Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo tâm thế tốt cho học sinh Lớp 5 khi chuyển cấp

docx 28 trang Chăm Nguyễn 15/08/2026 260
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo tâm thế tốt cho học sinh Lớp 5 khi chuyển cấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_tao_tam_the_tot_cho_h.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo tâm thế tốt cho học sinh Lớp 5 khi chuyển cấp

  1. A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Lớp 5 là lớp cuối cấp và có vị trí đặc biệt quan trọng ở Tiểu học. Học hết lớp 5, các em sẽ chuyển sang cấp học mới với những thay đổi mới về nội dung chương trình và phương pháp học tập. Việc chuyển tiếp từ bậc tiểu học lên bậc Trung học cơ sở được coi là một dấu ấn, một bước ngoặt trong cuộc đời học sinh của các em. Những ngày tháng đầu tiên ấy, các em bắt đầu một môi trường học tập mới với nhiều điều mới lạ: nhiều thầy cô giáo mới; bạn bè mới; chương trình, tài liệu, hình thức học tập trên lớp phức tạp hơn; kinh nghiệm thực tế ngoài nhà trường, sự giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa được mở rộng hơn. Bước sang bậc Trung học cơ sở, các em không chỉ thay đổi về mặt tâm sinh lí mà còn phải tiếp thu một lượng kiến thức khó hơn nhiều so với tiểu học. Những năm tiểu học với cách đánh giá nhẹ nhàng bằng nhận xét, động viên, khuyến khích đã chấm dứt. Giờ đây, các em sẽ đối diện mỗi ngày với điểm số, kiểm tra, thi cử. Đây sẽ là thử thách đối với các em. Nếu tiểu học chỉ tập trung cho hai bài kiểm tra giữa kì 1, giữa kì 2; 6 bài kiểm tra cuối kì I,II thì ở Trung học cơ sở những bài kiểm tra miệng, kiểm tra 15 phút, kiểm tra 45 phút sẽ nối tiếp nhau từ môn này sang môn khác rất dễ làm học sinh lo lắng. Với lớp 6, nội dung của một bài học tương đối dài, đòi hỏi học sinh học tập với cường độ, yêu cầu cao hơn lớp 5 rất nhiều (các em phải tự học, tự ghi bài,..) và nếu các em không có sự học bài và chuẩn bị bài chu đáo ở nhà thì hiệu quả giờ học trên lớp sẽ không cao. Khi học lên lớp 6, học sinh gặp khó khăn bỡ ngỡ trong cách dạy và cách học, nhất là khả năng tự học, tự ghi bài. Nhiều em khó bắt nhịp với những yêu cầu học tập mới dẫn đến kết quả học tập không tốt. Năm học 2022-2023, là năm học tiếp theo thực hiện chuyển giao giữa Chương trình GDPT 2006 và Chương trình GDPT 2018 vì thế học sinh lớp 5 sẽ gặp không ít khó khăn về cách tiếp cận chương trình, nội dung, phương pháp học tập. Vậy giáo viên lớp 5 phải dạy học như thế nào để không chỉ phù hợp với chuẩn kiến thức kĩ năng, phát huy được năng lực của học sinh mà còn giúp học sinh lớp 5 có được các kỹ năng và tạo tâm thế sẵn sàng vào học lớp 6? Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp tạo tâm thế tốt cho học sinh lớp 5 khi chuyển cấp”.
  2. 2 II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Tìm hiểu thực trạng, một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng học sinh thực hiện chưa hào hứng và chưa có phương pháp học tập để tiếp cận với chương trình của lớp 6. Đặc biệt là đề xuất một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 có tâm thế tốt khi học lớp 6; giúp giáo viên vận dụng vào từng trường hợp cụ thể. Làm rõ vai trò của giáo viên chủ nhiệm, vận dụng để tìm ra giải pháp để giúp học sinh lớp 5 có tâm thế tốt khi chuyển cấp. Từ đó, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1. Thời gian: Từ đầu năm học 2022 – 2023 đến cuối năm học 2022 – 2023 2. Đối tượng: Học sinh lớp 5 trường Tiểu học. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện được mục đích đề ra, tôi mạnh dạn nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi, áp dụng những phương pháp sau : - Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các cơ sở phương pháp luận, các tài liệu, văn kiện của Đảng, nhà nước vận dụng vào các hoạt động dạy học. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra thực trạng, phương pháp đàm thoại trao đổi, kiểm tra đối chứng, phân tích đánh giá, tổng kết kinh nghiệm. - Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm tìm tòi, thực nghiệm giảng dạy.
