SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong Trường Mầm Non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong Trường Mầm Non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_giao_vien_lam_tot_cong_tac_pho.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong Trường Mầm Non
- DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT STT Viết tắt Nội dung 1 TNTT Tai nạn thương tích 2 CS-ND-GD Chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục 3 VSMT Vệ sinh môi trường 4 VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm 5 CB-GV-NV Cán bộ, giáo viên, nhân viên 6 TTYT Trung tâm Y tế 7 GV Giáo viên 8 MN Mầm non 9 GVMN Giáo viên mầm non 10 HĐ Hoạt động 11 CSVC Cơ sở vật chất 12 ĐDĐC Đồ dùng đồ chơi 13 PHHS Phụ huynh học sinh 14 MC Minh chứng 2/20
- I – ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài : “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” Trẻ em luôn là đối tượng được các gia đình và toàn xã hội quan tâm, chăm sóc, giáo dục và được bảo vệ về sức khỏe, tính mạng nhưng hiện nay trẻ em trên thế giới nói chung và trẻ em ở Việt Nam nói riêng tỉ lệ trẻ bị TNTT có xu hướng tăng lên. Việc đảm bảo an toàn, phòng tránh TNTT cho trẻ ở độ tuổi MN là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và đã được các cấp các ngành quan tâm. Ngày 15/4/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 13/2010/ TT-BGD&ĐT quy định về việc “Xây dựng trường học an toàn, phòng, chống, tai nạn thương tích (TNTT) trong cơ sở GDMN”. Dựa trên cơ sở luật trẻ em năm 2016, ngày 5/2/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 243/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phòng, chống TNTT trẻ em giai đoạn 2016-2020. Nội dung phòng chống TNTT cho trẻ cũng thường xuyên được Phòng giáo dục và nhà trường đưa vào các chuyên đề để tập huấn cho giáo viên ở các cấp học, đặc biệt là cấp học mầm non. Tuy nhiên trên tình hình thực tế ở nhiều trường mầm non hiện nay vẫn xảy ra tình trạng trẻ bị TNTT mà báo trí, truyền hình, các trang mạng đã đưa tin gây bức xúc cho phụ huynh và xã hội. Nhìn vào thực tế con số tai nạn thương tích trẻ em đang gia tăng, tôi nhận thấy, một phần rất lớn những ca tai nạn thương tích đau lòng của trẻ thường bắt nguồn từ sự bất cẩn và kém hiểu biết của người lớn.Vì vậy, cần trang bị cho giáo viên mầm non những kiến thức và cách phòng tránh tai nạn thương tích một cách có hiệu quả. Vì vậy, giáo viên cần tích hợp một cách hợp lý vào tất cả các hoạt động trong ngày và trang bị những kiến thức cần thiết đơn giản về phòng tránh tai nạn thương tích để trẻ biết tự bảo vệ mình khi cần thiết. Tai nạn thương tích có thể xảy ra với trẻ, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể phòng tránh được thông qua các biện pháp khác nhau, trong đó có nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích và tạo dựng môi trường học tập, vui chơi an toàn là không thể thiếu. Để thực hiện các biện pháp đó, với trách nhiệm của một nhân viên y tế trong trường mầm non tôi đã nhận thức được việc phải xây dựng môi trường an toàn và phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là rất quan trọng và cần thiết. Theo tôi, các nhà quản lý và GVMN luôn luôn phải coi sự an toàn về sức khỏe và tính mạng của trẻ là mối quan tâm hàng đầu xã hội. Nhưng để bảo vệ cho trẻ được an toàn tuyệt đối quả là vấn đề vô cùng khó khăn vì ở độ tuổi này trẻ rất 3/20
