Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn Toán Lớp 4
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn Toán Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giup_hoc_sinh_sua_loi.doc
Bìa.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn Toán Lớp 4
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 Học sinh rất khó khăn khi xác định số tự nhiên lớn nhất mà tử số và mẫu số của một phân số cùng chia hết để sau khi rút gọn được phân số tối giản. Khả năng nhận biết, vận dụng dấu hiệu chia hết của số tự nhiên chưa tốt nên việc phát hiện ra mẫu số chung gặp khó khăn, nhất là đối với những phân số có mẫu số lớn. Khi so sánh phân số, học sinh hay nhầm trường hợp so sánh các phân số có cùng tử số (phân số nào có mẫu số lớn hơn thì phân số đó lớn hơn) Việc thực hiện các phép tính giữa phân số với phân số, phối hợp giữa phân số với số tự nhiên còn nhiều nhầm lẫn và dài dòng. 2.2. Thành công - hạn chế. Đối tượng nghiên cứu có những thành công là chỉ rõ được các lỗi sai của học sinh thường mắc khi thực hiện các phép tính rút gọn, quy đồng, so sánh, cộng, trừ, nhân, chia phân số, giải toán có lời văn về phân số và đưa ra một số giải pháp khắc phục các lỗi sai đó. Từ đó các em học tập có tiến bộ rõ rệt khi làm toán phân số. Hạn chế : Giáo viên chưa đổi mới phương pháp, hình thức dạy học một cách triệt để. Còn chú ý nhiều đến việc trình bày kiến thức. Các kỹ năng sư phạm tập chung vào giảng giải. Tập trung vào việc dạy rập khuôn theo chương trình, sách giáo khoa, không chú ý đến sự tiếp thu của học sinh. Dẫn đến học sinh tiếp thu kiến thức thụ động. Các em tập trung vào việc nhớ, luyện tập và làm theo. Một số tiết học giáo viên chỉ tập trung một số học sinh có năng lực, chưa giành cho đối tượng học sinh hạn chế. Cho nên phần lớn học sinh chưa được tham gia hoạt động. Điều này làm cho các em cảm thấy chán nản. 2.3. Mặt mạnh - mặt yếu Mặt mạnh: Trong quá trình thực hiện sáng kiến này bản thân tôi đã được rất nhiều đồng nghiệp trong trường tạo điều kiện giúp đỡ, phần nào tháo gỡ khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động dạy và học, xây dựng quy tắc cộng, trừ, nhân, chia phân số trong tiết bài mới, tiết luyện tập và cách khắc phục những sai lầm của học sinh khi thực hiện các phép tính với phân số. Cộng (trừ) phân số Muốn nhân phân số Khi chia phân số Ta phải quy đồng Phải làm sao đây Biến lại thành nhân Giữ nguyên mẫu số Kết quả có ngay Phân số sau thành Cộng (trừ) tử là xong. Nhân trên, nhân dưới. Phân số đảo ngược. Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 3
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 Mặt yếu: là học sinh trong khối trình độ không đồng đều, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, nhiều gia đình kinh tế khó khăn, nhà lại ở xa trường, ít có điều kiện quan tâm đến việc học tập của con em mình. Phụ huynh học sinh trình độ văn hóa thấp nên không hướng dẫn được các em học tập khi ở nhà. Dẫn đến có em không nắm vững được tính chất cơ bản của phân số, quy tắc tính bốn phép tính về phân số. Nên việc vận dụng giải pháp của đề tài đưa ra còn hạn chế. 2.4. Các nguyên nhân và yếu tố tác động... Qua thực tế dạy học, các phép tính với phân số ở lớp 4 là loại toán khó, rất phức tạp, phong phú, đa dạng và rất nhiều kiến thức áp dụng vào thực tế cuộc sống. Dạy học phân số là một nội dung tương đối mới mẻ với học sinh lớp 4. Mặc dù được giới thiệu từ lớp 2 nhưng chỉ dừng ở mức độ nhận biết qua hình ảnh trực quan về ; ; ; học sinh chưa gọi tên phân số. Học sinh chỉ quen với các bài toán, tính toán với các số tự nhiên. Vì vậy làm tính và giải toán với các phân số là hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 