Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng một số trò chơi giúp học sinh hứng thú học tập môn Tiếng Việt Lớp 1
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng một số trò chơi giúp học sinh hứng thú học tập môn Tiếng Việt Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_van_dung_mot_so_tro_choi_giup_hoc_sinh.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng một số trò chơi giúp học sinh hứng thú học tập môn Tiếng Việt Lớp 1.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Vận dụng một số trò chơi giúp học sinh hứng thú học tập môn Tiếng Việt Lớp 1
- 3 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến. 2.1. Giải pháp thứ nhất: Giáo viên nghiên cứu đặc điểm tâm lí của học sinh. Bản thân tôi nhận thấy rằng để giúp học sinh có được hứng thú học tập môn Tiếng Việt thì trước hết người giáo viên cần nắm được đặc điểm cơ bản về tâm lí của học sinh, bởi những lí do sau: Nói đến đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học thì vấn đề đầu tiên đó là quá trình nhận thức của các em. Quá trình nhận thức giúp các em có những hiểu biết nhất định về thế giới xung quanh, về bản thân mình, từ đó thể hiện thái độ và có những hành vi, hoạt động tham gia vào các mối quan hệ xã hội trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới các mức độ nhận thức khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Mức độ thấp là nhận thức cảm tính, mức độ cao là nhận thức lí tính. Hai quá trình này có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung, chi phối lẫn nhau. Ở lứa tuổi HS lớp 1 thì nhận thức cảm tính chiếm ưu thế hơn nhận thức lý tính. Các em dễ tiếp thu qua tri giác và những tác động trực tiếp được trẻ quan sát. Tuy nhiên, trẻ vẫn thích quan sát cái gì sặc sỡ, hấp dẫn và khả năng ghi nhớ tốt, đặc biệt là ghi nhớ máy móc. Trẻ dễ nhớ những gì tác động trực tiếp. Các em có thể hành động trên đối tượng đó. Do đó, trẻ thích tham gia các hoạt động mang tính thực tiễn. Về khả năng trí tuệ, các em đã có khả năng lĩnh hội các khái niệm ban đầu, cơ bản trên cả lĩnh vực tri thức khoa học và đạo đức mặc dù phải dựa trên cơ sở là những sự vật, hiện tượng trực quan. Các em đã bước đầu biết so sánh, phân tích, nhận biết các giá trị của hành vi đạo đức, nhận thức được những hành vi đạo đức đúng và bày tỏ thái độ với những hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức. Ở lứa tuổi này, nhu cầu học tập của các em không chỉ đơn thuần là hoạt động nhận thức mà nó còn gắn liền với nhu cầu vui chơi. Nhu cầu vui chơi của các em chiếm một vị trí rất lớn. Đặc biệt ở các em xuất hiện nhu cầu lớn về tự đánh giá mình và đánh giá người khác trong cuộc sống, trong học tập. Mặc dù lúc đầu việc đánh giá này của trẻ chỉ mang tính bề ngoài, đánh giá bạn chỉ thông qua các hoạt động tập thể hoặc qua sự đánh giá của cô giáo. Về sau, việc đánh giá bạn còn được dựa trên dư luận của tập thể. Điều này có ý nghĩa lớn, nó đánh dấu một bước lớn trong sự phát triển nhân cách của các em. Về hứng thú, ở lứa tuổi này các em có hứng thú riêng biệt với từng bộ môn. Tuy nhiên, nếu khéo lồng các nội dung dạy học vào các trò chơi thì dễ lôi cuốn các em vào quá trình học tập một cách tích cực, tự giác mà chính các em không nhận thấy điều đó. Đối với các trò chơi các em thường hứng thú với các trò chơi có quy tắc, đòi hỏi sự cố gắng, sự khéo léo nhất định, giàu trí tưởng tượng, nhất là các trò chơi được đánh giá bằng cách tính điểm. Tóm lại, để tổ chức các hoạt động học tập cho các em có hiệu quả thì mỗi giáo viên phải nắm vững những đặc điểm chung nhất, cơ bản nhất về tâm sinh lí