- hiếu động, tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá thế giới xung quanh. Những lập luận những suy nghĩ của trẻ còn quá non nớt, trẻ chưa hiểu biết nhiều về những TNTT, chưa biết tự bảo vệ mình cho nên nguy cơ có thể gây thương tích cho trẻ là rất lớn. Tất cả những điều đó đều có nguy cơ gây TNTT cho trẻ. Trong khi chúng ta không thể biết trước được những TNTT xảy ra hằng ngày với trẻ như thế nào, vào lúc nào. Vậy chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ an toàn cho trẻ trong thời gian cả một ngày, một tháng, một năm học. Đó là vấn đề mà tôi luôn trăn trở suy nghĩ với trách nhiệm của một nhân viên y tế trường mầm non, tôi luôn ý thức phải xây dựng môi trường an toàn và phòng tránh TNTT cho trẻ là vấn đề rất quan trọng, là nhiệm vụ cấp bách với mong muốn 100% trẻ được an toàn mọi lúc mọi nơi, không có TNTT xảy ra với trẻ trong thời gian ở trường, ở lớp và ở gia đình. Thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, tập thể sư phạm trường MN Trung Mầu chúng tôi luôn đặt công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ là một trong những yếu tố cấp bách góp phần chăm sóc sức khỏe một cách toàn diện cho trẻ, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm quyết định đến chất lượng, uy tín của nhà trường. Đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên làm tốt công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non”. 2. Mục đích nghiên cứu - Tìm ra nhiều biện pháp chỉ đạo giáo viên phòng tránh TNTT và đảm bảo an toàn cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Tạo môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu và loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ trong gia đình, nhà trường và cộng đồng. - Nâng cao ý thức, vai trò trách nhiệm, góp phần củng cố và cập nhật kiến thức kịp thời cho giáo viên về một số TNTT thường xảy ra với trẻ nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ. Từ đó có kiến thứ, kỹ năng trong việc sơ cấp cứu ban đầu cũng như kỹ năng phòng tránh TNTT cho trẻ hiệu quả. - Giúp trẻ có những hiểu biết cơ bản về một số TNTT, các loại ĐDĐC, các khu vực có nguy cơ xảy ra TNTT, một số kỹ năng trong việc phòng tránh TNTT cho bản thân và những người xung quanh. -Tăng cường ý thức của các bậc phụ huynh về việc nâng cao ý thức trách nhiệm cùng phối kết hợp với giáo viên và nhà trường giáo dục trẻ phòng tránh TNTT. 3.Đối tượng nghiên cứu - Giáo viên trường MN Trung Mầu 4. Phương pháp nghiên cứu 4/20
- - Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc, phân tích, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp thống kê, thu thập số liệu điều tra, xử lí số liệu, rút ra nhận xét và kết luận về việc xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT cho trẻ - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: dùng hệ thống các câu hỏi nhằm nắm bắt kiến thức, thái độ, kĩ năng của cô và trẻ. -Phương pháp quan sát, thực hành, kiểm tra, đánh giá. 5.Thời gian nghiên cứu - Từ tháng 8 năm 2022 đến hết tháng 2 năm 2023. 5/20