4. Cụ thể: - Tên gọi phân số, tử số mẫu số, ý nghĩa phân số, các khái niệm phân số tối giản, rút gọn phân số, quy đồng mẫu số, quy đồng tử số,.... - Cách viết phân số, cách trình bày phép tính, cách làm tính cộng, trừ, nhân, chia,.... Cách suy luận các dữ kiện trong các bài toán phân số cũng có khác và trừu trượng, khó hiểu hơn đối với số tự nhiên học sinh đã quen thuộc. Giáo viên chưa tạo cho học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, có trách nhiệm và có hứng thú đối với học toán phân số. Cả thầy và trò chưa chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong dạy và học; chưa phát triển năng lực học toán theo từng đối tượng học sinh; chưa tạo ra môi trường học tập thân thiện và hợp tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh; sử dụng hợp lí các thiết bị dạy học toán phân số chưa phù hợp với học sinh. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về trực trạng mà đề tài đã đặt ra. Phân số là một loại số mới biểu thị một hay nhiều phần bằng nhau của đơn vị. Phân số là một mảng kiến thức quan trọng của tuyến kiến thức trọng tâm Số học. Tuy nhiên, với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học, việc lĩnh hội những kiến thức là vấn đề không đơn giản. Đặc biệt với học sinh trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ thuộc vùng xã khó khăn, việc lĩnh hội kiến thức lại càng khó khăn hơn nhiều. Tôi tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh của 2 lớp, lớp 4A (trường chính) và lớp 4B (phân hiệu Sơn Thọ) của trường. Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 4
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 Đối với giáo viên : Tôi đưa ra một số câu hỏi trao đổi với hai giáo viên, lớp 4A (cô giáo Lí thị Sen) và 4B (thầy Nguyễn Thanh Nhàn) như sau: - Khi dạy phần phân số, đồng chí thấy học sinh tiếp thu thư thế nào? Trả lời: Phân số là phần khó trong toán 4. Học sinh nhầm lẫn ở phần rút gọn, quy đồng phân số. - Khi dạy học về phân số, học sinh thường mắc những sai lầm nào? Trả lời: Không biết trình bày bài giải, không biết rút gọn hay quy đồng để được phân số hay phép tính một cách đơn giản nhất, trình bày phép tính sai, không xác định đúng danh số, chưa hiểu rõ ý nghĩa phân số, nhầm lẫn giữa nhân và cộng, thực hiện phép chia phân số chưa chính xác.... Đối với học sinh : Vẫn còn khá nhiều những lỗi sai khi các em thực hiện các phép tính với phân số. Những lỗi sai đó một phần do năng lực của một bộ phận học sinh nhưng cũng có một số học sinh có khả năng tư duy nhanh vẫn mắc phải. Tôi đã tiến hành kiểm tra vở ghi của học sinh. Việc kiểm tra được tiến hành sau khi học sinh học xong bài luyện tập trang 137. Số lượng vở được kiểm tra : 15 quyển Số lượng bài tập kiểm tra : 10 bài gồm: Bài 1, 2 trang 122 (Luyện tập) Bài 3 trang 130 Bài 3 trang 126 Bài 5 trang 132 Bài 1, 3 trang 128 (Luyện tập) Bài 1 trang 137 Bài 2, 3 trang 129 Kết quả như sau: Số lượng Số bài làm Số bài không Số vở bài tập Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu làm 15 150 bài 76 bài= 50,6% 69 bài = 46,1% 5 bài =3,3 % quyển Số bài không đạt yêu cầu hầu hết là dạng bài rút gọn rồi tính, giải toán liên quan đến ý nghĩa của phân số. Như vậy nhìn chung chất lượng về dạy và học phân số ở lớp 4 đã đạt yêu cầu, nhưng ở mức thấp và không đồng đều. Mặc dù các bài toán trên hầu hết là những bài toán đơn giản. Điều đó phản ánh phần nào việc dạy và học chưa tận dụng triệt để những khả năng sẵn có trong học sinh. Hơn nữa kết quả trên tuy Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 5