- 4 của lứa tuổi này để vận dụng nó mà tổ chức các trò chơi học tập tương thích với mục đích dạy học. Đây là cả một vấn đề không đơn giản đòi hỏi một quá trình lâu dài, kiên trì và sáng tạo của người giáo viên. 2.2. Giải pháp thứ hai: Giáo viên cần nghiên cứu, nắm vững nguyên tắc, cấu trúc và các bước tiến hành trò chơi. Để tổ chức trò chơi học tập một cách hiệu quả đòi hỏi người giáo viên cần nắm vững một số vấn đề sau: a) Chuẩn bị trò chơi: * Nghiên cứu tài liệu: Điều đầu tiên để thực hiện đạt hiệu quả về việc tổ chức trò chơi Tiếng Việt cho học sinh lớp 1, tôi đã đọc các tài liệu, sách báo, tạp chí giáo dục có liên quan đến nội dung đề tài. Chính sự nghiên cứu, tìm tòi ở tài liệu giúp cho các tiết học Tiếng Việt ở lớp 1 có sử dụng trò chơi đạt kết quả tốt. * Nghiên cứu thực tế: - Thông qua các tiết dự giờ tôi tranh thủ trao đổi, tư vấn với đồng nghiệp về nội dung các trò chơi phục vụ cho môn Tiếng Việt lớp 1 để cùng áp dụng và cùng nhau tổng kết, đúc rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học. - Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm(Soạn giáo án đã thông qua các tiết dạy) để kiểm tra tính khả thi của đề tài. * Nghiên cứu đối tượng học sinh: Thông qua các tiết dạy thực tế trên lớp, bản thân tôi đã phân loại các đối tượng học sinh, tìm hiểu xem học sinh thường yếu ở mạch kiến thức nào để lựa chọn trò chơi cho phù hợp giúp các em củng cố khắc sâu kiến thức để hiểu bài một cách chắc chắn. b)Những nguyên tắc khi tổ chức trò chơi. Trò chơi học tập là trò chơi mà luật của nó bao gồm các quy tắc gắn với kiến thức, kĩ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung bài học, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi. Thông qua chơi học sinh được vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống của trò chơi. Do đó, học sinh được thực hành luyện tập các kĩ năng môn Tiếng Việt được đưa vào trò chơi. Để các trò chơi góp phần mang lại hiệu quả cao trong giờ học, khi xây dựng và thiết kế trò chơi tôi thường tuân thủ các nguyên tắc sau: - Phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian trong mỗi tiết học. - Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục. - Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học.
- 5 - Trò chơi phải phù hợp với tâm, sinh lý học sinh lớp 1, phù hợp với khả năng người hướng dẫn và cơ sở vật chất của nhà trường. - Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh. c) Cấu trúc của trò chơi học tập. - Tên trò chơi - Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm hình thành, ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào. Mục đích của trò chơi sẽ quy định hành động chơi được thiết kế trong trò chơi. - Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi sẽ được sử dụng trong trò chơi. - Nêu lên luật chơi: Chỉ rõ quy tắc của hành động chơi quy định đối với người chơi, quy định thắng thua của trò chơi. - Số người tham gia chơi: Cần chỉ rõ số người tham gia chơi. d) Các bước tổ chức trò chơi. - Giới thiệu trò chơi - Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rõ luật chơi cho học sinh. - Tiến hành cho học sinh chơi thử và qua đó nhấn mạnh luật chơi - Cho học sinh chơi - Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham gia chơi, giáo viên có thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần tránh. - Đánh giá kết quả: Sau mỗi lần chơi, giáo viên cần nhận xét, đánh giá kết quả của học sinh. Để đánh giá đúng thực chất của cuộc chơi, giáo viên cần phải thống kê ra được những ưu điểm, nhược điểm của từng đội tham gia chơi. Dựa vào yêu cầu, nội quy chơi, kết quả cuộc chơi, giáo viên đánh giá cuộc chơi và phân loại thắng thua thật công bằng và rõ ràng. Giáo viên phải hết sức lưu ý vấn đề này vì đôi khi có giáo viên nêu yêu cầu và luật chơi rất khắt khe nhưng khi đánh giá lại đại khái và qua loa hoặc không công bằng vì vậy làm cho học sinh mất phấn khởi, hào hứng, đôi khi các em còn biểu lộ sự phản ứng đối với sự đánh giá đó và không chấp nhận kết luận của giáo viên. 2.3. Giải pháp thứ ba: Ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế trò chơi học tập môn Tiếng Việt. Đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin (CNTT) có tác dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục ở tất cả các cấp học, ngành học. CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học các môn. Trong công tác giảng dạy, CNTT giúp