- II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1.Một số khái niệm liên quan đến đề tài *Tai nạn: Là sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do tác nhân bên ngoài, gây nên thương tích cho cơ thể. *Thương tích: Là tổn thương thực thể của cơ thể do phải chịu tác động đột ngột ngoài khả năng chịu đựng của cơ thể hoặc rối loạn chức năng do thiếu yếu tố cần thiết cho sự sống như không khí, nước, nhiệt độ phù hợp. *Trường học an toàn, phòng, chống TNTT: Là trường học mà các yếu tố nguy cơ gây tai nạn, thương tích cho trẻ được phòng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ. Toàn bộ trẻ em trong trường được chăm sóc, nuôi dạy trong một môi trường an toàn. Quá trình xây dựng trường học an toàn phải có sự tham gia của trẻ em độ tuổi mầm non, các cán bộ quản lý, giáo viên của nhà trường, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể địa phương và các bậc PHHS. 1.2.Tầm quan trọng của việc phòng chống TNTT cho trẻ. TNTT luôn rình rập quanh ta, nó có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lứa tuổi nhưng tập trung nhiều ở lứa tuổi mầm non. Phòng tránh tai nạn thương tích có vai trò quan trọng đến sự phát triển toàn diện về mặt nhân cách cho trẻ: Về mặt thể chất, cơ thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn thương về da thịt, trẻ được vận động nhanh nhẹn, bình thường. Không những sẽ phát triển về mặt thể chất mà còn giúp cho trẻ phát triển về mặt nhận thức. Nếu trẻ không bị tổn thương về mặt thể xác hay về mặt tinh thần thì trẻ được tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh tốt hơn. Hơn nữa, phòng tránh được tai nạn thương tích cho trẻ sẽ giúp trẻ phát triển về mặt ngôn ngữ. Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy, nếu không có ngôn ngữ thì sẽ không phát triển được tư duy. Ngoài ra, phòng tránh được tai nạn thương tích sẽ giúp trẻ phát triển về mặt tình cảm xã hội. Trẻ được sống trong một môi trường an toàn, không làm tổn thương đến trẻ, trẻ cảm nhận được những tình cảm, sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của người lớn. Qua đó trẻ biết yêu quý, trân trọng mọi người xung quanh, biết giúp đỡ người khác. Không chỉ thế, còn giúp trẻ phát triển về mặt thẩm mỹ. 2.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ Ý thức được sự nguy hiểm có thể xảy đến với trẻ hằng ngày. Trường mầm non Trung Mầu luôn đặt vấn đề an toàn cho trẻ là mối quan tâm hàng đầu và quyết tâm xây dựng trường học an toàn, phòng chống TNTT cho trẻ. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tôi thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: 6/20
- a.Thuận lợi: - Trường mới được xây dựng khang trang sạch sẽ, có một khu tập trung theo tiêu chí trường Chuẩn Quốc gia mức độ 2. - Đội ngũ giáo viên trẻ, 100% có trình độ chuyên môn nghiệp vụ chuẩn và trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có ý thức trách nhiệm cao trong công việc đảm bảo an toàn cho trẻ. - Nhà trường trang bị đầy đủ tài liệu về cách phòng tránh TNTT cho GV. Trường có NV y tế, phòng y tế trang thiết bị y tế tương đối đầy đủ b. Khó khăn: - Nhận thức của giáo viên trong việc phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non chưa cao, kỹ năng phòng tránh và xử lý các tai nạn thương tích cho trẻ của giáo viên đôi khi còn lúng túng, chưa linh hoạt. - Đa số phụ huynh ít có kiến thức cơ bản về phòng tránh TNTT cho trẻ. - Trẻ còn quá nhỏ nên chưa biết tự bảo vệ mình, kỹ năng