SKKN Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS

docx 29 trang Chăm Nguyễn 27/06/2026 130
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_bien_phap_to_chuc_cac_hoat_dong_trai_nghiem_sang_tao_nh.docx
  • pdfSKKN Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS

  1. 4.2. Những nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết: Để giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS một cách bài bản và hoàn thiện hơn. Thực tế trong vài năm trở lại đây, trường chúng tôi đã quan tâm đến hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) trong hoạt động dạy học cũng như hoạt động giáo dục, chẳng hạn như trường đã tổ chức các câu lạc bộ: Văn học dân gian, tiếng Anh giao tiếp học đường, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục ngoài giờ lên lớp, võ thuật, thư viện xanh , thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cấp trường, tham dự thi cấp thành phố, cấp quốc gia.., tổ chức các hoạt động dã ngoại: tham quan các di tích lịch sử như, K9 Đá Chông, Khu di tích cây đa Bác Hồ (thôn Yên Bồ-xã vật Lại) , Lăng Bác tham quan các mô hình sản xuất nhỏ ở địa phương, tổ chức các diễn đàn Bước đầu thực hiện, kinh nghiệm chưa nhiều song thực sự đã có những chuyển biến tích cực. Thông qua các hoạt động này các em được khám phá về bản thân, phát huy năng lực sáng tạo của mình, hình thành phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác với bạn bè đề tổ chức hoạt động và đặc biệt đem lại cho các em sự hứng thú khi tham gia. Hình thức tổ chức chưa đồng bộ, chưa phong phú, đa dạng. Việc tổ chức còn mang tính nhất thời, chưa thường xuyên, chưa thực sự được coi trọng từ việc lập kế hoạch, triển khai hoạt động cho đến việc đánh giá, đúc rút kinh nghiệm. Việc xử lý kết quả chưa được chú trọng, chưa thúc đẩy được sự say mê, sáng tạo của học sinh. 4.3. Điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp. - Xây dựng các nội dung, cách thức hoạt động khởi động phù hợp kiến thức, năng lực giáo viên, học sinh, đặc điểm tình hình thực tế, gắn với thực tiễn địa phương. -Lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, tích cực: Phương pháp khởi động tâm trí, phương pháp khởi động tâm trí và cơ thể, .... - Giáo viên là người hướng dẫn, thiết kế hoạt động, hỗ trợ học sinh. - Học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập (ở nhà và trên lớp). - Kiểm tra, đánh giá: Không chỉ đơn thuần là đánh giá kết quả các em đạt được mà còn phải đánh giá quá trình thực hiện, mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh, đồng thời theo dõi sự tiến bộ ở các em. - Chuẩn bị tốt các thiết bị dạy học. 4.4. Các bước thực hiện giải pháp Biện pháp 1: Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong công tác chủ nhiệm nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh ở trường THCS.
  2. Biện pháp 2: Tổ chức HĐTNST vói chủ đề “Những món đồ hữu ích”, giúp học sinh nâng cao ý thức rèn luyện bản thân. Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động thảo luận, xây dựng “Bảng quy tắc gọn gàng” giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm tự chủ. Biện pháp 4: Tổ chức hoạt động thảo luận , xây dựng “Bảng quy tắc chi tiêu” giúp học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm, tự chủ. Biện pháp 5: Tổ chức hoạt động sáng tạo “Heo xinh tiết kiệm” giúp học sinh nâng cao năng lực quản lí tài chính cá nhân. các hoạt động khởi động thú vị như vậy. 5. Những thông tin cần được bảo mật: Không 6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Ban Giám hiệu nhà trường: Ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh trong việc áp dụng sáng kiến. - Giáo viên: + Năng lực chuyên môn vững vàng, sáng tạo, linh hoạt, cần nắm vững kiến thức, kỹ năng sư phạm để thiết kế và tổ chức các hoạt động khởi động phù hợp với nội dung bài học và đặc điểm học sinh. + Yêu nghề, nhiệt tình, tâm huyết với học sinh, tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong mỗi tiết học. + Chuẩn bị chu đáo về nội dung, phương tiện, đồ dùng dạy học cho hoạt động khởi động. - Học sinh: Tích cực, chủ động, cởi mở, tự tin, hợp tác, có ý thức học tập tốt. - Kinh phí: Không 7. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: * Đối với học sinh: Cải thiện khả năng giao tiếp của học sinh. Thông qua việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh có cơ hội phát triển kỹ năng giao tiếp trong môi trường học tập và sinh hoạt. Phát triển kỹ năng hợp tác và làm việc nhóm giúp học sinh hiểu được tầm quan trọng của việc hợp tác, chia sẻ trách nhiệm và đóng góp vào mục tiêu chung. Kết quả là, học sinh có khả năng làm việc nhóm tốt hơn, biết cách làm việc hiệu quả với đồng đội và phát huy sức mạnh của sự hợp tác. Khuyến khích sáng tạo và tư duy phản biện. Những kỹ năng này đóng góp vào quá trình phát triển năng lực tư duy và sự sáng tạo của học sinh.