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 đạt yêu cầu nhưng lại không đồng đều nhau. Có em làm đúng hầu hết các bài tập, có em làm sai và sai rất nhiều. Thực trạng trên tôi thấy cần phải tìm ra các giải pháp khắc phục những sai lầm của học sinh khi làm toán. 3. Giải pháp, biện pháp: 3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Giúp bản thân tôi cùng đồng nghiệp của mình phần nào tháo gỡ khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động dạy và học xây dựng quy tắc cộng, trừ, nhân, chia phân số trong tiết bài mới, tiết luyện tập và cách khắc phục những sai lầm của học sinh khi thực hiện các phép tính với phân số. 3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp 3.2.1. Các bài về phân số được phân phối trong chương trình học kì II lớp 4 với mục tiêu: Bước đầu giúp học sinh nhận biết về phân số qua hình ảnh trực quan. Biết đọc, viết phân số; tính chất cơ bản của phân số; biết rút gọn, quy đồng mẫu số các phân số, so sánh hai phân số. Biết cộng, trừ, nhân, chia hai phân số dạng đơn giản (mẫu số không vượt quá 100) 3.2.2. Nội dung dạy phân số và các phép tính với phân số lớp 4 giúp học sinh: Nhận biết khái niệm ban đầu về phân số; biết đọc, viết các phân số có tử số và mẫu số không quá 100; nhận biết tính chất cơ bản của phân số; nhận ra phân số bằng nhau; biết sử dụng dấu hiệu chia hết khi rút gọn một phân số để được phân số tối giản; biết quy đồng mẫu số hai phân số trong trường hợp đơn giản. Biết so sánh hai phân số cùng mẫu số, khác mẫu số; biết viết các phân số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại. Biết thực hiện phép cộng, phép trừ hai phân số có cùng mẫu số hoặc không cùng mẫu số, cộng một phân số với số tự nhiên, một số tự nhiên trừ đi một phân số và ngược lại. Biết cách nhân hai phân số, nhân phân số với số tự nhiên. Biết chia phân số cho phân số, biết chia phân số cho số tự nhiên khác 0. Biết tính giá trị biểu thức các phân số có không quá ba dấu phép tính Tìm một thành phần chưa biết trong phép tính (như đối với số tự nhiên). Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 6
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 3.2.3. Những giải pháp mới đã tiến hành. a. Giải pháp 1: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những sai lầm của học sinh trong quá trình làm toán về phân số. Là một bộ phân trong chương trình toán Tiểu học, dạng toán về phân số là một thể loại mới mẻ và rất phức tạp với học sinh lớp 4. Các em thực sự làm quen trong thời gian rất ngắn (Học kì II lớp 4). Việc rèn luyện, hình thành, củng cố kĩ năng, kĩ xảo của học sinh ở loại toán này hầu như chưa có. Chính vì vậy học sinh không thể tránh khỏi những khó khăn, sai lầm. Qua thực tế giảng dạy và khảo sát học sinh ở một số lớp, tôi thấy sai lầm của học sinh khi làm toán với phân số do những nguyên nhân sau: a.1. Khi làm toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa linh hoạt. VD: Bài 3 (trang 128, Toán 4): Rút gọn rồi tính: a, 3 + 2 , b, 4 + 18 c, 15 + 6 15 5 6 27 25 21 Học sinh rất lúng túng không biết trình bày bước rút gọn như thế nào, chỉ một số ít học sinh biết trình bày. Có học sinh thực hiện tính luôn nên mẫu số rất lớn. Một số học sinh chỉ rút gọn một phân số, một số học sinh chưa quen cách rút gọn nhẩm nên trình bày cả bước rút gọn trong bài làm nên bài toán không gọn. Một số lại nhầm lẫn trong khi trình bày bước rút gọn với cấu trúc phép toán nên dẫn đến sai về ý nghĩa phép toán. * Giáo viên hướng dẫn học sinh: Vận dụng các kiến thức liên quan về: Rút gọn phân số, quy đồng phân số, thực hiện cộng phân số có cùng mẫu số. Giáo viên cho học sinh nhắc lại kiến thức liên quan trên, giúp các em trình bày bài qua câu hỏi gợi mở: Trong các phép tính đã cho, các phân số nào là phân số tối giản? Các phân số nào rút gọn được? - Em rút gọn phân số đó bằng cách nào? - Rút gọn xong em thực hiện phép tính như thế nào? - Sau đó giáo viên đi quan sát từng em, giúp các em trình bày bài đúng như sau: a, 3 + 2 = 1 + 2 = 3 b, 4 + 18 = 2 + 2 = 4 15 5 5 5 5 6 27 3 3 3 Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 7
