Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Lớp 5

docx 24 trang Chăm Nguyễn 29/05/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_huy_tinh_tich_cu.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Lớp 5.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử Lớp 5

  1. 1/19 PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài: Trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học, môn học Lịch sử hay như những môn học khác có vai trò tác động đến con người không chỉ trí tuệ mà còn cả về tư tưởng tình cảm. Môn học Lịch sử góp phần xây dựng con người phát triển hoàn thiện về “Đức - Trí - Thể - Mỹ” ở những mức độ khác nhau. Nếu các môn học khác giúp các em thấy được cái hay, cái đẹp để càng yêu quý con người, dân tộc Việt Nam thì thông qua môn học Lịch sử các em không chỉ thấy được quá trình phát triển của đất nước, một dân tộc mà rộng hơn là cả một xã hội loài người. Bên cạnh đó, môn học này còn góp phần bồi dưỡng và phát triển cho học sinh thói quen ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc; tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử văn hóa; góp phần giáo dục và hình thành nên tính cách của một con người trong thời đại mới. Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành và phát triển năng lực”. Để đạt được mục tiêu của nền giáo dục tiên tiến cũng như đáp ứng được quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo, cần phải hướng tới cách dạy theo hướng phát triển năng lực của học sinh, tạo được sự hứng thú trong giờ học thì tiết học mới mang lại hiệu quả cao. Giống như các môn học khác, dạy học Lịch sử cũng phải theo xu hướng đó. Song trên thực tế, học sinh tiểu học phần lớn các em chưa yêu thích và cũng không coi trọng môn học Lịch sử. Vậy làm sao khơi dậy ở các em lòng đam mê, yêu thích môn học nhằm phát huy năng lực học tập tích cực trong giờ học Lịch sử? Chỉ khi thật sự yêu thích môn học các em sẽ không thấy nhàm chán, mà ngược lại cảm thấy thích thú, tích cực tham gia vào hoạt động học tập, chủ động khám phá, tìm tòi việc tiếp thu bài học sẽ diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả. Từ đó, giúp các em có được nền kiến thức vững chắc làm tiền đề cho việc tiếp thu những kiến thức ở những lớp học trên được dễ dàng hơn. Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học, định hướng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về đổi mới giáo dục và thực tế giảng dạy của bản thân, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Lịch sử lớp 5”.
  2. 2/19 2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích tôi chọn nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra: Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn lịch sử lớp 5. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh phát huy năng lực học tập tích cực môn Lịch sử lớp 5. Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 5D của trường Tiểu học Dương Liễu A năm học 2022-2023. 4. Phương pháp nghiên cứu -Phương pháp trò chuyện với giáo viên và học sinh -Phương pháp thu thập và xử lí số liệu -Phương pháp thực nghiệm -Phương pháp điều tra, khảo sát.
  3. 3/19 PHẦN 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Chương trình Lịch sử lớp 5 hiện hành là những sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu được sắp xếp theo trình tự về thời gian, đại diện cho các thời kì lịch sử. Đó là những tri thức khoa học lịch sử, không chứa đựng huyền thoại, truyền thuyết hay phóng tác, hư cấu lịch sử. Đối với học sinh tiểu học, yêu cầu về hiểu lịch sử chỉ ở mức độ sơ đẳng, chủ yếu là xem xét ý nghĩa của các sự kiện của các nhân vật lịch sử đối với xã hội. Nội dung của chương trình môn Lịch sử không chỉ đơn thuần cung cấp cho học sinh một khối lượng tri thức cần thiết mà thông qua các nhân vật và sự kiện lịch sử bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, lòng yêu thiên nhiên, quê hương đất nước; hình thành phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực và trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước. Đồng thời môn học này còn góp phần phát triển về năng lực tư - khoa học, thái độ khám phá, tìm tòi, vận dụng kiến thức được học vào thực tế, giúp các em có được phẩm chất và năng lực cần thiết thích ứng với cuộc sống. Với vai trò to lớn của môn học Lịch sử mang lại, đòi hỏi người giáo viên phải sáng tạo trong dạy học, biết vận dụng linh hoạt phương pháp, kĩ thuật và tổ chức hình thức dạy - học sao cho phù hợp với từng bài học, từng đối tượng học sinh, đồng thời biết vận dụng sáng tạo các phương tiện trong dạy học nhằm tạo được sự thoải mái, vừa sức và hứng thú trong giờ học, lôi cuốn được các em tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, chủ động. 2. Cơ sở thực tiễn Trong thực tế dạy học nhiều năm ở khối lớp 5, môn học Lịch sử cũng là một trong những môn học chính ở Tiểu học. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng có nhận thức đúng về vai trò của môn học này vì thế mà vẫn có một số ít giáo viên xem nhẹ môn học này so với hai môn học Toán và Tiếng Việt. Việc giáo viên ít đầu tư, chưa có sự chuẩn bị chu đáo cho mỗi tiết dạy Lịch sử, dẫn đến sự đơn điệu trong tiết học, chưa tạo được sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa người học với người học. Chính vì thế mà việc tiếp thu kiến thức, việc tham gia tiết học ở học sinh còn mang hình thức đối phó. Các em chỉ tập trung học vẹt những nội dung cần ghi nhớ của bài học hoặc tập trung học những nội dung cần kiểm tra vào cuối mỗi học kì. Với cách học như thế dẫn đến sự nhàm chán, sự yêu thích môn học Lịch sử ở các em hầu như không có. Như chúng ta biết, Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, là hiện thực trong quá khứ, các em không thể “phán đoán”, “suy luận”, “học vẹt” mà sự tiếp thu tri thức phải có khoa học đòi hỏi phải có sự tìm tòi, khám phá thì kiến thức mới tồn tại lâu bền trong tri thức của các em. Vậy, muốn giúp các em học sinh lớp 5 phát huy năng lực học tập tích cực
  4. 4/19 trong giờ học Lịch sử đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi vai trò của người dạy từ: “là người chủ đạo truyền thụ tri thức cho học sinh” thành “là người định hướng cho hoạt động học lĩnh hội tri thức của học sinh”. Để thay đổi được vai trò của người dạy đòi hỏi mỗi giáo viên phải sáng tạo trong dạy học, tổ chức giờ hoc sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, đối tượng học sinh của mình nhằm hình thành ở học sinh năng lực chủ động, tích cực, tự tìm và lĩnh hội tri thức mới. Việc đề ra: Một số giải pháp giúp giáo viên dạy tốt môn lịch sử lớp 5 là cần thiết góp phần hình thành những con người mới thích ứng với đời sống xã hội hiện nay. 3. Khảo sát thực trạng: 3.1 Điều tra và cập nhật số liệu Bước vào năm học 2022-2023, tôi nhận sự phân công của Ban Giám hiệu trường làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5D. Thông qua các giờ học môn Lịch sử, tôi tiến hành khảo sát tình hình học tập của học sinh lớp mình đã nắm bắt được những hạn chế ở học sinh trong giờ học Lịch sử như sau: - Hầu hết học sinh chưa yêu thích môn học Lịch sử. - Giờ học còn thụ động, không khí học tập trong giờ học Lịch sử trầm, học sinh lâu ghi nhớ kiến thức mà lại chóng quên. - Kỹ năng hợp tác nhóm chưa tốt, chưa mạnh dạn, chưa tự tin khi chia sẻ kết quả học tập trong nhóm, trước lớp. - Kĩ năng xem bản đồ, phân tích thông tin còn hạn chế, kĩ năng chỉ bản đồ chưa thuần thục. - Kĩ năng phân tích tổng hợp kiến thức còn chậm. Kết quả khảo sát về Thái độ học tập và Năng lực học tập môn Lịch sử vào đầu năm học của học sinh lớp 5D(Phụ lục kèm theo). 3.2 Thuận lợi: - Nhà trường cung cấp đầy đủ các loại sách, tài liệu tham khảo, phương tiện dạy học. - Nhà trường tổ chức phong trào làm đồ dùng dạy học hàng năm, góp phần xây dựng Bộ đồ dùng dạy học chung nhằm hỗ trợ tiết dạy mang lại hiệu quả cao. - Hàng tháng tổ chuyên môn tổ chức học tập, chia sẻ kinh nghiệm thông qua hoạt động giảng dạy, học tập chuyên san, chuyên đề giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn. - Học sinh có đủ sách vở và đồ dùng học tập phục vụ cho môn học Lịch sử. - Việc học tập Bồi dưỡng thường xuyên hàng tháng, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm trong tổ cũng góp phần bồi dưỡng về năng lực chuyên môn cũng như góp phần gợi sự sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên. - Tài liệu “Bồi dưỡng hướng dẫn giáo viên về dạy học Lịch sử ở Tiểu học theo