  3. 3 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. CƠ SỞ LÍ LUẬN: Giáo dục tiểu học được coi là bậc học nền tảng, là nền móng cho ngôi nhà giáo dục. Chúng ta sẽ không thể xây lên những ngôi nhà cao, đẹp, chắc chắn, bền vững trên một nền móng yếu ớt. Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên. Để thực hiện tốt mục tiêu về đối mới GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, mỗi giáo viên cần có nhận thức đúng đắn về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học các môn ở Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Đồng thời, tạo điều kiện hướng dẫn học sinh lớp 5 tìm hiểu, tiếp cận với chương trình lớp 6 - Trung học cơ sở. Trong các lớp học, lớp 5 là lớp cuối cấp và có vị trí đặc biệt quan trọng ở Tiểu học. Học hết lớp 5, các em sẽ chuyển sang cấp học mới với những thay đổi mới về nội dung chương trình và phương pháp học tập. Việc chuyển tiếp từ bậc Tiểu học lên bậc Trung học cơ sở được coi là một bước ngoặt trong cuộc đời. Khi học lớp 6 - bước sang bậc Trung học cơ sở sẽ có các thay đổi lớn về tâm sinh lí, về môi trường học đường và tiếp thu một lượng kiến thức khó hơn nhiều so với tiểu học. Đây sẽ là thử thách khá lớn đối với các em! Đối với học sinh lớp 5, việc chuyển tiếp từ bậc tiểu học lên bậc Trung học là các em bắt đầu một môi trường học tập mới với nhiều kiến thức mới, mối quan hệ mới. Bên cạnh việc háo hức khi được chuyển lên bậc học mới, có nhiều niềm vui mới, bước vào lớp 6 em cũng gặp rất nhiều khó khăn về môi trường, chương trình học. Đây cũng là lúc các em bước vào giai đoạn thay đổi tâm sinh lý mạnh mẽ. Nếu chúng ta không nhận thức rõ được vấn đề của học sinh và có phương pháp giải quyết phù hợp thì rất dễ xảy ra tình trạng: học kém, nhút nhát, cứng đầu, cãi lời ba mẹ, gây gổ với bạn bè II. THỰC TRẠNG CỦA HỌC SINH LỚP 5 KHI CHUYỂN CẤP. Khi chuyển sang cấp học từ Tiểu học sang Trung học cơ sở các em được học trường mới, thầy cô, bạn bè mới nên tâm lý các em sẽ rất háo hức và được mở rộng mối quan hệ. Các em được tiếp nối thêm những kiến thức đã được xây dựng từ bậc Tiểu học nhưng lại nâng cao hơn đúng với tâm lý muốn tìm tòi khám phá của các em. Các em sẽ được học chương trình mới 2018 với những điều chỉnh phù hợp hơn chương trình cũ giúp học sinh phát triển hơn về năng lực, phẩm chất của mình. Năng lực chung và năng lực đặc được hình thành và phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục.