  3. Tăng cường sự tự tin và tinh thần trách nhiệm. Qua các hoạt động trải nghiệm giúp học sinh nâng cao sự tự tin và phát triển tinh thần trách nhiệm, từ đó chuẩn bị cho các thử thách trong học tập và cuộc sống. * Đối với giáo viên: Tạo dựng mối quan hệ gắn kết giữa học sinh và giáo viên. Trong vai trò chủ nhiệm, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp giáo viên và học sinh gần gũi hơn, tạo ra mối quan hệ tin cậy và thân thiện. Học sinh cảm thấy thoải mái chia sẻ ý kiến, khó khăn và mong muốn của mình với thầy cô, qua đó cải thiện quá trình giáo dục. Những hoạt động này cũng giúp giáo viên hiểu rõ hơn về sở thích, năng lực và nhu cầu phát triển của từng học sinh, từ đó có thể hỗ trợ tốt hơn trong việc phát triển toàn diện của học sinh. * Đối với phụ huynh: Phụ huynh cũng ghi nhận sự thay đổi rõ rệt ở con em mình sau khi tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Học sinh trở nên tự tin, giao tiếp tốt hơn, và có thái độ tích cực hơn trong học tập. Phụ huynh đánh giá cao phương pháp giáo dục này vì nó không chỉ giúp con em họ phát triển năng lực học thuật mà còn phát triển các kỹ năng sống cần thiết. 8. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: - Tôi đã chia sẻ “Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS” cho các đồng nghiệp và nhận được sự phản hồi tích cực từ đồng nghiệp. - Tôi rất vui khi nhận được những lời khen ngợi từ Ban giám hiệu nhà trường, đánh giá tích cực từ cha mẹ học sinh và học sinh vì đã giúp các em phát triển được năng lực của bản thân, không những tạo ra được sản phẩm có ích ( Trò chơi, video, đồ dùng học tập, ) mà còn hạn chế được thời gian các em sử dụng các thiết bị điện tử có hại cho sức khỏe và đời sống. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Vật Lại, ngày 20 tháng 03 năm 2025 Người nộp đơn Trương Công Trường
  4. TRƯỜNG THCS VẬT LẠI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc CƠ SỞ --------------- ------- Vật Lại, ngày 24 tháng 03 năm 2025 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ - Tên sáng kiến: “Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS”. - Tác giả sáng kiến: Trương Công Trường - Họ tên người đánh giá: Chu Thị Thanh Hà - Cơ quan công tác: Trường THCS Vật Lại – Ba Vì – Hà Nội Nhận xét 1. Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm. 1.1. Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm - Đề tài giải quyết một vấn đề có tính cấp thiết của thực tiễn giáo dục. - Phù hợp với thực tế nhà trường - Phù hợp với đặc thù môn học và các hoạt động giáo dục. - Phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục. Điểm đánh giá: 20 điểm 1.2. Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp ): 5 điểm - Có tính mới, sáng tạo, độc đáo, phù hợp với lý luận thực tiễn giáo dục - Có tài liệu, số liệu chân thực, có tài liệu tham khảo và trích dẫn - Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp - Lập luận logic, chặt chẽ, văn phong sáng sủa, kết luận có tính khái quát, giá trị khoa học. Điểm đánh giá: 4 điểm 1.3. Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo, hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới ): 20 điểm - Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả giáo dục trong nhà trường. - Đề xuất được các phương pháp giáo dục và giảng dạy có hiệu quả. Điểm đánh giá: 18 điểm 2. Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ
  5. thực hiện và khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm. 2.1. Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm. - Có số liệu minh chứng cụ thể trước và sau khi thực hiện đề tài cho thấy kết quả chất lượng giáo dục môn học đã có sự thay đổi, nâng cao rõ rệt; Điểm đánh giá: 9 điểm 2.2. Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị. 20 điểm. - Dễ phổ biến; - Dễ ứng dụng, chỉ ra được những điều kiện cơ bản để ứng dụng; - Phù hợp với trình độ chung của giáo viên và cán bộ quản lí; - Có khả năng mở rộng nghiên cứu và ứng dụng; Điểm đánh giá: 17 điểm 3. Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm - Nếu áp dụng sẽ cho kết quả bền vững, ít hao phí công sức, thời gian của giáo viê; - Tiết kiệm chi phi phí tài chính. Điểm đánh giá: 18 điểm 4. Nội dung 4. Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ, bố cục logic): 5 điểm. -. Cách trình bày khoa học, đúng thể thức văn bản - Bố cục logic hợp lí Điểm đánh giá 4: 5 điểm Tổng số điểm sáng kiến: 91 điểm Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên) - Đạt □ - Không đạt □ Người đánh giá (Họ, tên và chữ ký) Chu Thị Thanh Hà
  6. MỤC LỤC Nội dung Trang I. Đặt vấn đề 1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến 1 2. Mục tiêu của sáng kiến 1 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2 II. Nội dung 2 1. Thực trạng 2 2. Giải pháp thực hiện 3 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp, sáng kiến tại đơn vị 14 4. Hiệu quả của sáng kiến 15 5. Tính khả thi 16 6. Kinh phí thực hiện đề tài 16 III. Kiến nghị, đề xuất. 16 1. Kết luận 16 2. Kiến nghị và đề xuất 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18 MỤC LỤC 19 PHỤ LỤC 20
  7. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS” I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Trong những năm gần đây, đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và có xu hướng mang tính toàn cầu để các quốc gia nâng cao nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội nhằm đảm bảo phát triển bền vững. Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến vượt bậc về kinh tế xã hội, đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững. Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội nước ta đã đề ra mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trách nhiệm, có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục và những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mỹ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống. Năng lực giao tiếp và hợp tác (NLG T&HT) đóng vai trò, vị trí quan trọng của con người trong xã hội hiện đại. Không chỉ là cầu nối gắn kết mối quan hệ giữa mọi người mà năng lực giao tiếp và hợp tác còn là chìa khóa dẫn lối thành công trong mọi lĩnh vực. Tương tác với người khác sẽ tạo cơ hội trao đổi và phản ánh về ý tưởng. Hành động xây dựng ý tưởng để chia sẻ thông tin hoặc lập luận để thuyết phục người khác là một phần quan trọng trong học tập và làm việc. Giao tiếp và hợp tác tốt sẽ giúp chúng ta chia sẻ trách nhiệm, hỗ trợ lẫn nhau để phát huy tốt tiềm năng của từng người. Sự liên kết, phối hợp ăn ý nhau sẽ tạo ra được nhiều giá trị hơn so với việc tận dụng sức mạnh của từng người riêng lẻ. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) giữ vai trò rất quan trọng trong dạy học và giáo dục. Trong chương trình GDPT 2018, HĐTNST là hoạt động giáo dục bắt buộc, vì qua hoạt động này sẽ giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn, từ đó hình thành
  8. những phẩm chất cần thiết như: Yêu nước, nhân ái, trách nhiệm, trung thực, chăm chỉ.Việc đưa hoạt động trải nghiệm vào trong chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nội dung giáo dục với thực tiễn đời sống xã hội, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động. Để phát huy được năng lực giao tiếp và hợp tác cũng như hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học và giáo dục ở nhà trường, ngoài đội ngũ quản lí, các giáo viên bộ môn thì vai trò giáo viên chủ nhiệm cũng hết sức quan trọng. Muốn những hoạt động này đạt hiệu quả cao, giáo viên chủ nhiệm phải luôn có ý thức đổi mới và vận dụng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau. Trên thực tế, vài năm trở lại đây, công tác chủ nhiệm lớp ở các trường phổ thông đã có một số đổi mới. Giáo viên chủ nhiệm đã lồng ghép hoạt động trải nghiệm trong việc giáo dục học sinh. Qua các hoạt động đổi