SKKN Giúp học sinh học tốt môn Tự nhiên xã hội Lớp 3 chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng tiếp cận ứng dụng, trải nghiệm, sáng tạo
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Giúp học sinh học tốt môn Tự nhiên xã hội Lớp 3 chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng tiếp cận ứng dụng, trải nghiệm, sáng tạo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_giup_hoc_sinh_hoc_tot_mon_tu_nhien_xa_hoi_lop_3_chuong.docx
SKKN Giúp học sinh học tốt môn Tự nhiên xã hội lớp 3 chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Giúp học sinh học tốt môn Tự nhiên xã hội Lớp 3 chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng tiếp cận ứng dụng, trải nghiệm, sáng tạo
- 4 BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân nên đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt là việc đổi mới phương pháp dạy học khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 được bắt đầu thực hiện từ năm học 2020-2021 và năm học 2022-2023 là năm đầu tiên thực hiện đối với chương trình lớp 3. Trong các môn học ở bậc tiểu học của chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tự nhiên & Xã hội là môn học có tính tích hợp cao những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những phẩm chất, năng lực của học sinh. Thông qua môn học sẽ giúp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản ban đầu thiết thực về tự nhiên, xã hội, các mối quan hệ của con người xảy ra xung quanh các em; Hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng như quan sát, phân tích, so sánh, đối chiếu, đánh giá, tổng hợp tích hợp cho học sinh những kĩ năng cần thiết của cuộc sống. Ngoài ra, môn Tự nhiên & Xã hội còn hình thành và phát triển ở học sinh lòng yêu thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp và biết bảo vệ chúng; Hình thành cho học sinh lòng ham hiểu biết khoa học, thích tìm tòi, khám phá và sáng tạo. Học tốt môn Tự nhiên & Xã hội góp phần giúp các em học tốt các môn học khác. Bên cạnh các môn học khác như: Toán, Tiếng Việt thi môn Tự nhiên & Xã hội trang bị cho các em những kiến thức cơ bản của bậc học góp phần bồi dưỡng nhân cách toàn diện cho trẻ. Tuy nhiên, hiện nay ở các trường tiểu học nói chung và học sinh trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu nói riêng, học sinh chưa thực sự tìm được hứng thú khi học môn Tự nhiên & Xã hội. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do sự tác động của rất nhiều các yếu tố từ phía nhà trường, giáo viên, phụ huynh học sinh và bản th ân các em, chưa thực sự hiểu được tầm quan trọng và sự cần thiết của môn học trong chương trình tiểu học nên trong quá trình dạy và học, môn Tự nhiên & Xã hội bị coi như một môn phụ và chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Phụ huynh không quan tâm; Giáo viên lơ là, dạy “chay”, chưa thực sự đầu tư cho một tiết học Tự nhiên & Xã hội, việc dạy và học môn này chỉ mang tính chất hình thức Từ đó, làm cho các tiết học Tự nhiên & Xã
- 5 hội trở nên nhàm chán đối với học sinh, học sinh cảm thấy mệt mỏi, thờ ơ, không mấy hứng thú với kiến thức của môn học dẫn đến việc các em nắm kiến thức một cách thụ động và không biết cách áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn một cách khoa học, hợp lí những điều này đã làm cho quá trình dạy và học môn Tự nhiên & Xã hội chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn. Từ những cơ sở đã nêu trên, việc giúp học sinh học tốt môn Tự nhiên xã hội lớp 3 theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nó giúp cho học sinh phát triển toàn diện các năng lực, phẩm chất một cách tự nhiên, giúp cho các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau, từ đó các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng từ đó dẫn đến chất lượng môn học ngày một nâng cao. Với các lí do đó tôi mạnh