  4. 4 Bên cạnh đó, qua thực tế, tôi thấy còn một số hạn chế, khó khăn của học sinh khi chuyển cấp học từ Tiểu học sang Trung học cơ sở, đó là: 1. Về mặt tâm lý: - HS cảm thấy bỡ ngỡ, lo lắng khi bước vào ngôi trường mới với bạn bè mới, thầy cô mới. Từ vị trí anh đầu chị cả trở thành em út nên nhiều em có sự e dè, áp lực về tâm lý. - Ở Tiểu học, mỗi lớp có một giáo viên chủ nhiệm dạy hầu hết các môn học nên thầy, cô gần gũi, thấu hiểu tính cách, hoàn cảnh mỗi học sinh. Ở Trung học cơ sở, mỗi môn học có một giáo viên dạy, các thầy, cô dạy theo tiết nên việc quan tâm, mức độ gần gũi, nắm bắt hoàn cảnh học sinh khi mới vào Trung học cơ sở chưa sâu như ở tiểu học vì thế các em ngại tâm sự, chia sẻ với thầy cô. - Bước vào bậc Trung học cơ sở cũng là giai đoạn các em bước vào lứa tuổi dậy thì, có nhiều sự thay đổi về tâm sinh lý. 2. Về mặt kiến thức: Bên cạnh thuận lợi là học sinh được tiếp tục củng cố và mở rộng hệ thống kiến thức các em đã được học ở Tiểu học như: Số tự nhiên, phân số, số thập thân, dấu hiệu chia hết, hình học, các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa, văn miêu tả, thì các em gặp một số thay đổi như: - Lượng kiến thức tăng, môn học tăng và thời lượng cho tiết học nhiều hơn một tiết học ở tiểu học (thời gian từ 35 phút lên 45 phút/tiết học), lượng kiến thức trong 1 tiết học tăng lên. - Vào lớp 6 học sinh sẽ được học một số môn học mới, như Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học), một số nội dung mới của môn học sẽ xuất hiện và yêu cầu cao về tư duy trừu tượng. - Trong khi học sinh lớp 5 hiện đang học chương trình hiện hành 2006 nhưng từ năm học 2021-2022, lớp 6 học theo chương trình GDPT 2018. Một số kiến thức kết nối từ chương trình GDPT 2006 sang chương trình GDPT 2018 có sự thay đổi nên khó khăn cho học sinh lớp 5 khi vào học lớp 6 trong việc tiếp cận, thích ứng. 3. Về phương pháp và hình thức học tập: Hiện nay, giáo viên dạy lớp 5 đã vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tương đối linh hoạt, giảng dạy tỉ mỉ, chi tiết. Trong giờ học, học sinh nắm bài và làm bài nhanh nhưng việc ghi nhớ bài của các em lại hạn chế. Rất nhiều nội dung kiến thức các em đã được học và thực hành khá tốt ở Tiểu học nhưng lên Trung học cơ sở thì lại quên khiến cho các thầy cô phải dành thời gian để khơi gợi lại.
  5. 5 Với lượng kiến thức tăng, phương pháp dạy học và hình thức học tập khác nhau đòi hỏi các em cần phát huy năng lực tự học, tự tìm tòi khám phá ở mức cao hơn. Ở Tiểu học các em quen viết nắn nót trên vở ô ly. Lên lớp 6 với yêu cầu ghi chép nhiều hơn, nhanh hơn trên vở dòng kẻ ngang, học sinh viết không quen nên tốc độ viết chậm, làm giảm cường độ giờ học. Để đảm bảo tốc độ viết, các em bắt đầu viết ngoáy nên chữ viết xấu, thiếu nét, nguệch ngoạc, có em còn lúng túng không biết nên viết gì nên ảnh hưởng đến tâm lý, chất lượng học tập. Nhiều em chưa có thói quen về nhà học bài và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp. Ở nhà, các em chỉ chú trọng đến việc hoàn thành các bài tập, lười học ghi nhớ nên khi học ở Trung học cơ sở, các em diễn đạt những nội dung đã học ở tiểu học còn lúng túng. Trong giải toán ở tiểu học, học sinh luôn chỉ áp dụng công thức để tính mà ít cần lập luận hay chứng minh nên khi học ở Trung học cơ sở, các em thường làm bài thiếu chặt chẽ, lúng túng trong cách trình bày bài giải cần có phần lập luận. Quan trọng