phòng tránh TNTT chưa có. c. Khảo sát thực trạng: Để làm tốt công tác xây dựng trường học an toàn, phòng chống TNTT trong nhà trường có hiệu quả, tôi đã tiến hành khảo sát giáo viên vào thời điểm đầu năm học 2022 - 2023, kết quả như sau: * Bảng khảo sát trên tổng số 20 giáo viên trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: T Mức độ đạt được Nội dung khảo sát T Tốt % Khá % TB % Yếu % Nắm được nội dung phòng TNTT 1 5 25 5 25 10 50 0 0 cho trẻ Chú trọng lồng ghép tích hợp GD phòng tránh TNTT vào các môn 2 4 20 5 25 11 55 0 0 học, các hoạt động trong ngày của trẻ Có kiến thức về chăm sóc sức khỏe, sơ cấp cứu, xử trí ban đầu 3 7 6 30 7 35 0 0 phòng tránh TNTT 35 cho trẻ. Công tác phối hợp với PHHS để 4 làm tốt công tác phòng tránh 8 40 6 30 6 30 0 0 TNTT cho trẻ. Qua bảng tổng hợp trên ta thấy: 7/20
- Giáo viên đã nắm được nội dung giáo phòng chống TNTT cho trẻ nhưng chưa đầy đủ. Bước đầu có kiến thức về chăm sóc sức khỏe sơ cứu, xử trí ban đầu phòng tránh TNTT cho trẻ, nhưng trong khi thực hiện giáo viên còn lúng túng. Nội dung lồng ghép tích hợp giáo dục phòng tránh TNTT vào các môn học. Từ việc phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng, tôi đã đưa ra một số giải pháp cụ thể sau: 3.Giải pháp thực hiện sáng kiến: 3.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu nắm rõ những nguyên nhân gây TNTT trong trường MN. Có rất nhiều những nguyên nhân gây TNTT cho trẻ ở trường MN như: - Bỏng: Là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, lửa, các TNTT da do các tia cực tím, phóng xạ, điện, chất hóa học, hoặc tổn thương phổi do khói xộc vào đó là trường hợp bỏng. Trường hợp này cũng có thể xảy ra với trẻ trong thời gian ở trường nếu trẻ tiếp xúc với cây nước nóng, hoặc trẻ xuống bếp tiếp xúc với lửa, ở gần nơi công trình đang sửa chữa gò hàn hoặc trường bị cháy.. - Đuối nước: Là những trường hợp TNTT xảy ra do bị chìm trong nước dẫn đến ngạt thở do thiếu Oxy. Ở trường GV thường để chậu nước trong nhà vệ sinh, trường có bể chơi với cát và nước, bể nước khu vực bếp nếu không để ý trẻ cũng có thể bị đuối nước. - Điện giật: Là những trường hợp TNTT do tiếp xúc với điện gây nên hậu quả bị thương hay tử vong. Những ổ điện trong lớp, ngoài hiên vừa tầm với của trẻ hoặc trẻ kê ghế với lên để nghịch cũng rất nguy hiểm về tính mạng. - Ngã: Là TNTT do ngã, rơi từ trên cao xuống. Đây là trường hợp trẻ bị nhiều nhất ở các nhà trường vì trẻ hay vội vàng, thích chạy nhảy nếu sân, nền trơn trượt, mấp mô, hoặc trẻ leo trèo khi chơi đồ chơi ngoài trời cũng gây TNTT. - Ngộ độc: Là những trường hợp do hít vào, ăn vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc ngộ độc cần có chăm sóc của y tế (do thuốc, do hóa chất). Trường hợp này rất nguy hiểm ở trường mầm non vì trường là nơi tổ chức cho trẻ ăn bán trú nên nếu để trẻ bị ngộ độc thực phẩm thì sẽ xảy ra hàng loạt với trẻ. - Bạo lực, đánh nhau: Là hành động dùng vũ lực hăm dọa, hoặc đánh người của cá nhân hoặc nhóm người, cộng đồng khác gây tai nạn thương tích có thể tử vong, tổn thương. Hiện nay có nhiều GV do nóng nẩy cũng gây TNTT cho trẻ. - Hóc, sặc dị vật: Là TNTT khi trẻ dùng ĐDĐC nhỏ nhét vào miệng mũi, tai, họng hoặc ăn, uống nhồi nhét cũng bị hóc, sặc.. - Bị vật sắc nhọn đâm: Là TNTT khi trẻ nghịch, chơi với những đồ dùng đồ chơi sắc nhọn, gãy hỏng ..trẻ rất dễ bị đứt chân, tay hoặc do trẻ chưa ý thức 8/20
