Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy và học Tiếng Việt 4 tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy và học Tiếng Việt 4 tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_tao_hung_thu_cho_hoc.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy và học Tiếng Việt 4 tiếp.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy và học Tiếng Việt 4 tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018
- cần được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV. Có như vậy, việc dạy học mới thực sự có hiệu quả. Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt có vị trí vô cùng quan trọng, giúp học sinh có được những kĩ năng trong việc sử dụng ngôn ngữ để tiếp tục học tập và trưởng thành trong cuộc sống. Tuy nhiên, hiệu quả dạy học Tiếng Việt ở tiểu học chưa thật cao. Nhiều em học sinh còn lúng túng trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt, viết câu. Kĩ năng đọc của các em, đặc biệt là đọc diễn cảm còn rất hạn chế hay vốn từ của học sinh còn rất nghèo nàn. Thực tế cho thấy nhiều học sinh tiểu học không có hứng thú trong học tập, đặc biệt đối với môn Tiếng Việt. Với các em, môn học này “không hấp dẫn” vì phải viết quá nhiều, phải nghe quá nhiều”. Điều này được xem như là một nguyên nhân cơ bản của việc suy giảm chất lượng dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Bên cạnh đó, trước áp lực về thi cử, lượng kiến thức quá lớn mà học sinh cần phải nắm được, nhiều giáo viên luôn cảm thấy căng thẳng, dạy học theo kiểu “nhồi nhét” để hoàn thành nội dung, mục tiêu bài học dẫn đến học sinh không còn hứng thú và kết quả học tập không cao. Trong Chương trình GDPT 2018, một trong những mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. Việc học sinh có hứng thú đối với môn học không chỉ giúp các em hoàn thành mục tiêu, yêu cầu cần đạt mà còn góp phần quan trọng trong việc hình thành năng lực tự học, giải quyết vấn đề; là tiền đề để các em có thể tiếp tục học ở các cấp học cao hơn. Tiếng Việt lớp 4 được đánh giá là một trong những môn học khó, với lượng kiến thức khá “nặng”, nhiều khái niệm trừu tượng đối với học sinh. Nếu người 2
- giáo viên không khéo léo thay đổi phương pháp, hình thức dạy học rất dễ dẫn đến tình trạng học sinh chán nản vì không hiểu bài, vì không làm được bài Từ những vấn đề trên, là một giáo viên tham gia giảng dạy nhiều năm, tôi luôn trăn trở làm thế nào để học sinh yêu thích môn Tiếng Việt, chủ động học tập môn học này, tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiên sau: “Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong dạy và học Tiếng Việt 4 tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018” B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP I. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1. Về phía giáo viên - Nắm vững quy trình dạy học các phân môn của Tiếng Việt. Với một một phân môn đều vận dụng các phương pháp phù hợp với dặc thù của môn học, kiểu bài cụ thể. - Trong những năm gần đây, giáo viên đã quan tâm nhiều hơn tới các nội dung dạy học có yếu tố thực tiễn, những nội dung kiến thức mang đậm yếu tố ứng dụng trong thực tế cuộc sống. Đối với mô hình trường tiểu học mới VNEN đã có nội dung Hoạt động ứng dụng. Đây là một hoạt động rất tốt giúp cho học sinh bước đầu có khái niệm vận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế cuộc sống. - Bên cạnh đó, các nội dung học tập cũng đã dần được quan tâm với những nội dung kiến thức xuất phát từ thực tiễn, nhằm mục đích giải quyết các vấn đề có thật xung quanh cuộc sống của các em học sinh. Đây chính là những tín hiệu rất tích cực, mang lại hiệu quả rõ nét trong quá trình dạy và học tại các nhà trường. - Do lượng kiến thức của phân môn Luyện từ và câu; Tập làm văn của lớp 4 khá nặng nên giáo viên thường tập trung thời gian vào 2 môn học này. Các phân môn Kể chuyện, Chính tả thường được dạy qua loa hoặc để học sinh tự đọc truyện, tự viết chính tả. - Việc thay đổi hình thức dạy học; đổi mới phương pháp dạy học không được tổ chức thường xuyên; thường chỉ trong các tiết thao giảng hay có người 3
