Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học

docx 23 trang Chăm Nguyễn 02/08/2026 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_trong_phat_trien_nang.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh Tiểu học

  1. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong chương trình mới, giáo dục đã có sự thay đổi trong định hướng. Thay vì chỉ hướng tới cung cấp kiến thức, kĩ năng cho người học, ngày nay, giáo dục đang hướng tới dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh. Năng lực tự học là một trong những năng lực chung cốt lõi của chương trình GDPT mới đó. Học sinh chính là người phải chủ động khám phá và lĩnh hội, thể hiện được bản lĩnh cá nhân cũng như vận dụng linh hoạt kiến thức đã học vào cuộc sống. Qua đó, học sinh sẽ biến được kiến thức của nhân loại thành kiến thức của mình và làm phong phú thêm kinh nghiệm của bản thân. Trong thời kì hội nhập toàn cầu và thời đại công nghiệp 4.0, việc các em trang bị cho mình năng lực tự học sẽ giúp các em nhanh chóng tiếp cận với những cái mới, thích nghi nhanh với những sự thay đổi cũng như bắt nhịp với sự phát triển không ngừng của thế giới. Các em sẽ chủ động bước ra vùng an toàn và hội nhập cùng thế giới, mở ra những cánh cửa cơ hội rộng lớn. Vì vậy, có thể nói, tự học là một năng lực quan trọng nhất đối với một con người, đặc biệt là đối với học sinh trên con đường tiếp thu kiến thức. Tuy vậy, giáo dục Việt Nam vẫn đang trên con đường đổi mới nên không tránh khỏi vẫn tồn tại những lực cản khiến cho mục tiêu phát triển năng lực tự học cho học sinh chưa thực sự có hiệu quả. Đầu tiên có thể kể đến đó là thói quen từ lối giáo dục truyền thống trước đây: con cái phải tuyệt đối nghe lời cha mẹ, học sinh phải nhất nhất vâng lời thầy cô, không chính kiến. Từ đó, kĩ năng nêu ý kiến, tư duy phản biện của học sinh không có cơ hội được phát triển. Nó cũng sẽ khiến học sinh trở nên thụ động, không còn sự hứng thú với việc khám phá kiến thức mới. Ngoài ra, việc thói quen đọc sách, kĩ năng tra cứu và học tập từ các nguồn thông tin chưa được hình thành và bồi dưỡng từ gia đình cũng làm cho các em trở nên bị động với việc học. Bên cạnh đó, bệnh thành tích cũng là một trở ngại lớn, khi còn giáo viên vẫn chú trọng vào việc học để thi cử khiến cho việc học trở nên nặng nề, học sinh không hiểu được ý nghĩa và vẻ đẹp của việc học, từ đó, cũng sẽ không có ý thức phát triển năng lực tự học. Trong bộ phim Jyoou no kyoshitsu (The queen’s classroom) của đạo diễn Otsuka Kyoji, nhân vật cô giáo Akutsu Maya đã có những chia sẻ rất ý nghĩa và sâu sắc với các em học sinh khi có em hỏi rằng tại sao chúng ta phải học. Cô giáo ấy đã nói rằng trong cuộc sống, các em sẽ gặp rất nhiều điều chưa biết, những điều kì diệu mà các em rất muốn lí giải, những lúc đó, các em sẽ muốn biết, muốn học nhiều hơn nữa, đó mới chính là con người. Bên cạnh đó, cô giáo cũng thẳng thắn chia sẻ rằng người không có lòng ham học hỏi, không có lòng khám phá thì không phải là con người; học không phải để thi cử mà là để trở 1
  2. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học thành một người lớn tuyệt vời. Điều đáng buồn là hiện nay, số học sinh hiểu được điều này chưa nhiều, nhất là khi từ phía gia đình và nhà trường vẫn luôn muốn các em học tập tốt để vào trường tốt, có công việc tốt. Việc giáo dục, hình thành cho các em năng lực tự học là trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội và việc tiếp tục phát triển hơn nữa không chỉ nằm ở trách nhiệm của nhà trường, gia đình, xã hội mà còn nằm ở chính bản thân các em. Giáo dục năng lực tự học cho học sinh là một nhiệm vụ khó khăn và lâu dài của nhà trường, gia đình, xã hội, đòi hỏi tính nhất quán và sự kiên trì. Phát triển năng lực tự học là hình thành và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng, thói quen tốt để học sinh có thể đáp ứng được những yêu cầu mà nhiệm vụ đưa ra. Bản thân tôi cũng luôn trăn trở về vấn đề tự học của các em học sinh. Phải làm gì và như thế nào để có thể hình thành và phát triển năng lực tự học cho các em một cách triệt để và gặt hái được “quả ngọt”. Chính vì những điều trên, tôi đã chọn đề tài sáng kiến “Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học”. 2. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu các cơ sở lý luận, biện pháp trong việc hình thành năng lực tự học cho học sinh tiểu học. Từ đó, nhằm góp phần nâng cao công tác giáo dục năng lực tự học cho học sinh tiểu học. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: Phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học. - Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học. 4. Đối tượng khảo sát - Học sinh lớp 4 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận: khái niệm năng lực, năng lực tự học, tâm lí học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng. - Khảo sát, phân tích thực trạng việc giáo dục và phát triển năng lực tự học của học sinh tiểu học. - Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học. 6. Phạm vi nghiên cứu - Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học 2
  3. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học 7. Thời gian nghiên cứu - Năm học 2022-2023 và kì I của năm học 2023-2024 8. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu này, tôi đã sử dụng những phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp phỏng vấn - Phương pháp điều tra quan sát - Phương pháp thực phạm sư phạm - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm 3
  4. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học II. NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận a) Năng lực tự học Tự học từ lâu luôn là vấn đề được quan tâm trong lí luận dạy học của nước ta. Nhiều nghiên cứu, nhiều giáo trình, báo cáo hội thảo, đã bàn về vấn đề này và đưa ra nhiều những khái niệm khác nhau về tự học và năng lực tự học. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó, sau đó biến hiểu biết đó thành sở hữu cá nhân”. Hoặc khái niệm tự học có thể hiểu một cách ngắn gọn “tự học là việc học có tính chất độc lập, không phụ thuộc trực tiếp vào thầy và được người học tiến hành hoàn toàn tự nguyện do nhu cầu, lợi ích hay hứng thú của chính mình thúc đẩy”. Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm về năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Theo Cosmovici, “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”. Còn nhà tâm lí học phát triển A.N.Leonchiev cho rằng năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định. Nhà tâm lý học A.Rudich lại đưa ra quan niệm về năng lực như sau: Năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu không có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích. Đa số các nhà tâm lí học đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là nói đến một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. 4