dạn chọn sáng kiến “Giúp học sinh học tốt môn Tự nhiên xã hội lớp 3 chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo hướng tiếp cận ứng dụng, trải nghiệm, sáng tạo” II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến. Trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu, trong năm học 2022 - 2023, khối lớp 3 có tổng số 369 học sinh và biên chế thành 8 lớp, trung bình 46 học sinh/lớp. 1.1. Thuận lợi. * Về phía giáo viên : - Giáo viên được tập huấn đầy đủ về chương trình và sách giáo khoa môn Tự nhiên & Xã hội lớp 3 do Sở, phòng Giáo dục và Đào tạo, nhà trường tổ chức. - Về cơ sở vật chất thì nhà trường có đầy đủ các phòng học đảm bảo cho mỗi giáo viên một phòng để giảng dạy với các trang bị như mạng lan hoặc wifi đáp ứng được về dung lượng và tốc độ đường truyền. - Nguồn học liệu, bài giảng, .rất phong phú trên không gian mạng. Nếu đầu tư về thời gian và công sức thì các bài giảng sẽ cực kì phong phú, thu hút được học sinh. * Về phía học sinh: - Học sinh có phẩm chất, năng lực tốt, luôn mạnh dạn tự tin, hợp tác thảo luận trong các dự án học tập Các em ở địa bàn thành phố nên được cha mẹ quan tâm và đầu tư cho các em các trang thiết bị học tập đầy đủ như sách giáo khoa, sách bài tập, đồ dùng học tập ngoài
- 6 ra còn trang bị thêm thiết bị hiện đại như máy tính, máy tính bảng, đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 . - Một thuận lợi nữa là ở tuổi các em nhu cầu được giao tiếp, giao lưu, khám phá rất cao nên các em rất hứng thú với các hoạt động trải nghiệm, ứng dụng kiến thức kĩ năng vào thực tế. 1.2. Khó khăn * Về phía giáo viên : - Một số giáo viên công nghệ thông tin còn hạn chế, việc thiết kế và sử dụng hiệu ứng minh họa cho sự phát triển của thực vật, động vật khi giảng dạy còn gặp khó khăn. Vì trường nằm ở địa bàn thành phố nên không gian để học sinh trải nghiệm các dự án vẫn còn hẹp trong khuôn khổ nhà trường, nếu ra ngoài địa bàn của nhà trường việc đi lại của học sinh còn gặp khó khăn. - Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học ở một bộ phận giáo viên chưa thực sự được chú trọng. Vẫn còn tình trạng tổ chức dạy học theo phương pháp truyền thống, nặng về truyền thụ kiến thức một chiều, chưa chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin t rong việc ứng dụng, trải nghiệm, sáng tạo cho học sinh còn hạn chế. - Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh ngoài nhà trường cần rất nhiều các điều kiện: gia đình đi kèm, địa điểm, phương tiện, nên còn gặp nhiều khó khăn. * Về học sinh: - Đối với học sinh lớp 3 do vốn sống các em còn chưa nhiều nên việc vận dụng các kiến thức kĩ năng của các em còn rất hạn chế. Chính vì vậy, những kiến thức trừu tượng sẽ làm các em mơ hồ, khó hiểu. - Môn Tự nhiên & Xã hội là môn học có nhiều hình ảnh, màu sắc sinh động, hấp dẫn, có nhiều kiến thức lý thú, bổ ích và gần gũi với cuộc sống hằng ngày xung quanh các em. Tuy nhiên, mức độ hứng thú học tập đối với môn học ở học sinh lớp 3 chưa cao và chưa thực sự bền vững, cụ thể như sau: - Các em tích cực xây dựng bài trong tiết học, tiếp thu bài nhanh nhưng lại chưa biết cách áp dụng các kiến thức đã học vào đời sống một cách thích hợp. Trong nhiều
- 7 trường hợp còn lúng túng điều đó một phần nào khẳng định các em có học nhưng chưa thực sự yêu thích và nhận thức đầy đủ về môn học. + Thời gian ở nhà các em thường ít quan tâm tới môn Tự nhiên & Xã hội, chủ yếu dành thời gian cho môn Toán và tiếng Việt. Các em chưa thực sự hiểu được vai trò và tầm quan trọng của môn học đối với bản thân. + Mức độ hứng thú chưa được duy trì còn thể hiện ở việc nhiều học sinh trong giờ học môn Tự nhiên & Xã hội còn chưa chú ý nghe giảng, nói chuyện, làm việc riêng, lấy môn khác ra học, chưa tích cực thảo luận, làm bài theo nhóm - Học sinh phụ thuộc rất nhiều vào sách giáo khoa, chưa linh hoạt và tích cực