- dự giờ. Một phần do thời lượng của tiết học không đủ, một phần do việc chuẩn bị cho các tiết mất nhiều thời gian trong khi lượng công việc của mỗi giáo viên lại khá nhiều. - Giáo viên quá nghiêm khắc, thiếu tin tưởng ở học sinh dẫn đến tậm lí nặng nề của cả thầy và trò trong giờ học. 2. Về phía học sinh - Học sinh còn thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức, phụ thuộc quá nhiều vào các thầy cô giáo. - Khả năng nhận thức của học sinh không đồng đều trong các lớp học. Có em nhận thức tốt, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong một thời gian ngắn nhưng cũng có những em lại làm bài rất chậm, đòi hỏi giáo viên phải mất nhiều thời gian để giúp học sinh hiểu bài. - Các em bị ảnh hưởng nhiều từ các thiết bị thông minh, các chương trình truyền hình hay các bộ phim hoạt hình nên hứng thú với việc học tập bị hạn chế. - Vốn sống của các em còn hạn chế nên giáo viên khó khai thác khi muốn đổi mới phương pháp dạy học. - Học sinh không hứng thú với môn học do các em không hiểu bài, ngại viết vì phải viết nhiều II. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 1. Giúp học sinh hiểu, xác định được mục tiêu, lợi ích của bài học Hứng thú là một thuộc tính tâm lí mang tính đặc thù cá nhân. Hứng thú có tính lựa chọn. Đối tượng của hứng thú chỉ là những cái cần thiết, có giá trị, có sức hấp dẫn với cá nhân. Học sinh sẽ cảm thấy hứng thú với môn học, bài học nếu cá em thấy được lợi ích của việc học bài đó, môn học đó. Vì thế, việc xác định mục tiêu bài học là vô cùng cần thiết. Căn cứ vào mục tiêu, người giáo viên có thể lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp dạy học phù hợp. Một bài học không có mục tiêu chẳng khác nào dẫn các em học sinh vào một khu rừng rậm mà chưa biết phải đi đâu, làm gì.Trong dạy học, nếu không có mục tiêu xác định, sẽ không có bất kì cơ sở nào để lựa chọn nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và càng không thể đánh giá được hiệu quả, giá trị của một bài giảng, 4
- môt khóa giảng hay cả một chương trình. Tuy nhiên, hiện nay, việc xác định mục tiêu phần lớn đang là của giáo viên nên việc xác định mục tiêu này vẫn chưa thật sự tạo được hứng thú cho học sinh. Để giúp các em hiểu được mục đích thực sự của mỗi bài học, tôi thường tạo cơ hội để học sinh chủ động, tự mình xác định được mục tiêu. Để làm được điểu này, tôi đã hướng dẫn các em làm thế nào để xác định mục tiêu, mục tiêu thế nào là phù hợp. Một mục tiêu bài học phải đảm bảo nguyên tắc SMART: 1. Thứ nhất: Specific (cụ thể) 2. Thứ hai: Mesurable (có thể đo được) 3. Thứ ba: Attainable (có thể đạt được) 4. Thứ tư: Relevant (liên quan/phù hợp) 5. Thứ năm: Time-bound (giới hạn thời gian) Thời gian đầu, cô trò cùng nhau thảo luận để xá định mục tiêu. Khi các em đã quen, tôi để các em xác định mục tiêu theo nhóm. Như vậy, căn cứ vào năng lực mỗi nhóm, các em có thế xây dựng được mục tiêu phù hợp. Để xác định được mục tiêu đó, trước hết các em phải đọc trước bài học đó, ghi lại những băn khoăn, mong muốn của mình ở bài học và trao đổi cùng nhau. VD1: Khi xác định mục tiêu cho bài tập đọc “Những hạt thóc giống”- SGK TV4/46, các em đã xác định như sau: Nhóm 1: - Đọc trôi chảy bài tập đọc, không bị vấp, sai quá 1 từ - Đọc đúng giọng của chú bé Chôm và nhà vua. Nhấn giọng các từ ngữ cần thiết. - Hiểu các từ: truyền ngôi, dốc công, hiền minh, trung thực - Hiểu được ý nghĩa câu truyện: trung thực là đức tính quý nhất của con người. Từ đó biết sống trung thực. Nhóm 2: - Đọc to, rõ ràng bài tập đọc 5