  5. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội . Nó thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội. Vậy năng lực tự học là gì? Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã đưa ra quan niệm về năng lực tự học như sau: “Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp. Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra”. Có thể hiểu, năng lực tự học là sự bao hàm cả cách học, kỹ năng học và nội dung học: “Năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau”. Cụ thể hóa, tác giả Aki Nguyễn đã chỉ ra rằng, đối với học sinh tiểu học, năng lực tự học sẽ bao gồm những yếu tố: - Hiểu được vì sao mình cần phải học và ý nghĩa của việc học - Tạo được thói quen tự giác ngồi vào bàn học đúng giờ. - Khả năng tự mình suy nghĩ, biểu đạt được suy nghĩ đó cho người khác hiểu. - Tự mình muốn tìm hiểu về những chủ đề về thế giới xung quanh, thay vì chỉ làm theo yêu cầu của thầy cô và bố mẹ. - Tạo được thói quen thường xuyên đọc sách. - Được trang bị những kĩ năng hỗ trợ cho quá trình nâng cao năng lực của bản thân: đọc sách, kĩ năng nói và viết, kĩ năng quản lí sắp xếp thời gian, xây dựng mục tiêu, tra cứu thông tin, b) Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh tiểu học Ở lứa tuổi tiểu học, khả năng tự kiểm soát bản thân của trẻ vẫn còn chưa hoàn thiện. Trẻ vẫn còn hay quên, chỉ tập trung vào thứ mình thích thú, một số việc dù được hướng dẫn cũng sẽ không thể làm thành thục ngay. Giáo viên và bố mẹ cần có sự kiên nhẫn và kiên trì đồng hành để hướng dẫn con. Cả hai phía đều cần sự nhất quán trong cách giáo dục để trẻ không bị rối khi phải tiếp nhận quá nhiều thông tin và sự định hướng. Ba mẹ, thầy cô hay những người lớn gần gũi các con luôn là tấm gương tính cách đối với trẻ học tiểu học. Độ tuổi này, các con bắt chước hành động, lời nói 5
  6. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học hay thói quen của những người gần gũi các con khá nhiều và thường xuyên. Vì thế, để có thể giáo dục năng lực tự học cho con, chính những người lớn thân thiết với con nhất định cũng phải có năng lực đó. Nó thể hiện ở việc người lớn cũng cần có thói quen đọc sách, tự tra cứu thông tin tìm câu trả lời giải quyết vấn đề của mình. Người lớn trước tiên phải là người tự đi trên đôi chân của mình, tự khám phá ra câu trả lời cho vấn đề của mình thay vì trông chờ vào người khác. Nhiều người lớn không chịu đọc sách, khi có vấn đề trong giáo dục trẻ, luôn muốn hỏi chuyên gia và muốn có ngay câu trả lời. Điều đó cũng ảnh hưởng đến trẻ. Nhiều người lớn cũng thể hiện sự rụt rè, chưa mạnh dạn trong việc nêu ý kiến hay có những quan điểm sợ mất lòng người khác nên không dám bày tỏ quan điểm. Từ đó cũng vô hình chung ảnh hưởng đến tư duy, suy nghĩ của con trẻ. Hiểu được những điều này mà cha mẹ hay thầy cô giáo phải học cách kiên trì, nhất quán với cách giáo dục con trẻ, phải tự rèn luyện trở thành tấm gương tốt để đồng hành cùng các em. 6
  7. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học 2. Thực trạng việc giáo dục năng lực tự học cho học sinh tiểu học a) Thuận lợi * Về phía giáo viên: - Phần lớn các giáo viên đều có sự thích nghi, bắt nhịp với thời đại hội nhập tốt. - Giáo viên nắm chắc nội dung chương trình GDPT 2018, từ đó, có nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc giáo dục theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Trong đó, có năng lực tự học. - Giáo viên đa số có sự chủ động, linh hoạt và luôn cập nhật những phương thức giáo dục mới, hiện đại để giúp trẻ trang bị những thói quen, kĩ năng cần thiết cho thời đại. * Về phía học sinh: - Trẻ đang trong độ tuổi còn tính thích khám phá một cách tự nhiên nên tương đối dễ để kích thích sự ham học hỏi, say mê khám phá của trẻ. - Trẻ dễ tiếp nhận những thói quen, kĩ năng mới. - Trẻ sống trong thời đại 4.0 ngày càng phát triển nên trẻ có nhiều môi trường học tập đa dạng, linh động, càng thuận tiện cho việc tự học. * Về phía phụ huynh hoặc các lực lượng giáo dục khác: - Nhiều phụ huynh cũng có sự quan tâm, cập nhật với xu hướng giáo dục mới cũng như những yêu cầu mà xã hội hiện đại đang đặt ra cho những mầm non tương lai. Từ đó, họ có những phương thức giáo dục phù hợp, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện, trong