- 6 cho bài học sinh động hơn, nhờ đó mà học sinh (HS)có hứng thú học tập hơn, tiếp thu bài tốt hơn. Song song đối với những môn học khác, môn Tiếng Việt có một vị trí hết sức quan trọng. Nó hình thành và phát triển các kỹ năng: nghe, đọc, nói, viết cho học sinh. Đó là những công cụ rất cần thiết để học sinh học tập những môn học khác. Nếu như ở các môn học khác rèn luyện cho các em kỹ năng tính toán, tư duy, sáng tạo... thì môn Tiếng Việt góp phần hình thành ở học sinh tính cách chăm chỉ, cần cù, cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Học sinh hiểu biết sâu rộng nắm quy tắc nói, viết... Làm thế nào để các em nắm kiến thức, phương pháp học tập một cách say mê, hứng thú để kết quả học tập cao hơn thì cần phải có trò chơi với tinh thần: "Học mà chơi - chơi mà học". Vì vậy, tổ chức trò chơi học tập trong các tiết học cực kỳ quan trọng. Nó tạo một không khí vui tươi, phấn khởi gây hứng thú tích cực, chủ động học tập của HS. Thực tế trong một tiết học, học sinh lớp Một chóng mệt mỏi, mất tập trung. Bởi vậy chúng ta tổ chức những trò chơi gắn với nội dung bài học để các em học tập đạt kết quả tốt hơn. Để tiết dạy hấp dẫn, hứng thú với học sinh thì giáo viên cần không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức về công nghệ thông tin nhằm phục vụ cho công tác dạy – học.Nếu HS được tham gia vào các trò chơi bổ ích và lí thú, thì đó là điều kì diệu với các em. Có rất nhiều phần mềm tiện ích hỗ trợ cho người giáo viên thiết kế một bài dạy hoặc một trò chơi học tập như : Powerpoint, Violet, Presenter, Ispring Suite 9. Việc thiết kế các trò chơi học tập trên các phần mềm này tương đối đơn giản, thuận lợi cho giáo viên và mang lại nhiều hứng thú học tập cho HS nhờ hình ảnh, màu sắc, âm thanh sinh động, đa dạng; giao diện đẹp mắt, thân thiện, phù hợp với tâm sinh lý của HS lớp 1. Sau đây là một số trò chơi tôi đã ứng dụng CNTT để thiết kế và tổ chức: Ví dụ 1:Bài 17: gi, trang 34- TV1 (Tập Một), tôi thiết kế phần kiểm tra bài cũ qua trò chơi khởi động như hình dưới.
- 7 Cụ thể như sau: thông qua các hiệu ứng trình chiếu của phần mềm powerpoint, slide này có thể chuyển động theo ý đồ của GV. Tôi bấm từng hiệu ứng xuất hiện: lần thứ nhất tên trò chơi (GV phổ biến luật chơi, cách chơi), lần thứ hai bức tranh có mũi tên xuất hiện chỉ vào các sự vật trong tranh – HS đoán từ, lần thứ ba từ ghế g, lần thứ tư gạch chân tiếng g chứa âm đã học trong tuần. Học sinh thứ nhất đọc và phân tích tiếng đã được gạch chân mà tôi không cần nêu yêu cầu. Tiếp tục HS thứ hai phân tích tiếng, từ trong những bức tranh gợi ý khác đến hết trò chơi. Như vậy HS tập trung hơn, phần kiểm tra bài đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, tôi còn sử dụng trò chơi “Hái hoa”, “Hái táo” , “Hái dừa” để các em cảm thấy mới lạ và hứng thú hơn. Hình ảnh học sinh chơi trò chơi Hái dừa
- 8 Ví dụ 2: Bài 67: on, ot, tôi xây dựng trò chơi “Nhìn hình đoán chữ” Trò chơi này được sử dụng vào giữa hoặc cuối tiết học. Nội dung trò chơi như sau: Học sinh nhìn vào hình sau đó nói nhanh tiếng hoặc từ có chứa âm hoặc vần vừa học. Con ngan Cụ thể tôi sử dụng 4 hình ảnh kèm 4 đáp án có chứa âm hoặc vần vừa học. Sau đó cho hình ảnh hiện, tôi yêu cầu học sinh đoán sau đó mới bấm đáp án.Với trò chơi này, tôi nhận thấycác em rất hứng thú tham gia, từ đó giờ học đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, tôi còn xây dựng rất nhiều trò chơi như “Hộp quà bí mật”, “Ngôi sao may mắn”, “Giúp thỏ về nhà”, ở các bài học khác nhau tránh tạo hung thú học tập cho HS.