- được hậu quả của việc sử dụng ĐDĐC không đúng cách làm xây xát mặt, mắt, cơ thể của mình và của bạn .. 3.1. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch phòng, chống TNTT cho trẻ Xây dựng kế hoạch là một trong các nhiệm vụ của công tác quản lí bảo vệ an toàn, phòng tránh tai nạn cho trẻ trong cơ sở giáo dục mầm non. Kế hoạch có tầm quan trọng đặc biệt, nó như kim chỉ nam, có tác dụng chỉ đạo, chỉ đường cho hoạt động thực hiện theo một con đường đã định sẵn. Nó như ngọn đèn pha dẫn lối cho chúng ta thực hiện công việc một cách khoa học. Vì vậy, nếu xây dựng được kế hoạch coi như đã thành công được một nửa công việc. Do vậy, ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch phòng, chống TNTT cho trẻ với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể như sau: a)Mục tiêu phấn đấu: -100% trẻ được đảm bảo an toàn tính mạng, không có TNTT xảy ra. -100% CB- GV-NV và học sinh trong trường được tuyên truyền phổ biến xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT một cách cụ thể có hiệu quả. -Nhân viên y tế làm công tác y tế trường học nắm vững kiến thức, nội dung về xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT, thường xuyên bổ sung đồ dùng phục vụ việc sơ cấp cứu nếu xảy ra TNTT ở trường. -100% CB-GV-NV trong nhà trường được cung cấp những kiến thức về yếu tố, nguy cơ và cách phòng chống TNTT, sơ cấp cứu thông thường nhằm đảm bảo xử lý ngay và kịp thời khi có tai nạn xảy ra. -Tổ chức lồng ghép trong các chủ đề về giáo dục sức khoẻ cho trẻ, quản lý chăm sóc - giáo dục trẻ tốt trong các hoạt động; đồ dùng đồ chơi phải đảm bảo an toàn, tránh các vật dụng sắc nhọn... -Thường xuyên rà soát ĐDĐC đảm bảo an toàn. -Phối hợp với các bộ phận trong giờ đón trả trẻ để quản lý tốt SL hs đến trường. -100% trẻ không mang các vật sắc nhọn, nguy hiểm đến trường. -Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được chú trọng; có hợp đồng mua bán thực phẩm rõ ràng, các thực phẩm mua phải có nguồn gốc rõ ràng. Thực hiện dây chuyền chế biến đảm bảo vệ sinh đúnh quy trình. -Phấn đấu hằng năm nhà trường đạt Danh hiệu "Trường học an toàn, phòng tránh tai nạn thương tích". b) Nhiệm vụ cụ thể: -Thành lập Ban chỉ đạo xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT. -Xây dựng kế hoạch trường học an toàn phòng chống TNTT tại nhà trường. 9/20
- -Bổ sung mua sắm trang thiết bị cho phòng y tế, sẵn sàng xử trí kịp thời với những TNTT không may xảy ra. -Trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác phòng chống TNTT, trường học an toàn trong từng nhóm/lớp. -Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT. -Phối hợp với trạm y tế xã, vận động cha mẹ học sinh và học sinh tham gia tích cực tháng hành động vì trẻ em, tháng an toàn giao thông. -Huy động các thành viên trong nhà trường tham gia các hoạt động can thiệp giảm thiểu nguy cơ TNTT trong trường học. -Quan tâm đến môi trường học tập và sinh hoạt an toàn trong phòng, chống TNTT như: Không để sàn nhà, hiên chơi bị ướt, nhất là nhà vệ sinh; các cửa ra vào đóng mở phải cài chốt; cắt tỉa, chặt bớt cành cây xanh trong sân trường trong mùa mưa bão -Khắc phục các nguy cơ thương tích trong trường học, tập trung ưu tiên các