trong tư duy, sáng tạo. Khi giáo viên giao nhiệm vụ, bài tập về nhà cho học sinh, các em chưa tích cực hoàn thành nhiệm vụ mà thường nhờ người thân làm hộ. * Về phụ huynh: - Do cha mẹ bận rộn quá nhiều công việc, mới chỉ tạo được điều kiện cho các con phương tiện học tập mà không thể hàng ngày kèm, theo sát các con học được nên một số phụ huynh có tư tưởng giao phó cho nhà trường, chưa sát sao trong việc cho các con vận dụng thực hành kiến thức đã học được ở trường vào cuộc sống hàng ngày ở nhà thông qua các phần Hoạt động ứng dụng. Để đánh giá được khách quan tôi đã tiến hành khảo sát về chất lượng và hứng thú học tập môn Tự nhiên & Xã hội ở 2 lớp 3 và 3 thu được kết quả như sau: Kết quả thống kê chất lượng đầu năm Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Lớp TSHS SL % SL % SL % 3A3 49 15 30,6 34 69,4 0 0 3A4 49 10 20,4 39 79,6 0 0 * Kết quả điều tra hứng thú của học sinh đầu năm: Thích học Học thụ động Không thích học LỚP TSHS Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 3A3 49 14 28,57 20 40,82 15 30,61 3A4 49 9 18,36 25 51,02 15 30,62
- 8 Nhìn vào bảng thống kê cho thấy chất lượng đầu năm không cao, số học sinh Hoàn thành tốt chiếm sấp sỉ 50%, tỉ lệ học sinh thích học môn Tự nhiên & Xã hội rất thấp chỉ có 18,36%. Để cải thiện về chất lượng và nâng cao hứng thú học tập của học sinh tôi đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp sau. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến. Giải pháp 1: Ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác tối đa học liệu điện tử để giúp học sinh tăng cường ứng dụng, trải nghiệm và sáng tạo. Giải pháp 2: Sử dụng không gian ngoài lớp học để tăng cường ứng dụng, trải nghiệm cho học sinh khi dạy và học Tự nhiên & Xã hội lớp 3. Giải pháp 3: Nâng cao chất lượng môn Tự nhiên và xã hội 3 bằng dạy học STEM để giúp học sinh trải nghiệm, sáng tạo. Giải pháp 4: Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong các giờ học Tự nhiên xã hội Trên cơ sở những giải pháp cơ bản trên, tôi đã đưa ra các biện pháp để thực hiện cụ thể như sau : Giải pháp 1: Ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác tối đa học liệu điện tử để giúp học sinh tăng cường ứng dụng, trải nghiệm và sáng tạo. Việc sử dụng công nghệ thông tin giúp học sinh học tập tốt cần phải được giáo viên chú trọng , phát huy. Tầm quan trọng, sự hiệu quả và ảnh hưởng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã được khẳng định bằng thực tiễn ở nước ta và trở thành xu thế tất yếu của giáo dục. Chính vì vậy, tôi đã khai thác kho học liệu số ngay từ những ngày đầu thực hiện chương trình Tự nhiên & Xã hội lớp 3 ... 1.1. Sử dụng học liệu số: Vậy học liệu số là gì? "Học liệu số (hay học liệu điện tử) là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: Giáo trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa khác" Học liệu số có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng:
- 9 - Ebooks và sách điện tử: Là tài liệu chứa các nội dung văn bản được biên tập, định dạng và xuất bản dưới dạng file điện tử. Ebooks và sách điện tử thường có khả năng tương tác và kết hợp với các phương tiện khác như hình ảnh, âm thanh và video. - Video giáo dục: Bao gồm các bài giảng, hướng dẫn, phóng sự, phim tài liệu, video trực tuyến và các chương trình giải trí có liên quan đến giáo dục. - Trò chơi giáo dục: Là các trò chơi được thiết kế để hỗ trợ việc học tập và rèn luyện các kỹ năng cần thiết cho các đối tượng học tập khác nhau. - Ứng dụng giáo dục: Nếu trước đây, chỉ là bảng, phấn, những chiếc máy tính với ổ cứng to cồng kềnh thì giờ đây lớp mầm non tương lai của chúng ta đang được hưởng những điều tuyệt vời từ khoa học. Và thậm chí là chính những người thầy, người cô, cũng đang sử dụng những dịch vụ, những phần mềm, hay ứng dụng trên máy tính, smartphone của mình để phục vụ cho