- 9 2.4. Giải pháp thứ tư: Tăng cường sử dụng và tự làm đồ dùng dạy học. a)Với giáo viên: Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học là yếu tố quan trọng, nó có tác dụng phụ trợ đắc lực cho người giáo viên khi tiến hành tổ chức trò chơi học. Để khắc phục tình trạng khó khăn về thiết bị dạy học thì người giáo viên phải chủ động, linh hoạt, tạo thêm đồ dùng dạy học như: *Tích cực tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh về đồ dùng, đồ chơi học tập. - Tuyên truyền thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm học; - Trao đổi qua hình thức liên lạc điện tử hoặc gặp gỡ trực tiếp; - Mời phụ huynh tham dự một số giờ học và hoạt động giáo dục có sử dụng đồ dùng, đồ chơi trong dạy học sau đó tọa đàm với họ về hiệu quả của ĐDDH đem lại khi sử dụng. Cha mẹ sẽ trực tiếp quan sát và cảm nhận được sự hứng thú của con em mình khi được tham gia vào các trò chơi học tập. * Giáo viên tích cực tự làm đồ dùng, đồ chơi. - Tôi tiến hành theo các bước sau: + Nghiên cứu kĩ càng nội dung và yêu cầu cần đạt đối với học sinh qua từng bài học. + Dự kiến đồ dùng cần thiết có thể sử dụng cho trò chơi. + Lập kế hoạch về nguyên liệu, cấu tạo và cách làm đồ dùng. + Trao đổi với đồng nghiệp để có thêm sự tư vấn cần thiết sau đó tôi thực hiện làm đồ dùng. Đặc biệt, tôi quan tâm tới việc cải tiến, nâng cấp bộ đồ dùng dạy học đã có trong bộ thiết bị đã qua nhiều năm sở dung (được cấp trước đây)cho phù hợp với trò chơi mà mình định tổ chức. Chẳng hạn: Để tiện dụng và linh hoạt trong sử dụng đồng hồ, giáo viên nên cải tiến bằng cách làm vòng quay kì diệu, Vòng quay mặt trờivới nhiều kiểu dáng và mẫu mã khác nhau như thế sẽ giúp các em chơi không bị nhàm chán vì lặp lại. Hoặc việc tận dụng những nguyên liệu dễ kiếm và phế liệu an toàn như huy động học sinh sưu tầm và thu gom nguyên liệu như giấy bìa, chai, lọ; giấy bọc hoa, bọc quà, nilong, bìa carton, để làm đồ dùng dạy học, giảm được đáng kể chi phí. b) Với cha mẹ HS: Sau khi thực hiện tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh về vai trò và tầm quan trọng của trò chơi trong học tập, tôi đã huy động và khích lệ phụ huynh trực tiếp tham gia làm đồ dùng, đồ chơi.
- 10 Thông thường với những đồ dùng cần chi phí đáng kể và nhiều công sức thì tôi cùng phối hợp với cha mẹ học sinh để tranh thủ sự hỗ trợ về kinh phí và công thực hiện làm đồ dùng. Để huy động được sự tham gia hiệu quả của cha mẹ học sinh, GV cần thực hiện một số việc sau: - Thông tin về sự cần thiết của đồ chơi để nhận sự phản hồi và đồng thuận của cha mẹ HS - Lập bản chi tiết về đồ chơi: tên gọi, cấu tạo, nguyên liệu, môn bài sử dụng,....Tư vấn, hỗ trợ tự trong quá trình làm đồ dùng dạy học thông qua gợi ý cụ thể như: Sưu tầm tranh ảnh có ở các loại sách, báo, họa báo, tạp chí, bìa lịch, ; tận dụng các vật dụng như: vỏ hộp, can, chai nhựa, dây thép, dây vải, đinh, sử dụng các vật liệu sẵn có ở địa phương như gỗ, tre, nứa, rơm,.... c) Với học sinh: Với HS lớp 1 thì các em chỉ có khả năng làm được những đồ đơn giản, thông thường tôi khích lệ học sinh tự làm một số đồ dùng phục vụ cho trò chơi như: Sưu tầm tranh ảnh, phế liệu an toàn, tô màu, cắt hình, tô màu, xé dán tranh,... Khích lệ các em tham gia cùng làm với GV và cha mẹ mình để phát huy tính tích cực, sự hợp tác, chia sẻ. Qua đó các em sẽ tích cực hơn khi tham gia vào trò chơi vì đây là sản phẩm mà chính tay các em cùng làm với bố mẹ của mình. Tổ chức các nhóm, tổ trong lớp thi đua làm và trưng bày đồ dùng tự làm; tuyên dương động viên kịp thời các cá nhân và tổ nhóm tiêu biểu. Hình ảnh phụ huynh làm đồ dùng dạy học cùng các con học sinh tại lớp