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 c, 15 + 6 = 3 + 2 = 21 + 10 = 31 25 21 5 7 35 35 35 a.2. Học sinh không nắm vững kiến thức cơ bản : VD: Bài 1c trang 128 (Toán 4) : 12 + 7 + 8 đây là phép cộng các phân 27 27 27 số cùng mẫu số nhưng học sinh lại đi quy đồng mẫu số, làm cho bài toán trở nên phức tạp hơn nhiều. * Giáo viên hướng dẫn học sinh: - Các phân số trên đã cùng mẫu số chưa ? - Ta thực hiện cộng các phân số có cùng mẫu số như thế nào? Học sinh thực hiện phép tính đúng là: 12 + 7 + 8 = = 1 27 27 27 Tổ chức cho học sinh hoạt động nắm vững các khái niệm, thực hiện các bước giải bài toán về phân số. Rèn luyện cho học sinh khá giỏi năng lực tư duy, khái quát, linh hoạt trong khi giải toán. a.3. Vốn ngôn ngữ toán, vốn hiểu biết của học sinh còn hạn chế. Những bài toán so sánh phân số khác mẫu số, học sinh phải qua bước quy đồng mẫu số để đưa về cùng mẫu số rồi mới so sánh, hoặc dựa vào ý nghĩa của phân số để so sánh. Nhưng học sinh không biết diễn đạt sao cho vấn đề có lô gích. VD: Bài 2: So sánh hai phân số bằng hai cách khác nhau - trang 122 (Toán 4). Học sinh chỉ quen làm cách quy đồng rồi so sánh. Rất ít học sinh biết trình bày cách thứ hai: a, 8 và 7 . Vì 8 > 1; 7 7 ( So sánh phân số qua 1) 7 8 7 8 7 8 c, 12 và 28 . Phân số 12 < 1 (Tử số bé hơn mẫu số) 16 21 16 Phân số > 1 (Tử số lớn hơn mẫu số) Nên < * Giáo viên hướng dẫn học sinh: Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 8
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 Trước một bài toán có các phân số chưa tối giản ta nên đưa về phân số tối giản để bài toán gọn hơn, dễ nhận thấy kết quả hơn. Ở bài này học sinh cần phải rút gọn trước khi quy đồng mẫu số để so sánh theo cách thông thường. Sử dụng kiến thức đã học về so sánh phân số với 1 a.4. Sai lầm do học sinh không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ dữ kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán. Đề bài yêu cầu tính rồi rút gọn hoặc rút gọn rồi tính nhưng học sinh chỉ tính mà không rút gọn hoặc chỉ rút gọn mà không tính,... Ví dụ: Bài 3 trang 128: Rút gọn rồi tính + + Học sinh đôi khi không chú ý đến lệnh của bài tập dẫn đến các em quy đồng và thực hiện cộng, trừ với mẫu số rất lớn. * Giáo viên hướng dẫn học sinh: +Yêu cầu của bài tập là gì? + Trong các biểu thức đã cho, phân số nào rút gọn được ? + Chú ý rút gọn sao cho hai phân số có cùng mẫu số luôn. Học sinh thực hiện đúng như sau: + = + = + = + = a.5. Sai lầm trong giải toán với các phép tính về phân số trong các bài toán có lời văn: Những bài toán có lời văn trong phần học này, tuy rất ít và là những bài toán đơn, nhưng học sinh cũng rất lúng túng, trong khi xác định đơn vị của bài toán, không biết trả lời như thế nào, không biết danh số phải là gì, không biết lấy số nào để làm tính nên dễ mắc sai sót trong khi làm bài. Ví dụ: Bài 3 trang 129 (Toán 4) Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lần thứ VI năm 2004, số huy chương vàng 5 của đoàn học sinh tỉnh Đồng Tháp bằng tổng số huy chương của đoàn đã 19 giành được, còn lại là huy chương bạc và huy chương đồng. Hỏi số huy chương bạc và huy chương đồng của đoàn bằng bao nhiêu phần tổng số huy chương đã giành được. * Giáo viên hướng dẫn học sinh: Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 9