công tác giảng dạy, nhằm đem lại những bài giảng tốt, hay nhất và hỗ trợ việc học tập và rèn luyện các kỹ năng cho người dùng. - Phần mềm học tập: Là các phần mềm đặc biệt thiết kế để hỗ trợ các hoạt động học tập như làm bài tập, ôn tập kiến thức, làm bài kiểm tra,... - Cơ sở dữ liệu: Là các nguồn tài nguyên trực tuyến như thư viện số, cơ sở dữ liệu tài nguyên giáo dục trực tuyến và các kho dữ liệu khác cung cấp cho người dùng nhiều tài liệu học tập và nghiên cứu. - Mạng xã hội giáo dục: Khai thác trên không gian mạng để phục vụ giáo dục thiết kế, để hỗ trợ việc giao lưu, chia sẻ kiến thức và học tập. - Các công cụ hỗ trợ học tập : Là các công cụ hỗ trợ việc học tập, bao gồm các phần mềm: ghi chú, công cụ tạo bài tập, kho dữ liệu sách Đối với chương trình Giáo dục phổ thông 2018 thì học liệu số không chỉ đơn thuần là một công cụ hỗ trợ mà còn là một phần không thể thiếu trong quá trình dạy và học: - Học liệu số cung cấp học tập và tài liệu: Công nghệ cho phép truy cập vào một loạt các tài nguyên giáo dục, bao gồm các bài giảng, tài liệu học tập, sách điện tử, video giáo dục, và nhiều hơn nữa. Nhờ công nghệ, giáo viên và học sinh có thể truy cập vào thông tin và kiến thức trên toàn thế giới một cách nhanh chóng và dễ dàng.
- 10 - Cải thiện giao tiếp giữa giáo viên và học sinh: Công nghệ đã giúp cho giáo viên và học sinh dễ dàng liên lạc và trao đổi thông tin với nhau một cách hiệu quả. Giáo viên có thể sử dụng email, tin nhắn, các ứng dụng trò chuyện và các nền tảng trực tuyến khác để giao tiếp với học sinh và cung cấp hỗ trợ. - Tăng tính tương tác và tính tham gia của học sinh: Công nghệ giúp tạo ra các trải nghiệm học tập tương tác và đa dạng hơn cho học sinh. Các ứng dụng giáo dục và nền tảng trực tuyến cung cấp các hoạt động học tập sáng tạo, trò chơi giáo dục, bài tập trực tuyến và các hình thức đánh giá khác để hỗ trợ học tập của học sinh. - Tăng cường kỹ năng sống cho học sinh: Công nghệ không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức mà còn giúp phát triển kỹ năng sống cần thiết, chẳng hạn như kỹ năng tìm kiếm thông tin, kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp. - Cải thiện chất lượng giáo dục: Công nghệ cũng cho phép các giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách hiệu quả hơn. Các ứng dụng giáo dục, phầm mềm được tích hợp một cách hiệu quả Thông qua internet, giáo viên và học sinh có thể tiếp cận được với hàng ngàn, hàng triệu tài liệu học liệu đa dạng và phong phú từ khắp nơi trên thế giới, giúp cho việc học tập trở nên đa dạng hơn, phong phú hơn. Vì vậy, công nghệ đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục hiện đại. Với nhận thức về học liệu số như ở trên, tôi đã tiến hành khai thác các dạng học liệu số trong quá trình dạy học môn Tự nhiên & Xã hội 3 như sau: - Sử dụng đủ và hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học tối thiểu theo qui định đối với bộ môn: Sách giáo khoa điện tử, video bài giảng, video minh họa, Cụ thể: 1.2. Khai thác triệt để sách giáo khoa, sách bài tập điện tử môn Tự nhiên & Xã hội: Trong năm học 2022 - 2023 trường Tiểu học Hồ Tùng Mậu sử dụng sách Tự nhiên & Xã hội 3 bộ sách Cánh diều. Trên trang điện tử Học 10 ( cập nhật đầy đủ sách giáo khoa điện tử với giao diện hết sức thân thiện, dễ sử dụng. * Sách giáo khoa Tự nhiên và xã hội 3 điện tử:
- 11 Tại giao diện này, giáo viên, học sinh có thể tới ngay được bài học cần tìm hiểu thông qua phần Mục lục. Trong mỗi bài học đều có kênh hình với các tranh ảnh minh họa thuyết minh các nội dung bài học hết sức sinh động. Chẳng hạn, bài 15. Cơ quan tiêu hóa (Sách Tự nhiên và xã hội 3, trang 83): Trong bài này, phần kiến thức trừu tượng nhất đã được sách giáo khoa điện tử minh họa bằng sơ đồ hết sức cụ thể giúp học sinh thấy được từng bộ phận của cơ quan tiêu hóa trong cơ thể người.