mới đó, học sinh cảm thấy say mê, hứng thú và tham gia tích cực. Tuy nhiên, các hoạt động trải nghiệm đó dưới những hình thức còn đơn giản, chủ yếu là hoat đông ngoài giờ lên lớp, ngoại khoá.., các nội dung liên quan đến các hoạt động giáo dục trong công tác chủ nhiệm còn ít, thời gian tổ chức các hoạt động giáo dục nếu có thường vào các dịp lễ, tết và cách thức tổ chức chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa có những cơ sở lý thuyết, mô hình thực tiễn nào chỉ dẫn cụ thể. Trong quá trình giảng dạy và chủ nhiệm lớp, chúng tôi đã trăn trở, tìm tòi các biện pháp với nhiều cách tiếp cận khác nhau với mong muốn đạt hiệu quả tốt nhất đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh, góp phần đổi mới dạy học phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội của đất nước và xu thế giáo dục hiện đại. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành lựa chọn và áp dụng đề tài: “Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm THCS” 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. - Thời gian: Từ tháng 9/2024 đến tháng 5/2025. - Đối tượng nghiên cứu: Công tác chủ nhiệm của GVCN và năng lực giao tiếp của học sinh trường THCS. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh bằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh ở trường THCS.
  9. II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của nội dung/giải pháp cần nghiên cứu. Để giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS một cách bài bản và hoàn thiện hơn. Thực tế trong vài năm trở lại đây, trường chúng tôi đã quan tâm đến hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) trong hoạt động dạy học cũng như hoạt động giáo dục, chẳng hạn như trường đã tổ chức các câu lạc bộ: Văn học dân gian, tiếng Anh giao tiếp học đường, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục ngoài giờ lên lớp, võ thuật, thư viện xanh , thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cấp trường, tham dự thi cấp thành phố, cấp quốc gia.., tổ chức các hoạt động dã ngoại: tham quan các di tích lịch sử như, K9 Đá Chông, Khu di tích cây đa Bác Hồ (thôn Yên Bồ-xã vật Lại) , Lăng Bác tham quan các mô hình sản xuất nhỏ ở địa phương, tổ chức các diễn đàn Bước đầu thực hiện, kinh nghiệm chưa nhiều song thực sự đã có những chuyển biến tích cực. Thông qua các hoạt động này các em được khám phá về bản thân, phát huy năng lực sáng tạo của mình, hình thành phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác với bạn bè đề tổ chức hoạt động và đặc biệt đem lại cho các em sự hứng thú khi tham gia. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc giáo dục phát triển NLGT HT cho HS bằng HĐ TNST trong nhà trường nói chung, trong công tác chủ nhiệm nói riêng vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau: Hình thức tổ chức chưa đồng bộ, chưa phong phú, đa dạng. Việc tổ chức còn mang tính nhất thời, chưa thường xuyên, chưa thực sự được coi trọng từ việc lập kế hoạch, triển khai hoạt động cho đến việc đánh giá, đúc rút kinh nghiệm. Việc xử lý kết quả chưa được chú trọng, chưa thúc đẩy được sự say mê, sáng tạo của học sinh. * Về phía giáo viên Trong những năm gần đây, giáo viên đã quan tâm đến việc đổi mới trong công tác chủ nhiệm, đặc biệt là việc đổi mới các hình thức tổ chức các hoạt động liên quan đến các vấn đề trong công tác chủ nhiệm, trong đó có việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong các giờ sinh hoạt lớp, chào cờ, hướng nghiệp, tổ chức câu lạc bộ, lao động Tuy nhiên việc tổ chức vẫn còn những hạn chế: - Chưa có kế hoạch cụ thể, còn mang tính nhất thời, chưa thường xuyên. - Giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh nhưng chưa chú trọng tới phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho các em. Điều đó không phù hợp với một chương trình định hướng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, cần phải thay đổi.