- - Đọc đúng giọng của chú bé Chôm và nhà vua. - Hiểu các từ: truyền ngôi, nô nức, ôn tồn - Hiểu được ý nghĩa câu truyện: ca ngợi trung thực là đức tình quý nhất của con người. VD2: Khi xác định mục tiêu cho bài MRVT chủ đề “Trung thưc – Tự trọng” - SGK TV4/48, các em đã xã định như sau: Nhóm 1: - Biết ít nhất 5 từ đồng nghĩa và trái nghĩa với trung thực. - Hiểu thế nào là trung thực, tự trọng - Đặt câu với các từ thuộc chủ để Trung thực Nhóm 2: - Biết ít nhất 3 từ đồng nghĩa và trái nghĩa với trung thực. - Hiểu thế nào là trung thực, tự trọng - Đặt câu với các từ thuộc chủ để Trung thực Sau khi đã xác định được mục tiêu, các em sẽ chủ động tiếp thu bài học và cuối giờ, mỗi nhóm lại cùng nhau đánh giá lại mục tiêu của nhóm mình xem nhóm đã đạt được mục tiêu chưa. Nếu chưa, các thành viên trong nhóm sẽ hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành mục tiêu này. Với cách làm này, hoc sinh hiểu rằng mục tiêu đó là của các em, phụ thuộc nào khả năng của mỗi nhóm nên sẽ đưa ra mục tiêu phù hợp với năng lực của nhóm mình. Nhờ đó, các em sẽ không cảm thấy quá áp lực và thấy mình phải có trách nhiệm với mục tiêu đề ra. Ngoài việc xác định mục tiêu chung cho toàn bài học, với mỗi bài tập nhỏ, tôi lại cùng các em đưa ra các mục tiêu cụ thể hơn. Nhờ đó mà hứng thú của các em cũng được duy trì suốt buổi học. VD: Với bài tập 1 trang 79 sách Tiếng Việt lớp 4 tập 1, các em đưa ra mục tiêu: - Tìm được các tên riêng viết sai chính tả. - Viết lại đúng các tên đó theo quy tắc 6
- Bên cạnh đó, hứng thú của học sinh sẽ có được khi các em hiểu “Tại sao phải học bài đó, kiến thức đó”. Vì thế, trong các giờ học, với mỗi bài học cụ thể, tôi thường đưa các kiến thức thực tế để học sinh hiểu vai trò và ý nghĩa của Tiếng Việt trong cuộc sống, nhận ra lợi ích của kiến thức trong cuộc sống của chính các em. VD: Khi cho các em viết chính tả, nhiều em viết rất xấu. Tôi đã kể cho các em nghe câu chuyện Cao Bá Quát giúp bà cụ viết đơn kiện nhưng vì chữ xấu nên không thành công để các em thấy được ý nghĩa của việc luyện chữ. Hay cũng là các tiết chính tả, để các em thấy được ý nghĩa của việc viết chữ cẩn thận, tôi kể thêm các câu chuyện liên quan đến các bài thi của HS. Bài viết không cẩn thận, giám khảo không đọc được nên bị điểm kém Nhiều em thắc mắc sau này dùng máy tính rồi, không cần viết tay nữa. Tôi đưa ra những tinh huống buộc phải dùng chữ viết tay. Bên cạnh đó, tôi cũng không quên giới thiệu cho các em những bài viết chữ đẹp để làm động lực cho các em luyện viết. Hứng thú của học sinh cũng được khơi dậy từ việc các em hiểu cái hay, cái đẹp của một từ, một câu, một biện pháp nghệ thuật hay từ ý nghĩa câu chuyện. Chẳng hạn: Tiếng hót của chim chiền chiện không phải “ríu rít”, “thánh thót” mà “ngọt ngào”, “long lanh”, “chan chứa” thì mới gây ấn tượng. Tại sao lại so sánh Trái đất với “quả bóng xanh”; tại sao hoa sầu riêng nở “tím ngát” chứ không phải chỉ “tím ngắt” hay “ngan ngát”. ..Vì thế, trong mỗi giờ dạy, tôi thường lồng vào đó những câu hỏi, những gợi mở để các em cảm nhận rõ ý nghĩa của mỗi từ ngữ, mỗi tín hiệu nghệ thuật. Ngoài ra, tôi cũng hay kể cho các em nghe những mẩu chuyện lí thú về Tiếng Việt để các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp từ đó có ý thức hơn trong việc học Tiếng Việt. VD: Từ 5 từ: sao, nó, không, bảo, đến, các em sẽ săp xếp để tạo thành những câu khác nhau. Và kết quả thật bất ngờ, các em có thể xếp được gần 30 câu khác nhau: + Sao bảo nó không đến. + Sao nó bảo không đến 7