đó chú trọng tới việc tự học, nuôi dưỡng lòng say mê khám phá của con trẻ. - Nhà trường cũng tích cực bồi dưỡng học sinh theo định hướng phát triển năng lực, luôn nâng cao chuyên môn của giáo viên, tích cực đổi mới trong giáo dục. Nhà trường cũng có nhiều kế hoạch, dự án giáo dục nhằm phát triển năng lực của học sinh. b) Khó khăn * Về phía giáo viên: - Vẫn còn một số giáo viên ngại đổi mới, tư duy chưa mở và linh hoạt để bắt nhịp với thời đại. Một số giáo viên còn giữ những quan điểm cũ, cách giáo dục truyền thống. - Một vài giáo viên vẫn còn trọng hình thức, nặng kiến thức, chưa tạo nhiều cơ hội cho học sinh thể hiện bản thân, từ đó có cơ hội phát triển năng lực. 7
  8. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học * Về phía học sinh: - Đa số học sinh chưa có nhiều cơ hội bày tỏ quan điểm từ trong gia đình nên khi bước vào môi trường xã hội, các em còn rụt rè, thiếu sự chủ động. Điều này cũng dẫn đến việc các em không có sự tự chủ, tự quyết định việc của mình. Từ đó, năng lực tự học của các em chưa cao. - Thói quen của các em chưa được chú trọng để hình thành và duy trì một cách nhất quán từ ở nhà đến trên trường. Vì vậy, thói quen rất khó để hình thành. - Các em bị bắt buộc học những môn như Toán, Tiếng Việt nhiều, không còn thời gian khám phá sở thích bản thân, tự học những nội dung bản thân mong muốn và yêu thích. * Về phía phụ huynh hoặc các lực lượng giáo dục khác: - Nhiều gia đình vẫn còn tư tưởng trẻ con chỉ cần học toán và tiếng việt, không tạo cho các em cơ hội khám phá và bồi dưỡng những khía cạnh khác, làm mất đi sự say mê khám phá, sự hứng thú học hỏi của các em. Do vậy, các em cũng không có sự chủ động đi tìm kiếm câu trả lời để giải quyết vấn đề của mình. - Khi nhận câu hỏi từ con trẻ, nhiều người lớn tỏ ra thờ ơ, coi đó là những thắc mắc nhảm nhí, không có ý định trả lời hay gợi ý để trẻ đi tìm câu trả lời. Từ đó, trẻ cũng không dám mạnh dạn nêu ý kiến hay đặt câu hỏi. Do đó, sự hứng thú khám phá những điều mới cũng không có. Điều đó cũng ảnh hưởng lớn đến việc tự học của trẻ. Vì chỉ khi có mong muốn biết thứ mình chưa biết, trẻ mới có thể có khả năng học và tự học tốt. - Do tư tưởng từ những giai đoạn trước, một số nhà trường còn trọng thành tích, phần lớn chú trọng hai môn toán, tiếng việt, chưa thực sự coi trọng việc giáo dục năng lực cho học. Ngoài ra, tư tưởng giáo dục hiện đại cũng chưa được phổ biến triệt để và rộng rãi trong toàn bộ giáo viên. 8
  9. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học 3. Một số biện pháp để phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học Trong công tác giảng dạy, với sự ham học hỏi, nghiên cứu những tri thức mới, phương thức giáo dục mới và hiện đại, đặc biệt là vấn đề nâng cao năng lực tự học của học sinh tiểu học, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp giáo dục như sau: 3.1 Biện pháp 1: Xây dựng tư duy đúng đắn về việc học Để có thể thực sự tập trung, đầu tư thời gian, công sức vào việc gì, con người nói chung luôn muốn nắm rõ những lợi ích bản thân sẽ nhận được từ công việc đó. Việc học cũng có thể hiểu như vậy. Trước khi bắt đầu xây dựng cho các con học sinh những thói quen, kĩ năng phục vụ cho việc hình thành và phát triển năng lực tự học, giáo viên và gia đình cần cho các con hiểu rõ ý nghĩa của việc học. Từ đó sẽ là động lực thôi thúc các con tự học tốt hơn. Vậy những quan điểm đúng đắn về việc học mà giáo viên và gia đình cần xây dựng là gì? Thứ nhất, trẻ cần hiểu được việc học là việc của bản thân. Trẻ chỉ có thể hứng thú với việc học, không coi đó là cửa ải đầy khó khăn khi trẻ hiểu và biết rằng việc học là việc của mình, là trách nhiệm cũng như là quyền lợi của mình. Nếu trẻ luôn