  10. - Chưa tích cực hóa một cách hiệu quả những hoạt động của chủ thể học sinh - Chưa tạo được cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong không khí hào hứng của lớp học và thái độ dễ hợp tác của những người cùng tham gia - Chưa tạo cho học sinh nhu cầu muốn hoạt động, muốn được bộc lộ - Chưa thể hiện được vai trò quan trọng của giáo viên trong việc hướng dẫn, tổ chức các hoạt động - Cụ thể: Giờ sinh hoạt lớp thường được tổ chức như một tiết học khô khan, thậm chí có phần cứng nhắc. Nội dung thường chủ yếu tập trung nhận xét, đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong các hoạt động thực hiện nề nếp của các lớp, phê bình những học sinh vi phạm nội quy của nhà trường, chưa chú trọng vào việc tổ chức các nội dung theo chủ đề tuần, tháng, người điều hành các hoạt động là giáo viên chủ nhiệm hoặc bí thư đoàn trường. Những tiết sinh hoạt như vậy chưa tạo cơ hội cho học sinh được tham gia các hoạt động để phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác. Việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp nói chung, tư vấn hướng nghiệp nói riêng chưa hiệu quả. Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng của việc giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS qua công tác chủ nhiệm bằng phiếu điều tra khảo sát GVCN trong trường THCS Nội dung khảo sát như sau: Phiếu khảo sát thực trạng giáo dục của giáo viên - Họ và tên giáo viên - Giảng dạy môn Chủ nhiệm lớp . Hãy trả lời câu hỏi dưới đây bằng cách đánh dấu (x) vào ô trống trong bảng có câu trả lời phù hợp với thầy /cô Câu hỏi: ? Thầy/cô có thường xuyên tổ chức đa dạng các biện pháp giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác bằng HĐ TNST cho HS lớp mình chủ nhiệm không? ? Thầy/ cô đã thực sự hài lòng với hiệu quả giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS bằng HĐ TNST ở lớp mình chủ nhiệm hay chưa?
  11. • Kết quả thu được như sau: Nội dung khảo sát Thường xuyên Không thường xuyên Hiệu quả giáo dục Hài lòng Chưa hài lòng 12/33 21/33 10/33 23/33 36,37% 63,63% 30,30% 69,70% Từ kết quả khảo sát đó, chúng tôi nhận thấy: Phần lớn GVCN chưa đầu tư thời gian và tâm huyết vào việc giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS lớp mình. Hoặc cũng có những giáo viên tâm huyết hơn họ có giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS thông qua tiết sinh hoạt lớp, nhưng thực hiện không thường xuyên và bài bản. Cũng chính vì thế mà phần lớn các GVCN chưa hài lòng với hiệu quả giáo dục nội dung này cho HS lớp mình. * Về phía học sinh: Học sinh hiện nay kĩ năng sống còn nhiều hạn chế. Trong quá trình giáo dục chúng ta mới chỉ quan tâm đến việc dạy văn hoá mà chưa quan tâm nhiều tới việc dạy kĩ năng cho các em như kĩ năng tương trợ nhau, giao tiếp, diễn đạt trước đám đông học sinh ngày càng lười hoạt động hơn ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác của các em. Học sinh thường được chỉ định, phân công tham gia một cách bị động, các em chưa được chủ động tham gia tất cả các khâu trong tiến trình hoạt động. Chưa chủ động tương tác với thầy, vẫn duy trì lối học thụ động, ngại hợp tác, ngại thực hành, ngại sáng tạo, thậm chí ngại giao tiếp, bày tỏ quan điểm chính kiến của mình. Nhiều em chưa thực sự quan tâm, hứng thú với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, chưa tham gia tích cực vào các hoạt động do giáo viên tổ chức, hướng dẫn để trải nghiệm, để kiến tạo những giá trị mới. Để có kết luận xác đáng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu thực trạng học tập của HS. Cụ thể, chúng tôi đã phát phiếu điều tra cho HS ở nhiều khối lớp khác nhau trong trường để các em phát biểu những cảm nhận và nêu ý kiến, nguyện vọng của mình về việc giáo dục phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác qua công tác giáo dục của người GVCN.