- + Sao nó đến không bảo. + Sao đến nó không bảo. + Bảo sao nó không đến. + . Hay cũng với cụm từ: BÚN CHẢ NGON; các em có thể hiểu theo các cách khác nhau: + Bún chả (tên một món ăn) ngon + Bún không ngon. 2. Điều chỉnh nội dung học tập gần gũi, phù hợp với tâm lí học sinh 2.1. Điều chỉnh các nội dung trong sách giáo khoa hiện hành Nội dung dạy học có vai trò quan trọng trong việc định hướng cách dạy của giáo viên. Môn Tiếng Việt bao gồm nhiều phân môn với những mảng kiến thức, kĩ năng khác nhau. Để điều chỉnh nội dung dạy học, tôi đã chủ động điều chỉnh lệnh của các bài tập cũng như ngữ liệu của các bài học. Trong Tiếng Việt có hiện tượng “chuyển từ loại”. Cùng một từ những trong trường hợp này là danh từ nhưng trong trường hợp khác lại có thể là tính từ, động từ. Vì thế, khi dạy học, tôi chủ động đưa ra những tình huống để giúp các thấy sự phong phú của Tiếng Việt. VD: Xác định từ loại của từ Việt Nam trong câu: - Việt Nam là quê hương tôi. - Anh ấy là người nước ngoài nhưng lại có một tâm hồn rất Việt Nam. Trong câu thứ nhất, Việt Nam là danh từ nhưng trong câu thứ 2, Việt Nam lại là tính từ. Để xác định được từ loại của hai từ “Việt Nam” trong ví dụ trên thì các em cần phải nắm được khả năng kết hợp của danh từ, tính từ với các từ ngữ khác. Nếu GV không điều chỉnh ngữ liệu thì HS rất dễ bị nhầm lẫn trong trường hợp này. 8
- Khi dạy bài “Danh từ” – SGK Tiếng Việt 4 trang 52, trong phần Nhận xét có đưa ra yêu cầu: Tìm các từ chỉ sự vật trong đoạn thơ sau. Mang theo truyện cổ tôi đi Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi Đời cha ông với đời tôi Như con sông với chân trời đã xa Chỉ còn truyện cổ thiết tha Cho tôi nhận mặt ông cha của mình. Lâm Thị Mỹ Dạ Tuy nhiên tôi nhận thấy yêu cầu này khá khó đối với học sinh và không thật cần thiết để hình thành khái niệm “Danh từ”, vì thế, tôi đã điều chỉnh yêu cầu, không sử dụng ngữ liệu của SGK mà chỉ yêu cầu học sinh tìm các từ chỉ sự vật theo các nhóm: Từ chỉ người Từ chỉ đồ vật Từ chỉ cây cối Từ chỉ con vật Từ chỉ hiện tượng Với yêu cầu này, HS dễ dàng vận dụng kiến thức đã học ở lớp dưới để hoàn thiện. Từ đó, GV mới khái quát thành tên gọi Danh từ. Nhờ đó, khái niệm danh từ không còn quá trừu tượng đối với học sinh. Mục tiêu của dạy miêu tả cây cối là HS viết được bài văn tả cây cối. Vì thế, cũng có khi, để các em hiểu một bài văn miêu tả cây cối cần làm gì, thay vì dạy theo đúng tuần tự các tiết trong SGK, tôi đã gộp miêu tả cây cối thành chủ đề. Tiết đầu tiên, thay vì tìm hiểu SGK, tôi yêu cầu các em vẽ bất kì một cái cây em thích. Có em vẽ cây hoa, có em vẽ cây ăn quả, có em vẽ cây bóng mát. Có em chỉ vẽ 1 cây, có em vẽ cả các cây xung quanh, có em vẽ cả mặt trời, ong bướm Từ những bức tranh như thế của học sinh, tôi mới đặt câu hỏi để các em hình dung miêu tả cây cối là miêu tả các bộ phận của cây, các sự vật liên quan đến cây (nắng, gió, ong bướm, con người ) để làm nổi bật vẻ đẹp của cây. Có cây đứng một mình, có cây đứng cùng các cây khác. Sau khi HS hiểu như thế, tôi mới đi vào dạy cấu tạo của bài văn cụ thể. 9
- Khi dạy bài “Cấu tạo của bài văn miêu tả cây cối”, nhận thấy ngữ liệu trong phần nhận xét không thực sự điển hình cho cấu tạo một bài văn miêu tả cây cối, không sát với phần kết luận mà SGK đưa ra nên tôi đã lựa chọn một ngữ liệu khác rõ ràng giúp học sinh dễ hiểu, dễ hình dung và có sự thống nhất cùng với các bài học tiếp theo và đặc biệt là tiếp cận được chương trình giáo dục phổ thông 2018. ( Bài viết 1 – bài 3: Như măng mọc thẳng – Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 tập 1, Bộ Cánh diều) 10