loại thương tích thường gặp: do ngã hóc sặc, tai nạn giao thông, bỏng, điện giật, cháy nổ, ngộ độc thức ăn, xô đẩy nhau. -Có quy định về phát hiện và xử lý TNTT ở trường học, có phương án khắc phục các yếu tố nguy cơ gây TNTT như: không cho xe đi vào trường, đón trả trẻ đúng giờ -Thiết lập hệ thống camera, ghi chép theo dõi, giám sát và báo cáo xây dựng trường học an toàn phòng chống TNTT. -Tích hợp phòng chống TNTT vào trong các hoạt động giáo dục. -Tự đánh giá 50 nội dung của bảng kiểm trường học an toàn, phòng, chống TNTT của nhà trường năm học 2022-2023. 3.2.Biện pháp 3: Thường xuyên tổ chức tuyên truyền giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho GVNV về xây dựng trường học an toàn, phòng, chống TNTT. Phòng tránh TNTT cho trẻ trong trường MN được coi là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và rất cần thiết đối với công tác CSGD trẻ hiện nay. GVNV là những người trực tiếp thực hiện mọi hoạt động CSNDGD trẻ trong trường MN. Nếu GVNV không được bồi dưỡng thường xuyên thì không thể có kiến thức và khó xử trí được các tình huống khi tai nạn xảy ra với trẻ. Do đó cần cung cấp kiến thức đúng và đầy đủ về các loại TNTT, nguyên nhân, cách phòng tránh, phương pháp xử lí hiệu quả khi TNTT xảy ra cho trẻ. Từ đó GVNV có được ý thức đề phòng, kiểm tra các yếu tố nguy cơ xẩy ra tai nạn một cách thường xuyên và có biện pháp khắc phục kịp thời. 10/20
- Với trách nhiệm là nhân viên y tế - Phó ban thường trực phòng chống TNTT của nhà trường, tôi đã tham mưu với Hiệu trưởng - Trưởng ban tạo điều kiện cho GVNV tham gia đầy đủ các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức về: đảm bảo an toàn, phòng, chống TNTT trong trường học; công tác VSATTP; công tác phòng cháy chữa cháy; công tác y tế,... do Sở hoặc Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Tổ chức bồi dưỡng tập huấn kiến thức tại trường về phòng tránh TNTT, cách xử trí, sơ cứu thương, phòng tránh một số TNTT gặp như: gãy xương, hóc, sặc dị vật, đuối nước... Bản thân tôi cũng tham gia học tập nghiêm túc các lớp tập huấn do Huyện, Phòng giáo dục tổ chức. (MC1: Hình ảnh tham gia lớp tập huấn phòng cháy chữa cháy) Tham mưu với đồng chí hiệu phó chỉ đạo các đồng chí Tổ trưởng chuyên môn thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn lồng ghép cho GVNV tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến mất an toàn cho trẻ, từ đó lập kế hoạch dự báo các tình huống không đảm bảo an toàn cho trẻ có thể xảy ra và các biện pháp khắc phục. Đưa ra các tình huống TNTT từ đơn giản đến phức tạp thường xảy ra để nghiên cứu, trao đổi và rút kinh nghiệm, tìm hướng giải quyết. Tổ chức tập huấn về công tác phòng chống TNTT, sơ cấp cứu ban đầu cho trẻ tại trường. (MC2: Hình ảnh giáo viên thảo luận, tập huấn về công tác phòng chống TNTT, sơ cấp cứu ban đầu cho trẻ) Ngoài ra tôi còn phối hợp với GVNV tham khảo các tài liệu có liên quan đến xây dựng môi trường an toàn, phòng, chống, xử trí các tai nạn thương tích thường gặp phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi và tình hình thực tế tại các nhóm lớp do mình phụ trách; tham khảo các tài liệu của Trung tâm y tế, các văn bản chỉ đạo của ngành, các bài viết tuyên truyền phòng, tránh TNTT, tự nghiên cứu và học tập. Từ những trao đổi, thảo luận, qua