trong tâm trạng bị bắt làm, bị bố mẹ ép hay thầy cô ép thì sẽ rất khó để có được sự hứng thú trong việc học, từ đó cũng sẽ hoàn toàn thiếu sự chủ động để tự học. Những buổi trò chuyện chia sẻ, luật trẻ em, những đoạn phim về sự khó khăn của trẻ em vùng cao cũng là một nguồn truyền cảm hứng hiệu quả với các em. Đôi khi, người lớn nghĩ rằng trẻ còn vô tư nên sẽ không cảm nhận gì nhưng thực chất trẻ cảm nhận được nhiều hơn những gì người lớn nghĩ. Do đó, hãy cho trẻ nghe, xem và cảm nhận rồi viết lại những cảm nhận đó. Viết ra cũng là cách giúp trẻ khắc sâu hơn những điều này. Thứ hai, thầy cô và gia đình cần cho trẻ thấy được những ích lợi của việc học. Thầy cô, bố mẹ cần cho trẻ thấy được những giá trị mà việc học đem lại cũng như những thiệt thòi cho con nếu con không chịu học. Sẽ có những lúc, dưới sự thúc giục từ người lớn, trẻ sẽ đặt câu hỏi “Vì sao phải học?”. Để có thể có một câu trả lời thỏa đáng và có ích với trẻ, người lớn chúng ta cần phải tập bỏ thói quen giải thích chung chung như học để có một công việc tốt hoặc phớt lờ câu hỏi của trẻ, dùng uy quyền để bắt ép. Với bố mẹ, bố mẹ có thể phân tích cho các con lợi ích của từng môn học trong cuộc sống để các con hiểu giá trị của việc học. Với giáo viên khi dạy bất kì nội dung kiến thức hay môn học nào, hãy luôn gắn với thực tế và để học sinh thấy được cách tư duy logic, áp dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống như thế nào. Đó cũng là phương thức giáo dục theo định hướng phát triển năng lực mà chương trình mới đang hướng tới. Như vậy, đích đến đầu tiên của việc học là giúp ích cho chính bản thân mình, giúp mình trở thành con người tự do, không lệ thuộc hay bị chi phối bởi ai. Khi mình có kiến 9
  10. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học thức, kĩ năng cần thiết, mình có thể giải quyết được hầu hết những vấn đề trong cuộc sống của mình thì đương nhiên mình không cần dựa dẫm vào ai, mình là người tự do. Đích đến thứ hai là sử dụng kiến thức của mình để giúp ích cho xã hội. Khi chúng ta có thể thể hiện bản thân mình để đem đến lợi ích cho cộng đồng, cho xã hội, ta sẽ nhận được niềm vui và hạnh phúc. Thầy cô và cha mẹ hãy nói cụ thể những lợi ích cho con nghe. Những điều này sẽ là động lực từ gốc rễ, sẽ nuôi dưỡng cho các con niềm đam mê, hứng thú với việc học. Khi đã có điều này, các con sẽ dần hình thành năng lực tự học tốt hơn. Thầy cô, cha mẹ hãy kiên trì để nuôi dưỡng điều này cho các con. Ngoài việc trò chuyện chia sẻ, thầy cô và cha mẹ có thể cho các con xem những đoạn video truyền cảm hứng, cùng xây dựng sơ đồ tư duy về những giá trị mà việc học mang lại. Đó cũng là hoạt động kết nối, gắn kết lớp học và gia đình. Thứ ba, học tập không chỉ hướng tới điểm số. Khi đã trưởng thành, mỗi người cần nhận ra rằng điểm số quan trọng nhưng không phải là tất cả. Không phải ai học giỏi, điểm cao khi đi học đều thành đạt và không phải bị vài ba điểm kém sẽ là người thất bại. Những câu nói chê bai và so sánh, một ánh mắt thất vọng, một tiếng thở dài của bố mẹ đều sẽ tạo ra áp lực vô hình khiến con luôn sợ kiểm tra, sợ điểm kém, mất đi hứng thú học tập hoặc ngày càng trở nên tự ti, khép kín. Thay vì thích thú tận hưởng từng ngày đến trường, con sẽ chỉ nghĩ tới thành tích và cảm thấy thất bại, nếu không đạt thành tích cao như các bạn. Phụ huynh đừng chỉ đánh giá khả năng của trẻ vào những con số. Trước một bài kiểm tra, một bảng xếp hạng không như kỳ vọng, phụ huynh hãy cố gắng tìm ra điểm tích cực, ôm con vào lòng, động viên để tại thêm động lực cho con cố gắng hơn trong thời gian tới. 3.2 Biện pháp 2: Hình thành năng lực tư duy và suy nghĩ độc lập Chúng ta đang sống ở thời đại mà trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển từng ngày. Các nhà khoa học đã dự đoán trong tương lai gần, nhiều công việc cần đến khả năng ghi nhớ cũng sẽ dần dần bị thay thế bởi AI. Vì thế, thế giới tương lai rất cần ở thế hệ trẻ khả năng tự suy nghĩ, tự phán đoán và đưa ra những ý tưởng mới để giải quyết vấn đề cho xã hội. Do đó, có thể nói, năng lực tư duy và suy nghĩ độc lập là một yếu tố cần và quan trọng để có thể hình thành và phát triển năng lực tự học. Để kích thích trẻ tư duy, thầy cô và bố mẹ hãy dạy trẻ thói quen quan sát mọi sự vật xung quanh mình và đặt câu hỏi. Người lớn có thể làm mẫu trước, mỗi ngày đặt ra 3 câu hỏi để trẻ tư duy trả lời. Việc biết đặt câu hỏi “Tại sao?” từ những trải nghiệm trong cuộc sống sẽ kích thích trẻ ham tìm tòi, khám phá và tự suy nghĩ để 10
  11. Một số biện pháp trong phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học tìm câu trả lời. Khi nhận câu hỏi từ trẻ, thầy cô và bố mẹ hãy khoan đưa ra ngay câu trả lời mà hãy hỏi ngược lại trẻ để trẻ bắt buộc phải có tư duy độc lập, thay vì trông chờ vào người khác đưa câu trả lời sẵn cho mình. Muốn suy nghĩ thấu đáo, người lớn chúng ta cũng cần thời gian chiêm nghiệm. Do đó, khi đưa ra vấn đề cho trẻ tư duy, hãy cho trẻ cả thời gian để suy nghĩ và đưa ra câu trả lời. Có như vậy, trẻ mới hình thành được thói quen đào sâu vấn đề, cũng là một điều quan trọng khi tự học. Khi tự học, trẻ sẽ hầu như phải tự chủ trong các việc như lựa chọn chủ đề, tài liệu, cách thức học. Nếu trẻ không biết cách đào sâu vấn đề, việc học chỉ như cưỡi ngựa xem hoa, sẽ không có hiệu quả. Ngay cả trong việc hướng dẫn con học, bố mẹ cũng tránh việc đưa sẵn bài giải cho con khi thấy con mãi chưa có câu trả lời. Điều này sẽ cướp mất cơ hội tư duy của trẻ. Với giáo viên, khi dạy học, hãy luôn hỏi học sinh câu hỏi “Vì sao?” để học sinh tư duy và giải thích cho câu trả lời hay phán đoán của mình. Hãy luôn để cho học sinh có sự chuẩn bị ở nhà cũng như có sự gợi ý cho học sinh những câu hỏi để đào sâu hoặc mở rộng vấn đề đã học. Giáo viên cũng như bố mẹ, hãy tránh việc vội vã đưa ra câu trả lời cho học sinh. Nếu trẻ không thể đưa ra câu trả lời, hãy hướng dẫn trẻ và cùng trẻ tìm ra câu trả lời. Có thể là đưa ra những câu hỏi gợi ý, chia nhỏ vấn đề, có thể là hướng dẫn tra cứu từ điển, tra cứu Internet. Mục đích không phải là đưa ra đáp án mà là người đồng hành với trẻ trên con đường tìm ra đáp án. Điều này sẽ càng giúp trẻ có sự độc lập để tự học một cách chủ động. Để trẻ có thể suy nghĩ độc lập và thoải mái đưa ra ý kiến của mình, hãy khuyến khích trẻ sử dụng ngôn ngữ của mình để diễn đạt. Người lớn đôi khi hi vọng trẻ có thể đưa ra câu trả lời chính xác với mong muốn của mình nhưng điều đó rất khó cho trẻ khi hệ thống vốn từ của trẻ vẫn đang hoàn thiện. Tư duy là trẻ có thể diễn đạt điều mình nghĩ bằng ngôn từ của mình chứ không phải chỉ nhắc lại lời người khác nói. Ban đầu, trẻ có thể còn ấp úng, từ ngữ chưa chuẩn nhưng qua thời gian trẻ sẽ dần cải thiện điều đó. Khi có vấn đề, hãy cho trẻ thoải mái nêu ý kiến và cùng thảo luận để giải quyết. Khi có một chủ đề được đưa ra, hãy cho trẻ thoải mái bày tỏ quan điểm, không phán xét, nhận định đúng sai. Điều này không chỉ tăng tính chủ động cho trẻ mà cũng giúp trẻ có tư duy phản biện, có cái nhìn đa chiều, tư duy mở. Trên lớp hay ở nhà đều được, giáo viên và gia đình hãy tạo cho trẻ cơ hội chia sẻ nhiều chủ đề trong cuộc sống như kể lại một ngày của con, kể về sở thích của con, kể lại một câu chuyện con đã đọc, dạy lại cho cô/bố/mẹ biết một bài toán. Dù vấn đề là gì, thầy cô và bố mẹ hãy cho trẻ có cơ hội sai và thử lại. Việc làm cho trẻ ngày càng trở nên thụ động chính là sợ sai. Nếu muốn trẻ ngày càng 11