- Sân trường của em luôn ngập tràn bóng mát của nhiều loài cây khác nhau như cây phượng, cây bằng lăng Nhưng có lẽ loài cây em yêu thích nhất là cây bàng. Cây bàng được trồng ngay trước cửa lớp em. Em không biết cây có từ bao giờ, chỉ được nghe thầy hiệu trưởng kể lại rằng nó đã có từ rất lâu rồi từ những ngày đầu trường mới được thành lập. Gốc bàng rất to.Thân cây sần sùi màu nâu sẫm vòng tay em ôm không xuể. Phía trên thân là những cành cây đan cài vào nhau tạo thành một chiếc ô khổng lồ che mát một khoảng sân trường. Lá bàng hình bầu dục. Xuân tới lá bàng xanh non màu nõn chuối, bóng nhẫy. Hè tới,lá bàng xanh đậm hơn, dày hơn. Những chùm hoa trắng ngà phơi mình trên những tán lá. Nhưng chỉ sau một thời gian những chùm hoa ấy đã được thế chỗ bởi những quả bàng dẹt, nhọn đầu màu vàng tươi. Mùa thu sang,lá bàng chuyển từ màu xanh sang màu đỏ. Mùa đông những cơn gió thổi qua làm những chiếc lá lìa cành để lại những cành cây trơ trụi, gầu guộc mày nâu xám. Trên cành cây lúc này chỉ còn lại một vài chiếc lá đỏ vẫy vẫy trong cơn gió lạnh. Vào những giờ ra chơi em thường cùng bạn bè ngồi dưới tán cây bàng kể cho nhau nghe những câu chuyện cười, cùng nhau chơi đuổi bắt, nhảy dây. Cây bàng đối với em như một người bạn thân thiết. Nó không chỉ che bóng mát mà còn chứa đựng những kỉ niệm của tuổi học trò. Em rất yêu cây bàng. Hay khi dạy tiết “Luyện tập về từ ghép và từ láy”- SGK Tiếng Việt 4 tập 1 trang 43, ở bài tập 3: Xếp các từ láy trong đoạn văn sau vào nhóm thích hợp : Cây nhút nhát Gió rào rào nổi lên. Có một tiếng động gì lạ lắm. Những chiếc lá khô lạt xạt lướt trên cỏ. Cây xấu hổ co rúm mình lại. Nó bỗng thấy xung quanh lao xao. He hé mắt nhìn: không có gì lạ cả. Lúc bấy giờ nó mới mở bừng những con mắt lá và quả nhiên không có gì lạ thật. Theo TRẦN HOÀI DƯƠNG a) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở âm đầu. b) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở vần. c) Từ láy có hai tiếng giống nhau ở cả âm đầu và vần. Với yêu cầu của bài tập, học sinh có thể xếp các từ láy vào các nhóm tuy nhiên, các em chưa hiểu được giá trị, ý nghĩa của từ láy nên sẽ cảm thấy đây chỉ là một bài tập đơn thuần. Trong khi đó, từ láy lại có giá trị gợi tả, gợi cảm rất 11
- cao, hiểu được ý nghĩa, vai trò của từ láy, học sinh dễ dàng vận dụng, sử dụng từ láy trong việc viết câu văn sinh động. Vì thế, ngoài yêu cầu của SGK, tôi thường yêu cầu các em nói rõ mỗi từ láy đó giúp em hình dung được gì, gợi tả gì?... VD: từ rào rào, lạt xạt, lao xao đều là các từ gợi tả âm thanh + rào rào: từ mô phỏng những tiếng động xen lẫn vào nhau đều đều, liên tiếp + lạt xạt: Từ mô phỏng tiếng động va vào nhau, nghe không rõ, thường là của những vật khô như lá cây + lao xao: có nhiều âm thanh hoặc tiếng động nhỏ rộn lên xen lẫn vào nhau, nghe không rõ, không đều Với bài “Danh từ chung và danh từ riêng”- SGK Tiếng Việt 4 tập 1 trang 57, ở bài tập 1 phần nhận xét đưa ra bài tập: 1. Tìm các từ có nghĩa như sau : a) Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được. b) Dòng sông lớn nhất chảy qua nhiều tỉnh phía Nam nước ta. c) Người đứng đầu nhà nước phong kiến. d) Vị vua có công đánh đuổi giặc Minh, lập ra nhà Lê ở nước ta. Với câu hỏi b và d, tại thời điểm học bài này, các em khó trả lới vì liên quan đến kiến thức lịch sử, địa lí các em chưa được tìm hiểu. vì thế, tôi đã điều chỉnh bài tập này như sau: Nối câu trả lời phù hợp với câu hỏi: Câu hỏi Đáp án a) Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó Cửu Long thuyền bè đi lại được. b) Dòng sông lớn nhất chảy qua nhiều tỉnh sông phía Nam nước ta. c) Người đứng đầu nhà nước phong kiến. Lê Lợi d) Vị vua có công đánh đuổi giặc Minh, lập vua ra nhà Lê ở nước ta. 12

