô+n+g. Vần ung nó được ghép bởi âm u đứng trước âm ng đứng sau, vần ung nó được ghép bởi ba con chữ u+n+g. Vần ưng nó được ghép bởi âm ư đứng trước âm ng đứng sau, vần ông nó được ghép bởi ba con chữ ư+n+g. Nếu dạy bài này chúng ta cần lưu ý cho học phát âm chuẩn hai vần đó là ong – ông. Đây là hai vần mà các em thường xuyên phát âm sai. Muốn các em đọc đúng thì chúng ta cần cho các em phát âm nhiều lần và cần có sự so sánh giữa ong – ông: Ví dụ bong bóng, con công, dòng sông Chúng ta phải phát âm chuẩn và sử dùng khẩu hình miệng để hướng dẫn các em phát âm chuẩn là điều hết sức quan trọng. Thứ ba: Giúp học sinh phân biệt cách phát âm ngắn và âm dài. Trong dạy học vần việc phát âm và giúp các em đọc đúng vần là điều hết sức cần thiết. Khi giáo viên phát âm đúng thì mới giúp học sinh đọc đúng, nghe đúng và viết đúng. Trong phần vần có rất nhiều vần phát âm gần giống nhau như vần an – ang, ăn – ăng, oan – oang, oai – oay Trong quá trình giảng dạy gặp một vần như vậy cần hướng dẫn học sinh chú ý phát âm cho đúng. Ví dụ: vần an ta sẽ phát âm ngắn hơn, còn vần ang phát âm dài hơn. Từ đó, giúp cho học sinh biết những âm kết thúc bằng âm n khi phát âm nó ngắn hơn những âm kết thức bằng âm ng. Vần oai ta sẽ phát âm ngắn hơn, còn vần oay phát âm dài hơn. Qua đó, c học sinh biết những âm kết thúc bằng âm i khi phát âm nó ngắn hơn những âm kết thức bằng âm y Sau khi học xong một số vần tôi sẽ phát cho mỗi em một bảng âm, vần đầy đủ để các em về nhà ôn bài. Khi phát xong bảng này tôi sẽ hướng dẫn các em cách học, học tới chủ đề nào thì các em về nhà tự ôn đến vần đó. Còn những vần học ở kì hai tôi sẽ lồng ghép vào tiết tập đọc và hướng dẫn các em đọc ngay vào bài đó. Đối với học sinh không thể tự đọc được âm, vần đó ở nhà, giờ ra chơi tôi tranh thủ hướng dẫn lại các âm đó cho các em. Ngoài ra, trong giờ Tăng cường Tiếng Việt tôi sẽ dạy phân hóa theo đối tượng học sinh và sắp xếp lại chỗ học cho sinh hợp lí.
- 11 Đây là bảng âm, vần sử dụng cho học sinh. Biện pháp 3. Giúp học sinh hiểu nghĩa của từ ngữ để đọc đúng, viết đúng các âm, vần. Kết hợp ví dụ sinh động với từng chữ cái: Để giúp học sinh lớp 1 tập đọc đúng cách, tôi thường xuyên tạo cho các em cảm thấy các con chữ này thật sự dễ dàng và hứng thú để thu hút học sinh thực hành. Có một cách khá đơn giản để có thể tạo sự hứng khởi và khả năng nhớ mặt chữ lâu cho các em tôi đã sử dụng tấm thẻ nhỏ in hình chữ cái kèm theo đó là hình ảnh về thế giới xung quanh có xuất hiện chữ cái đó. Nhờ vậy, học sinh sẽ có sự thích thú và dễ tiếp thu hơn nhờ não bộ “in đậm” những hình ảnh thú vị xuất hiện. Hình vẽ ngộ nghĩ được tôi sử dụng trong giờ học âm