nhất là sự thay đổi về phương pháp dạy- học: Trong các tiết học ở tiểu học, các em được thầy cô tổ chức nhiều hoạt động với nhiều hình thức dạy học phong phú rất thu hút. Nhưng khi lên Trung học cơ sở, phương pháp dạy học chủ yếu là vấn đáp, nêu và giải quyết vấn đề, luyện tập thực hành,...Với nội dung bài dài hơn, kiến thức nặng hơn, các em vừa phải nghe giảng vừa phải biết chọn lọc ý nào là chính để tự ghi lại. Ở Trung học cơ sở, mỗi thầy cô dạy 1 môn nên xong 1 tiết (45 phút) là thầy cô sang lớp khác dạy, các em cũng chuyển sang môn học mới nên các hoạt động phải khẩn trương, gọn gàng. Vào lớp 6, mỗi môn học thường có 1 giáo viên giảng dạy, vì vậy các em được học với nhiều thầy cô. Mỗi thầy, cô có cách trình bày, phương pháp dạy học khác nhau nên cách dạy của mỗi thầy cô cũng tác động lớn vào việc hình thành phát triển trí tuệ, cách lập luận của các em. Cách đánh giá kết quả học tập cũng có nhiều thay đổi: Ở lớp 5 học sinh đánh giá theo Thông tư 22 trong quá trình học tập, giáo viên chủ yếu đánh giá, nhận xét, không chấm bài; một năm học chỉ kiểm tra định kỳ 4 giai đoạn gồm: Giữa kì 1, Cuối học kì 1; Giữa kì 2 và cuối năm học. Còn lên lớp 6 số bài kiểm tra với thời gian làm bài khác nhau sẽ nhiều hơn do vậy sẽ có sự thắc mắc ở phía chính các em và ở phụ huynh. Ở Tiểu học được đánh giá hoàn thành xuất sắc nội dung học tập và rèn luyện nhưng khi mới bước lên học lớp 6 đã nhận được sự phản ánh là tiếp thu chậm, học lực trung bình, không tập trung
  6. 6 Ngoài ra, mấy năm học vừa qua, do dịch bệnh COVID-19, học sinh phải học chương trình cốt lõi, thời lượng cho luyện tập thực hành, ôn tập ít; các hoạt động trải nghiệm và hoạt động ngoài giờ lên lớp ít được quan tâm nên kỹ năng của các em có phần hạn chế hơn những năm trước đây. => Với thực trạng và nguyên nhân trên, tôi thấy việc dạy và học của học sinh lớp 5 cần phải thay đổi, có phương pháp thích hợp, các em lên lớp 6 thích ứng kịp thời, gặp ít khó khăn để bắt kịp với yêu cầu mới của cấp học mới. Trước khi nghiên cứu đề tài này và trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã khảo sát chất lượng đầu năm của các lớp 5, kết quả khảo sát như sau: Kết quả Học sinh hào Học sinh chưa hào Học sinh chán Số học Lớp hứng, thích thú hứng, chưa sẵn sàng nản, lo lắng khi sinh khi chuyển cấp. khi chuyển cấp. chuyển cấp. SL % SL % SL % 5C 39 8 20,5% 16 41,1% 15 38,4% 5D 37 6 16,2% 18 48,7% 13 35,1% 5G 38 7 18,5% 17 44,7% 14 36,8% Từ thực trạng và nguyên nhân trên trên, tôi nhận thấy đa phần học sinh chưa chuẩn bị tâm thế sẵn sàng, chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu mới để bước vào lớp 6 – lớp học đầu tiên của bậc Trung học cơ sở nên tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học lớp 5 và giúp học sinh có tâm thế tốt khi chuyển cấp như sau: III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: 1. Tìm hiểu, nghiên cứu chương trình hiện hành, bổ sung những kiến thức có trong chương trình GDPT 2018 giúp học sinh thích ứng khi chuyển cấp. Để đảm bảo HS lớp 5 nắm chắc kiến thức môn học, cấp học; tôi thực hiện nghiêm túc, linh hoạt việc dạy học các môn học theo tinh thần Công văn 3969/BGDĐT; Điều chỉnh, bổ sung một số nội dung dạy học theo hướng dẫn của Công văn 3799/BGDĐT - GDTH ngày 01/9/2021 của Bộ GDĐT về việc thực hiện kế hoạch giáo dục đối với lớp 5 đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT 2018.