- 12 Trong quá trình dạy học Tự nhiên và xã hội 3, tôi đã khai thác tối đa sách giáo khoa điện tử này để giúp các em được trải nghiệm bằng những hình ảnh trực quan cụ thể để từ đó các em lĩnh hội được những kiến thức cơ bản của bài học một cách tường minh nhất tránh hiện tượng học vẹt. * Sách giáo khoa Tự nhiên và xã hội lớp 3 điện tử: Có thể nói đây là một trong các sản phẩm điện tử hỗ trợ cực kì hiệu quả quá trình dạy học. Ở đây, các bài tập được thiết kế dưới dạng bài tập tương tác như: kéo thả, điền khuyết, nối,...giúp học sinh có những trải nghiệm, vận dụng, sáng tạo theo kinh nghiệm vốn sống của từng em. Chính các bài tập này giúp học sinh như vừa chơi vừa học, mỗi bài tập đều có thể làm lại nhiều lần không phải tẩy xóa như trên vở bài tập giấy. Nó giúp các em tự tin, hứng thú hơn mỗi khi làm bài tập của môn học. Ví dụ: Bài 2. Một số ngày kỉ niệm, sự kiện của gia đình. Bài này, trong vở bài tập Tự nhiên và xã hội lớp 3 thiết kế thành 4 bài tập tương tác với các dạng bài: - Câu 1. Điền khuyết - Câu 2. Điền khuyết - Câu 3. Nối - Câu 4. Điền khuyết
- 13 Nội dung bài 3 được thiết kế dạng bài tập nối để học sinh thực hiện các thao tác tương tác trực tiếp trên bài. Khi tôi tiến hành sử dụng sách giáo khoa, vở bài tập Tự nhiên và xã hội 3 trong dạy và học tôi nhận thấy học sinh rất hào hứng học tập, các em hăng say, miệt mài thực hiện các yêu cầu bài học từ đó các em nắm chắc, nhớ lâu các kiến thức kĩ năng mình vừa học và có ý thức hơn vận dụng, sáng tạo vào cuộc sống hàng ngày của các em. 1.3. Khai thác và sử dụng tài liệu trên trang web Youtobe ( : Đây là trang web phổ thông và cực kì phong phú về nội dung dưới dạng video. Ở trang này giáo viên có rất nhiều gợi ý về các chủ đề giảng dạy của các bài dạy Tự nhiên và xã hội 3 dưới dạng các bài giảng, đoạn video khoa học hoặc các tình huống “có vấn đề” để giáo viên có thể lựa chọn. Đối với trang web này tôi đã sử dụng các đoạn video khoa học để giúp các em được trải nghiệm những kiến thức về tự nhiên, xã hội trong chương trình một cách cụ thể, trực quan, sinh động bằng hình ảnh và âm thanh sống động nhất. Ví dụ. Chủ đề 4. Thực vật và động vật Bài 12. Các bộ phận của thực vật và chức năng của chúng (Sách giáo khoa Tự nhiên và xã hội 3, trang 61)
- 14 Để giúp cho học sinh nắm được một cách khái quát và cụ thể về các bộ phận của cây, tôi đã sử dụng video giới thiệu về các bộ phận của cây dưới dạng hoạt hình rất sinh động. Với đoạn video này học sinh được tận mắt thấy từng bộ phận cụ thể và cá c chức năng của chúng. Với trải nghiệm này học sinh rất hào hứng và hiệu quả . Một hình ảnh trong video các bộ phận của thực vật Hoặc đối với học sinh lớp 3 thì các chức năng của lá cây sẽ là vô cùng trừu tượng, khó hiểu. Nhưng nếu các em được trải nghiệm, được tận mắt nhìn thấy các chức năng tận bên trong của lá cây thì các em sẽ hiểu và hoàn toàn nắm được các quy trình quang hợp, hô hấp và thoát hơi nước của lá cây. Với đơn vị kiến thức này tôi giúp các em trải nghiệm bằng một video hoạt hình của “Kiến Guru” minh họa: Hình ảnh minh họa video chức năng của lá cây