- 12 Các tấm thẻ nhỏ in hình các loại quả có chứa âm, vần, tiếng. Vì vậy ngay phần Làm quen của phần âm môn Tiếng Việt cần cho học sinh quan sát kĩ hình ảnh minh họa có trong sách âm và tiếng có chứa âm mới để học sinh nhớ được các phát âm. *Ví dụ: Khi dạy Bài 19: Ng ng Ngh ngh có tiếng ngủ giáo viên có thể cho học sinh xem hình ảnh một người đang nằm ngủ. Theo cách này, khi cung cấp nghĩa từ, học sinh sẽ nắm chắc nghĩa của từ. Cho học sinh quan sát tranh ảnh trong sách giáo khoa, sử dụng các tình huống thật trên lớp. *Ví dụ: lỗ tai (ai), bàn tay (ay), GV có thể sử dụng các chuyện có thật, các hiện tượng, thực tế phổ biến để cung cấp nghĩa của từ cho HS. Việc giúp HS hiểu nghĩa của từ còn được tiến hành bằng cách khai thác tranh ảnh trên mạng, áp dụng khi thực hiện bài dạy bằng giáo án điện tử. Dạy âm vần cho HS lớp 1 không chỉ dạy cho các em đánh vần, đọc trơn các tiếng, từ chứa âm, vần đó mà bước đầu còn cần giải thích ngắn gọn để các em hiểu nghĩa của các từ này. Đồng thời việc hiểu nghĩa của từ ngữ sẽ giúp các em đọc đúng và viết đúng chính xác các từ đó. Hai vấn đề này có mối quan hệ biện chứng với nhau. Vì vậy, khi dạy âm và chữ cái, dạy vần, dạy
- 13 tiếng, từ ứng dụng và đọc câu thì cần quan tâm cung cấp nghĩa của tiếng cũng như từ ứng dụng. Học sinh có hiểu được nghĩa thì các em mới dễ nhớ; đọc đúng, viết đúng, nắm chắc chắn được các vần, tiếng đã học một cách có cơ sở. Việc cung cấp nghĩa của từ có thể tiến hành dưới nhiều hình thức: + Cho học sinh quan sát vật thật qua các đồ vật có sẵn trong lớp học hoặc hình ảnh để minh họa nghĩa của từ. VD : Khi dạy bài vần ep: Giáo viên khai thác triệt để hình ảnh các tranh trong sách mềm hoặc ta có thể lấy một đôi dép để HS có cơ hội quan sát, hiểu nghĩa các từ. Ngoài ra GV sau khi HS tìm được tiếng mới có âm, vần hôm nay học GV kết hợp giải nghĩa từ các tiếng, từ đó. + GV có thể sử dụng các chuyện có thật, các hiện tượng, thực tế phổ biến để cung cấp nghĩa của từ cho HS. *Ví dụ: chùm vải (ai), máy cày (ay), Việc giúp HS hiểu nghĩa của từ còn được tiến hành bằng cách khai thác tranh ảnh trên mạng internet Biện pháp 4. Giúp học sinh phát âm đúng để viết đúng. Phát âm trong dạy Tiếng Việt cho học sinh rất quan trọng, học sinh phát âm đúng thì sẽ nhận diện chữ (đọc) đúng và viết đúng. Ngược lại, nếu không được giáo viên quan tâm kĩ phần này, không được sửa chữa kịp thời các em sẽ dễ bị đọc sai do thói quen ở địa phương và dẫn đến viết sai do đọc sai. Ví dụ: Khi dạy Bài 19: Ng ng Ngh ngh giáo viên cần cho học sinh quan sát kĩ hình ảnh chú nghé trong bài để học sinh phát âm đúng âm ngh Để dạy cho các em phát âm đúng quả là rất khó, không phải chỉ một vài tiết học là xong. Như chúng ta đã biết việc phát âm liên quan tới các cơ quan phát âm. Nếu chúng ta giúp học sinh vừa được nghe, vừa được quan sát sự phối hợp các cơ âm phát âm như hình dạng của môi, vị trí của răng, lưỡi thì các em sẽ dễ dàng phát âm đúng những âm cần học hơn là chỉ được nghe.