  7. 7 Tôi đã nghiên cứu, rà soát lại chương trình hiện hành; tìm hiểu, so sánh với chương trình mới ở từng môn học. Đồng thời, kết hợp với yêu cầu của tổ chuyên môn, bổ sung những nội dung kiến thức có trong chương trình 2018 nhưng không có trong chương trình hiện hành; tinh giản những nội dung kiến thức có trong chương trình hiện hành nhưng không có trong chương trình 2018; điều chỉnh cách tiếp cận, yêu cầu cần đạt đối với những nội dung kiến thức có cả trong hai chương trình. Lập kế hoạch dạy học cụ thể, sát thực, dạy – học theo đúng kế hoạch đảm bảo yêu cầu cần đạt để chuẩn bị tốt về mặt kiến thức cho học sinh. Cụ thể tập trung chính ở môn Toán và môn Tiếng Việt: 1. 1. MÔN TOÁN: 1.1.1. Về số học: - Đọc, viết phân số thập phân, hỗn số, số thập phân. - So sánh các hỗn số, số thập phân. - Chuyển từ hỗn số về phân số, về số thập phân và ngược lại. - Thực hiện các phép tính với số thập phân, biết tìm giá trị của số dư trong phép chia số thập phân. *Nội dung lược bỏ: thực hiện các phép tính với hỗn số. 1.1.2. Về đại lượng và đo lường: - Giới thiệu, cung cấp kiến thức cho học sinh để hoàn thiện bảng đơn vị đo diện tích, học các đơn vị đo thể tích cm3, dm3, m3 - Viết các số đo độ dài, khối lượng, diện tích, thể tích, thời gian dưới dạng số thập phân. * Bổ sung thêm nội dung: Mi-li-lít; Đơn vị đo nhiệt độ, thực hành đo nhiệt độ, Đơn vị đo góc. Ví dụ như: - Khi dạy bài: “ Ôn tập về đo diện tích và đo thể tích (tiếp) (Toán 5 – tiết 148)” tôi đã giới thiệu cho học sinh thêm về đơn vị đo dung tích: mi – li – lít. + Tôi cho học sinh quan sát vỏ hộp sữa, vỏ lon nước ngọt và yêu cầu các em đọc số đơn vị đo trên đồ vật đó (hộp sữa milo ghi: 180ml; lon nước ngọt ghi 350ml ). Tôi giới thiệu cho HS đo là đơn vị đo dung tích: mi – li – lít. + Mi – li – lít viết tắt là: ml. Mi – li – lít là đơn vị nhỏ hơn lít (1 ml hay còn gọi là 1cc. Tôi đưa dụng cụ trực quan: xilanh để giới thiệu cho HS về cc). + 1l = 1000ml hay 1ml = 0,001l.
  8. 8 - Khi dạy bài: “ Ôn tập về tính chu vi, diện tích một số hình” (Toán 5 – tiết 159)” tôi đã cho học sinh làm quen với đơn vị đo góc : độ (0). + Tôi đưa ra tình huống góc của một hình tam giác nhọn và cần đo góc của góc đó. Sau đó tôi giới thiệu về đơn vị đo góc: độ (0). + Đơn vị đo góc thường dùng là: độ - kí hiệu (0). 1 độ kí hiệu là 10. + Dụng cụ để đo góc ta sử dụng: Thước đo độ (đưa ra thước.) 1.1.3. Về hình học: - Nhận biết hình thang, hình hộp chữ nhật, hình lập phương, hình trụ, hình cầu và một số dạng của hình tam giác; - Biết tính chu vi, diện tích hình tam giác, hình tròn, tính diện tích hình thang; - Biết tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương. * Điều chỉnh: giảm bớt một số bài về tính diện tích hình phức tạp (phải chia thành nhiều hình nhỏ), tăng thời lượng tiết học bài hình tam giác, hình tròn để học sinh vẽ được đường cao hình tam giác, vẽ đường tròn. 1.1.4. Về giải toán có lời văn: Biết giải và trình bày bài giải các bài toán có đến 4 bước tính trong đó có: - Các dạng bài toán về tỉ số phần trăm: tìm tỉ số phần trăm của hai số, tìm giá trị một số phần trăm của một số cho trước. - Các bài toán có nội dung hình học liên quan đến các hình đã cho. - Giải các bài toán về chuyển động đều: tìm quãng đường, thời gian, vận tốc. * Nội dung lược bỏ: + Không dạy dạng toán quan hệ tỉ lệ (tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch) + Không dạy dạng 3 của bài toán tỉ số phần trăm: tìm một số khi biết giá trị phần trăm của nó. + Không dạy bài toán về chuyển động cùng chiều, chuyển động ngược chiều. 1.1.5. Một số yếu tố thống kê: - Biết đọc các số liệu trên biểu đồ hình quạt; - Bước đầu biết nhận xét về một số thông tin đơn giản thu thập từ biểu đồ. * Điều chỉnh: Tăng thời lượng số tiết về yếu tố thống kê (từ 2 tiết thành 5 tiết), bổ sung yêu cầu: Sắp xếp được số liệu vào biểu đồ hình quạt tròn (không yêu cầu học sinh vẽ hình).