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 Học sinh cần nắm vững ý nghĩa của phân số: Coi tổng số huy chương của đoàn đã giành được là một đơn vị được chia làm 19 phần bằng nhau. Số huy chương vàng là 5 phần trong tổng số huy chương Tìm số huy chương bạc và huy chương đồng chính là lấy 1 đơn vị (hay chính là ) trừ đi số phần huy chương vàng. Tìm câu trả lời bằng cách dựa vào câu hỏi, bỏ từ để hỏi đi. Danh số là : tổng số huy chương Tìm cách giải bài toán bằng nhiều cách (nếu có). Dự kiến những hướng giải quyết tránh cho học sinh những khó khăn, sai lầm dễ mắc phải. Học sinh thực hiện đúng như sau: Số huy chương bạc và đồng chiếm số phần là: 19 5 14 - = (tổng số huy chương) 19 19 19 14 Đáp số: (tổng số huy chương) 19 a.6. Sai lầm do chưa hiểu rõ các trình bày bài trong khi làm các bài toán Rút gọn rồi tính, bài toán so sánh hai phân số. VD: Bài 2: Rút gọn rồi tính - trang 129 (toán 4). Học sinh thường hay mắc sai lầm như sau: a, 2 - 3 = 3 = 3 : 3 = 2 - 1 = 1 . 3 9 9 9 : 3 3 3 3 Nhìn vào kết quả thì học sinh vẫn đúng, ý đồ đúng nhưng sai về các trình bày phép tính. Hiện tượng này học sinh mắc trong khi tính cộng, trừ, nhân.... * Giáo viên hướng dẫn học sinh: - Các em thực hiện phép tính gì theo yêu cầu đề bài ? - Hai phân số này đã có cùng mẫu số chưa ? - Em hãy nhận xét mẫu số của hai phân số này có gì đặc biệt ? - Quy đồng mẫu số hai phân sổ trường hợp mẫu số của phân số này chia hết cho mẫu số của phân số kia ta làm thế nào ? - Có thể rút gọn phân số nào để được hai phân số có cùng mẫu số ? Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 10
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 - Hãy thực hiện đúng thứ tự các bước trừ hai phân số khác mẫu số theo quy tắc đã học Học sinh thực hiện đúng là: 2 3 2 1 1 - = - = 3 9 3 3 3 b. Giải pháp 2: Giúp học sinh được nắm vững các bài học hình thành kiến thức mới về phân số: Bao gồm các nội dung sau: - Dạy khái niệm phân số, phân số và phép chia số tự nhiên; - Phân số bằng nhau; tính chất cơ bản của phân số - Rút gọn phân số. - Quy đồng mẫu số các phân số. - So sánh phân số. b.1. Khái niệm phân số: Được giới thiệu trong Toán 4 ở dạng đơn giản nhất, chủ yếu dựa vào hình ảnh trực quan (hình vẽ, mô hình) nên gọi là “khái niệm ban đầu” về phân số. Phương pháp chủ yếu để giới thiệu khái niệm ban đầu về phân số là: giáo viên hướng dẫn học sinh “phát hiện vấn đề” nhờ cách “đặt vấn đề” của giáo viên có sự hỗ trợ của hình vẽ, hoặc mô hình thích hợp, để tự học sinh nhận biết được khái niệm phân số. Chẳng hạn: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ trong sách giáo khoa (hoặc thiết bị học tập tương ứng) và nêu các câu hỏi để khi trả lời, tự học sinh nhận biết được: Hình tròn được phân chia thành 6 phần bằng nhau và đã tô màu vào 5 phần. Giáo viên giới thiệu và yêu cầu học sinh nhắc lại: “Ta nói : đã tô màu vào 5 phần 6 hình tròn” ; “viết là: 5 ; đọc là: năm 6 phần sáu”; “ 5 là phân số ; phân số 5 có tử số là 5, mẫu số là 6”. Câu cuối 6 6 cùng bao hàm hai nội dung: phân số có tử số và mẫu số: với phân số 5 thì tử 6 số là 5, mẫu số là 6). Giáo viên cho học sinh quan sát tiếp một số hình vẽ khác (hoặc mô hình tương ứng) trong Toán 4, trang 106 rồi tự viết, đọc phân số thích hợp với mỗi hình vẽ (hoặc mô hình), tự nêu tử số và mẫu số của từng phân số. Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 11