buổi tập huấn thực hành sơ cứu phòng tránh TNTT cho trẻ và những tài liệu mà nhà trường cung cấp. Nắm được kiến thức, kỹ năng cơ bản về cách phòng chống và xử lý các loại dịch bệnh cũng như một số các tai nạn thường xảy ra với trẻ. 3.3.Biện pháp 4: Phối hợp với giáo viên nhân viên thường xuyên loại bỏ đồ dùng, đồ chơi có nguy cơ gây TNTT cho trẻ. Tất cả mọi TNTT xảy ra đối với trẻ đều có nguyên nhân. CSVC, trang thiết bị ĐDĐC là nguyên nhân trực tiếp khách quan tác động đến an toàn tính mạng trẻ trong cả một ngày hoạt động ở trường. Mọi kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành phòng chống TNTT cho trẻ dù có tốt đến đâu nhưng điều kiện CSVC yếu kém thì tai nạn của trẻ vẫn xảy ra ngoài tầm kiểm soát. Để đảm bảo an toàn cho trẻ trong nhà trường, ngay từ đầu năm học tôi đã chỉ đạo cán bộ giáo viên, nhân 11/20
- viên trong nhà trường thường xuyên tổ chức kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, ĐDĐC của bộ phận mình phụ trách, kịp thời phát hiện các yếu tố có nguy cơ gây mất an toàn cho trẻ và báo cáo lại với ban giám hiệu nhà trường để có kế hoạch khắc phục. Ví dụ: * Đối với ĐDĐC phục vụ trong các nhóm, lớp: Tôi chỉ đạo khảo sát đánh giá việc sắp xếp, bố trí các góc hoạt động có phù hợp với diện tích lớp hay không? trang trí phòng nhóm lớp có đảm bảo tính thẩm mỹ và độ an toàn cho trẻ? Các đường dây điện, ổ cắm điện có cao xa tầm tay trẻ? Các kệ giá góc kê có quá cao, có dễ di chuyển khi tổ chức các hoạt động cho trẻ? Việc sắp xếp đồ dùng đồ chơi có gọn gàng ngăn nắp, vừa tầm tay của trẻ hay không? Bên cạnh đó tôi còn chỉ đạo GV phải thường xuyên vệ sinh ĐDĐC hàng ngày, hàng tuần để đảm bảo vệ sinh phòng chống dịch bệnh và loại bỏ những đồ chơi gây nguy hiểm cho trẻ... * Đối với cơ sở vật chất ngoài lớp học: - Tôi khảo sát đánh giá số lượng đồ dùng đồ chơi ngoài trời có đủ cho trẻ hoạt động hay không? Đồ chơi nào cần sửa chữa, đồ chơi nào cần phải thay thế bổ sung thêm? Các khu vực hoạt động như: khu vận động cùng bé yêu; khu vườn rau của bé,...đã được quy hoạch, thiết kế phù hợp, có đảm bảo an toàn, sạch đẹp chưa? (MC3: Ảnh các cô quấn lại các cột sắt tránh gây mất an toàn cho trẻ) - Đối với bếp ăn bán trú, tôi kiểm tra nguồn thực phẩm cung cấp cho bếp ăn nhà trường có đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm? có thực hiện chế độ kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định không, các loại bát, đĩa, thìa có đảm bảo an toàn cho trẻ hay không? -Các khu nhà vệ sinh của trẻ có vệ sinh sạch sẽ, có thiết bị nào bị hư hỏng, xuống cấp cần thay thế, bổ sung hay không? -Phòng y tế có đủ trang thiết bị thiết yếu để sơ cứu ban đầu khi có TNTT xảy ra chưa? Có trang bị đủ số thuốc thông thường theo quy định và thay thế thuốc thường xuyên khi hết hạn sử dụng hay không? Ngày 29/12/2022, nhà trường đã đón đoàn kiểm định của Thành phố về công tác đánh giá chuẩn mức độ 2; trong đoàn có đồng chí của Sở y tế đi cùng kiểm tra về công tác y tế học đường, vệ sinh môi trường, phòng tránh tai nạn thương tích và đạt kết quả tốt. Từ kết quả khảo sát đánh giá này bản thân tôi đã thấy được những ưu điểm và những điểm còn hạn chế của công tác đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mình. Sau khi thực hiện giải pháp này kết quả đạt được như sau: 12/20