  9. 9 1.1.6. Bổ sung chủ đề mới Một số yếu tố xác suất + Sử dụng đúng các từ: không thể, có thể, chắc chắn để mô tả khả năng xảy ra. + Sử dụng được tỉ số để mô tả số lần lặp lại của một khả năng xảy ra (nhiều lần) của một sự kiện trong một thí nghiệm so với tổng số lần thực hiện thí nghiệm đó ở những trường hợp đơn giản. 1.2. MÔN TIẾNG VIỆT: 1.2.1. Tập đọc - Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc, nghe và nói. Củng cố, phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm với tốc độ nhanh hơn, đồng thời nâng cao thêm một bước về kĩ năng đọc diễn cảm (thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự việc, hình ảnh, cảm xúc, tính cách nhân vật trong bài). Biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý. - Phát triển kĩ năng đọc – hiểu văn bản: Nhận biết được đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách,... để hiểu ý nghĩa của bài và phát hiện một vài giá trị nghệ thuật trong một số bài văn, bài thơ. - Mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên, xã hội, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cho học sinh. Bổ sung: Thêm một số câu hỏi mở ở phân môn Tập đọc để học sinh nêu được cảm nghĩ, cảm nhận và có cơ hội trình bày ý kiến của cá nhân mình trước một văn bản, một nội dung mình quan tâm. Ví dụ: Trong một số bài tập đọc như: + Khi dạy bài: Thư gửi các học sinh ( TV5 – T1 – Tr4,5), sau phần đọc diễn cảm, tôi bổ sung thêm yêu cầu cho học sinh: “ Hãy tìm đọc thêm các câu chuyện về Bác Hồ và ghi những hiểu biết của mình về câu chuyện đó vào sổ tay”. + Khi dạy bài: Buôn Chư Lênh đón cô giáo ( TV5 – T1 – Tr144), phần dặn dò tôi thêm yêu cầu cho học sinh: “ Em hãy tóm tắt lại câu chuyện đã đọc” Ngay từ đầu năm học, tôi đã cùng các cô giáo trong tổ nghiên cứu công văn 3799 và đưa những nội dung bổ sung này vào kế hoạch bài dạy cũng như thực hiện giảng dạy cho học sinh trên lớp. Điều này giúp các em làm quen hơn với phương pháp học tập khi học lớp 6 – Trung học cơ sở. 1.2.2. Chính tả Các bài chính tả trong SGK Tiếng Việt 5 có nhiệm vụ dạy cho HS kĩ năng viết đúng chính tả (không mắc quá 5 lỗi/1 bài), đạt tốc độ viết trung bình khoảng 90 chữ/15 phút, kết hợp cung cấp kiến thức về cách viết tên người, tên địa lí
  10. 10 Việt Nam và nước ngoài, thông qua 2 loại bài: *Chính tả đoạn, bài Hình thức: nghe − viết (23 bài chiếm 74%) và nhớ − viết (8 bài chiếm 26%). Độ dài các văn bản viết dao động khoảng 90 − 110 chữ. * Chính tả âm, vần Ôn các bộ phận của vần, cách đánh dấu thanh trên phần vần. Ôn tập quy tắc viết c/k, g/gh, ng/ngh; phân biệt âm đầu l/n, s/x, tr/ch, r/d/gi, Ôn tập các quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam và tên người, tên địa lí nước ngoài; luyện viết hoa tên riêng tổ chức, danh hiệu, giải thưởng, huân chương,... Bổ sung: Một số trường hợp viết hoa danh từ chung để thể hiện sự tôn kính đặc biệt. Giảm chính tả đoạn bài (Nghe-viết) ở Học kì II. Bổ sung thêm hoạt động nghe – ghi trong giáo án và thực dạy ở các bài Chính tả. Ví dụ như: + Khi dạy bài: Chính tả: “Việt Nam thân yêu; “ Anh bộ đội cụ Hồ gốc Bỉ”; hay bài “ Người mẹ của 51 đứa con” ., tôi đã giảng cho các em về nội dung đoạn viết chính tả sau đó yêu cầu học sinh tự ghi nội dung mà mình hiểu vào vở. Sau đó tôi sẽ kiểm tra vở của 5-7 em để biết được các em viết như thế nào. Tôi kịp thời đóng góp ý kiến với các em, giúp cho các em chỉnh sửa vào những bài sau nếu có. 1.2.3. Luyện từ và câu *Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ ngữ theo chủ điểm (bao gồm từ Hán Việt, thành ngữ, tục ngữ). *Nghĩa của từ: 11 tiết Cung cấp một số kiến thức sơ giản về các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa và cách thức sử dụng các lớp từ này. Cụ thể là: Từ đồng nghĩa; Từ trái nghĩa; Từ đồng âm; Từ nhiều nghĩa. *Từ loại: 5 tiết Cung cấp một số kiến thức sơ giản về hai từ loại có tính chất từ công cụ trong hoạt động giao tiếp của người Việt và luyện tập sử dụng hai loại từ này. Cụ thể là: Đại từ: 2 tiết (tuần 9: 1 tiết, tuần 11: 1 tiết); Quan hệ từ: 3 tiết (tuần 11, 12, 13). *Câu: 4 tiết Cung cấp kiến thức sơ giản về câu ghép: Khái niệm câu ghép; Cách nối các vế câu ghép; Nối các vế của câu ghép bằng quan hệ từ và bằng cặp từ hô ứng.