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 Giáo viên đặt các câu hỏi để học sinh tự nêu được: 5 ; 1 ; 3 ; 4 là 6 2 4 7 những phân số. Phân số có tử số và mẫu số: Tử số là số tự nhiên viết trên gạch ngang, mẫu số là số tự nhiên khác 0 viết dưới gạch ngang. Hướng dẫn học sinh thực hành, vận dụng củng cố những hiểu biết ban đầu về phân số trong quá trình giải các bài tập hoặc một số bài tập trong Toán 4 – Trang 107. Học sinh cần hiểu rõ: Tử số cho biết gì, mẫu số cho biết gì? Dựa vào hình vẽ, giáo viên gợi cho học sinh nhận thấy và ghi nhớ một cách đơn giản: Tử số là chỉ số phần lấy ra, tô màu,...mẫu số là chỉ số phần được chia ra của đơn vị. Ví dụ 1: Bài1 trang 107: a, Viết rồi đọc phân số chỉ số phần đã tô màu trong mỗi hình đã cho: b, Trong mỗi phân số đó, mẫu số cho biết gì, tử số cho biết gì ? Học sinh quan sát hình, dễ dàng nhận ra số phần đã tô màu, để thực hiện yêu cầu viết, đọc phân số chỉ số phần đã tô màu đó học sinh phải nhận ra được hình đó đã chia thành mấy phần bằng nhau, tô màu mấy phần. Tuy nhiên giáo viên cần chú ý để học sinh nói ra vấn đề (yêu cầu b) để học sinh ghi nhớ, có hiểu biết cụ thể hơn về ý nghĩa của tử số và mẫu số giúp cho viêc làm các bài toán sau dễ dàng hơn. Ví dụ 2: Bài3- Trang 129. Hội khoẻ Phù Đổng toàn quốc lần thữ VI năm 2004, số huy chương vàng 5 của đoàn học sinh tỉnh Đồng Tháp bằng tổng số huy chương của đoàn đã 19 giành được, còn lại là huy chương bạc và huy chương đồng. Hỏi số huy chương bạc và huy chương đồng của đoàn bằng bao nhiêu phần tổng số huy chương đã giành được? 5 Phân tích: Học sinh phải nhận ra được là số huy chương vàng mà 19 đoàn đã giành được. Có nghĩa là số huy chương của cả đoàn chia thành 19 phần thì số huy chương vàng là 5 phần. Trên cơ sở đó học sinh biết: 19 - Số huy chương của cả đoàn sẽ là . 19 - Vậy tìm số huy chương bạc và số huy chương đồng sẽ là: Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 12
- Một số giải pháp giúp học sinh sửa lỗi sai khi thực hiện các phép tính trong phân số môn toán lớp 4 19 5 14 - = (tổng số huy chương) 19 19 19 b.2. Phân số và phép chia số tự nhiên: Bài học giúp học sinh nhận ra sự xuất hiện của phân số đã đáp ứng được nhu cầu giải quyết vấn đề: Mọi phép chia số tự nhiên đều tìm được kết quả là số tự nhiên hoặc phân số. Giáo viên cho học sinh kĩ năng nhận biết: Phép chia số tự nhiên cũng có thể viết dưới dạng một phân số trong đó: tử số là số bị chia, mẫu số là số chia và ngược lại mọi phân số đều viết được dưới dạng phép chia số tự nhiên. Hệ quả của bài học là : Mọi số tự nhiên đều viết được dưới dạng một phân số có mẫu số là 1 và ngược lại mọi phân số có mẫu số là 1 đều viết được dưới dạng số tự nhiên. b.3. Phân số bằng nhau, tính chất cơ bản của phân số: Học sinh nhận thấy sự bằng nhau của phân số. Từ đó ghi nhớ tính chất của phân số : Nếu nhân hay chia cả tử và mẫu số với cùng một số tự nhiên ta được một phân số mới bằng phân số đã cho. Nói cách khác có hai cách tìm ra phân số bằng phân số đã cho: - Nếu phân số đã cho là tối giản (cả tử số - mẫu số không cùng chia hết cho một số nào) thì ta tìm phân số mới bằng cách nhân cả tử số và mẫu số với một số tự nhiên lớn hơn 1. - Nếu phân số chưa tối giản, ta có thể tìm bằng cách chia cả tử số và mẫu số cho cùng một số tự nhiên lớn hơn 1 (đó chính là rút gọn phân số). b.4. Rút gọn phân số: - Rút gọn phân số là làm cho phân số trở nên gọn hơn, tử số, mẫu số nhỏ hơn nhưng giá trị không đổi. - Cần nắm vững tính chất cơ bản của phân số để vận dụng. - Học sinh phải nắm chắc các dấu hiệu chia hết. Muốn rút gọn một phân số cần xem tử số và mẫu số cùng chia hết cho một số nào, khi cả tử số và mẫu số không cùng chia hết cho một số nào nữa thì gọi là phân số tối giản. b.5. Quy đồng mẫu số các phân số: Trước hết giáo viên cần cho học sinh hiểu quy đồng mẫu số là gì? Cho học sinh phát hiện, hệ thống 3 cách quy đồng mẫu số, cách vận dụng trong làm toán. Nguyễn Thị Nga – Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ - Huyện Krông Ana 13