- 11 2.5. Giải pháp thứ năm:Thiết kế trò chơi học tập theo tiến tiến trình giờ học môn Tiếng Việt. a)Tổ chức trò chơi ở phần Khởi động:Để khởi động trước khi vào bài mới tôi thường tổ chức cho học sinh tham gia các trò chơi như: Hái cam,Trò chơi chuyền hoa, Truyền điện, Bắn tên... Sau đây tôi xin giới thiệu cách tổ chức một trò chơi trong phần khởi động như sau: Trò chơi 1: TRUYỀN HOA *Mục đích: Giúp HS: - Ôn tập lại kiến thức đã học đồng thời giới thiệu bài mới. - Luyện phản ứng nhanh, khả năng quan sát, nhận xét, đánh giá chính xác, tiết kiệm thời gian. * Các bước tiến hành: Bước 1: Chuẩn bị : - GV chuẩn bị những bông hoa có gắn từ, câu...ở mặt sau của bông hoa. Bước 2: Tổ chức trò chơi: - Giáo viên bắt nhịp cho học sinh hát một bài hát bất kỳ và đưa bông hoa cho bạn ngồi đầu bàn. Cả lớp vừa hát vừa chuyền bông hoa đến các bạn khác.Bài hát dừng ở đâu thì người cầm bông hoa ngay lúc đó sẽ đọc từ, câu giáo viên đã gắn sau bông hoa.Học sinh đọc được sẽ được thưởng bông hoa đó.Cứ như vậy cho đến khi trò chơi kết thúc. Bước 3: Tổng kết trò chơi: GV tuyên dương khen thưởng cho bạn nào đọc đúng, đọc to và rõ ràng. Ví dụ: Khi dạy bài 28: t –th (Sách TV tập 1/ 52).Tôi chuẩn bị 5 bông hoa, mỗi bông hoa ghi 1 tiếng, từ: ngó, nhà bà, bố mẹ, nghỉ hè, ở quê.
- 12 Trò chơi 2 : VÒNG QUAY KÌ DIỆU (Áp dụng dạy các bài âm, vần ): *Mục đích: Giúp HS: - Luyện đọc, viết những từ ứng dụng có chứa vần đang học. - Rèn luyện kĩ năng quan sát . - Phát triển kĩ năng phân tích và suy luận. * Các bước tiến hành Bước 1: Chuẩn bị : - GVchuẩn bị một hình tròn bằng nhựa hoặc bìa cứng có trục ở giữa, trên trục gắn một mũi tên bằng bìa cứng. Trên hình tròn có chia các ô ghi vần cần ôn. - HS: Bảng con,phấn. Bước 2: Tổ chức trò chơi: - GV chia lớp thành các nhóm có số lượng thành viên bằng nhau. - Các nhóm oẳn tù tì xem nhóm nào được quay trước. Mũi tên dừng ở vần nào, GV sẽ đọc một câu hỏi mà đáp án có chứa vần vừa quay vào, các nhóm bàn bạc tìm xem đó là từ nào và viết vào bảng. Khi có hiệu lệnh, các nhóm phải giơ bảng. Nhóm nào tìm được đúng từ được 10 điểm - Sau 2 lượt chơi nhóm nào nhiều điểm nhất sẽ giành chiến thắng. Bước 3: Tổng kết trò chơi: GV tuyên dương khen thưởng cho nhóm nào tìm được nhiềuvần nhất. Ví dụ: Bài 65: iên - iêt ( TV tập1/ 118 ) b)Tổ chức trò chơi ở phần Luyện tập - Mở rộng vốn từ. Trò chơi 1 : GHÉP TRANH VỚI TỪ TƯƠNG ỨNG *Mục đích:Giúp HS: - Học sinh nhận biết và đọc nhanh các từ ngữ ứng dụng đã học. Rèn tính nhạy bén cho học sinh - Bồi dưỡng vốn từ cho học sinh, rèn kĩ năng phán đoán sự vật, hiện tượng dựa vào những dấu hiệu được gợi ý * Các bước tiến hành: Bước 1: Chuẩn bị : - Một số tranh (ảnh) theo bài học trong sách giáo khoa, một số thẻ từ (ghi sẵn). Bước 2: Tổ chức trò chơi: - Phát tranh và thẻ từ cho các nhóm. - Nêu yêu cầu các nhóm thi đua ghép các tranh (ảnh) với các từ tương ứng. - Nhóm nào ghép đúng và nhanh hơn thì thắng cuộc.
- 13 Ví dụ: Khi dạy bài 31: ua- ưa(Sách TV tập 1/ 58), GV cho HS thi ghép nhanh tiếng với hình tương ứng ( dưa đỏ, quả dừa, rùa, cà chua, đũa, sữa.) Học sinh thực hành chơi. Giáo viên nhận xét, tuyên dương Hình ảnh trò chơi ghép tranh