  11. 11 * Ngữ pháp văn bản: 4 tiết Phần này cung cấp các kiến thức sơ giản về 3 phương thức liên kết câu cơ bản: Liên kết các câu trong bài bằng cách lặp từ ngữ; Liên kết các câu trong bài bằng cách thay thế từ ngữ; Liên kết các câu trong bài bằng từ ngữ nối. * Ôn tập Phân môn Luyện từ và câu lớp 5 có phần hệ thống hoá tất cả các nội dung về từ và câu mà HS được học ở cấp Tiểu học. Cụ thể là: Ôn tập về từ loại (1 tiết); Ôn tập về từ và cấu tạo từ (3 tiết); Ôn tập về câu (1 tiết); Ôn tập về dấu câu (8 tiết). Bổ sung: Giới thiệu biện pháp điệp từ, điệp ngữ (tích hợp qua việc tìm hiểu bài đọc). Giảm bớt nội dung về dấu chấm, chấm hỏi, chấm than, dấu hai chấm, dấu phẩy, dấu ngoặc kép. Ví dụ: Khi dạy bài: Tập đọc: “ Sắc màu em yêu” ( TV5 – T1 – Tr20), tôi đã lồng ghép đưa vào kế hoạch bài dạy và thực hiện giảng dạy trên lớp để giới thiệu về điệp từ, điệp ngữ có trong bài. + Tôi đã hỏi học sinh: Từ nào được lặp lại nhiều lần trong bài thơ? + Học sinh dễ dàng trả lời: Từ: “em yêu màu ” . Sau đó, tôi đã dẫn dắt giới thiệu cho học sinh nhận biết công dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ trong bài như sau: “ Cụm từ “ em yêu màu ” được lặp lại 7 lần trong 7 khổ thơ đó chính là biện pháp điệp từ. Điệp từ là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh, mở rộng ý gây ấn tượng, gợi ra những cảm xúc trong lòng người nghe, người đọc. Đó là tình yêu quê hương, đất nước của tác giả. Sau khi được giới thiệu về biện pháp điệp từ, điệp ngữ học sinh cũng đã biết, hiểu cách dùng điệp từ, điệp ngữ. Ở các bài tập đọc tiếp theo học sinh dễ dàng phát hiện ra biện pháp điệp từ, điệp ngữ dùng trong bài (nếu có). Khi được hỏi đến các em cũng hiểu và nêu được tác dụng của điệp từ, điệp ngữ ở các bài tập đọc như: “ Mùa thảo quả” có điệp từ: thơm, hương; hoặc bài “ Hạt gạo làng ta” có điệp từ : hạt gạo làng ta . Việc giới thiệu thêm cho học sinh về biện pháp điệp từ, điệp ngữ cũng như kết hợp với các biện pháp khác để các em nắm bắt được các giá trị nghệ thuật, cảm xúc mà tác giả thể hiện bằng các biện pháp tu từ. Từ đó các em hiểu vẻ đẹp của các biện pháp tu từ là yếu tố cốt lõi để học sinh cảm thụ sâu sắc hơn về các tác phẩm thơ, văn giúp các em có cơ sở lên các bậc học tiếp theo.