  5. 5/19 định hướng phát triển năng lực” cũng được triển khai học tập trong tổ chuyên môn, góp phần hỗ trợ giáo viên trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học tạo được hứng thú ở học sinh trong giờ học Lịch sử. - Bản thân nhiều năm liền làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm đối tượng học sinh lớp 5 nên nắm rõ chương trình, đặc điểm tâm lí của học sinh cũng như có kinh nghiệm trong giảng dạy. - Học sinh đã nắm được kiến thức cơ bản cũng như làm quen với cách học môn Lịch sử ở lớp 4 làm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức môn học khi lên lớp 5. 3.3 Khó khăn: * Về học sinh: - Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại. Câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì chưa tư duy khi trả lời. - Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử chưa bền vững. - Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên. - Học sinh và gia đình chưa thật sự quan tâm, còn xem nhẹ môn Lịch sử cho là một môn học phụ chỉ cần học thuộc lòng nội dung ghi nhớ là đủ. - Phụ huynh quan tâm đến việc học của con em nhưng kiến thức, sự hiểu biết của cha mẹ lại có hạn. * Về giáo viên: - Một số ít giáo viên chưa thật sự quan tâm, còn xem nhẹ môn Lịch sử, chỉ tập trung vào kèm cặp cho các em chủ yếu là hai môn Toán và Tiếng Việt. - Giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy; giúp các em tự suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức. - Giáo viên chưa tạo sự tập trung, chú ý bài dạy ngay từ hoạt động đầu tiên hoặc chưa tóm tắt lại các nội dung bài dạy ở phần củng cố giúp cho các em ghi nhớ bài sâu, kĩ hơn. - Giáo viên tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình) trong sách giáo khoa chưa khoa học. Trong quá trình dạy có sáng tạo, nhưng làm và sử dụng đồ dùng dạy học, trò chơi học tập chưa thường xuyên và hiệu quả. - Giáo viên không thật sự yêu thích môn Lịch sử thì không thể truyền cho các em niềm đam mê, hứng thú và rất khó để học sinh phát huy hết năng lực học tập tích cực trong giờ học Lịch sử. * Với kết quả khảo sát nêu trên tôi thấy bản thân cần phải nỗ lực vận dụng những phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp đồng thời lên kế hoạch thực hiện tốt:
  6. 6/19 “Một số giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn lịch sử lớp 5 ”, tôi tin chắc rằng sẽ khắc phục được những mặt hạn chế còn tồn tại ở lớp 5D và mong muốn những giải pháp này sẽ triển khai phổ biến rộng cho giáo viên trong khối cùng thực hiện nhằm giúp học sinh toàn khối 5 cảm thấy hứng thú, tham gia học tập tích cực hơn đối với môn Lịch sử. 4.Nội dung * Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môn Lịch sử trong giảng dạy và giúp học sinh phát huy năng lực học tập tích cực môn học này là một việc làm hết sức cần thiết của mỗi giáo viên. Để thực hiện tốt việc giúp học sinh phát huy năng lực học tập tích cực môn lịch sử lớp 5, tôi phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu các tài liệu về “Phương pháp dạy học Lịch sử”; sách giáo khoa, sách giáo viên môn Lịch sử. - Nghiên cứu tài liệu gây hứng thú về dạy học ở tiểu học. - Quan sát quá trình tham gia học tập của từng học sinh trong giờ học Lịch sử nhằm nắm bắt năng lực học tập của từng em để có biện pháp phù hợp với từng đối tượng nhằm kích thích sự hứng thú giúp các em tham gia giờ học tích cực hơn. - Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh học để từ đó có hướng điều chỉnh và bổ sung những thiếu sót kịp thời giúp các em hoàn thiện hơn trong việc lĩnh hội kiến thức môn học. - Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp, trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy. 5. Một số biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch sử Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn quan tâm đến việc tổ chức giờ học như thế nào cho hấp dẫn, lôi cuốn và định hướng học sinh tham gia giờ học Lịch sử sao cho tích cực, chủ động. Cụ thể, tôi đã thực hiện một số giải pháp như sau: 5.1. Biện pháp 1: Sử dụng dụng cụ trực quan và khai thác kênh hình trong giảng dạy môn Lịch sử. Như chúng ta đã biết muốn cho các em tiếp nhận những thông tin lịch sử một cách tốt nhất cần tái tạo lại lịch sử một cách có hệ thống. Vậy tái tạo bằng cách nào? Trước hết, phải kể đến những lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên. Đó là tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử thông qua tranh, ảnh, lược đồ, biểu đồ,.... 5.1.1. Sử dụng lược đồ trong giờ học Lịch sử: Lược đồ là một trong những đồ dùng trực quan tạo ra hình ảnh lịch sử cụ thể, sinh động, chính xác hơn, giúp các em thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tượng lịch sử. Lược đồ thể hiện các trận đánh của ta như: Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947; Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950; Chiến dịch Điện Biên Phủ, ... Khi khai thác
  7. 7/19 các lược đồ cần chú ý đến mục tiêu của tiết học, bài học. * Ví dụ: Bài: Thu – đông 1947, Việt Bắc “Mồ chôn giặc Pháp” Ở hoạt động 2: Diễn biến chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, tôi sử dụng các bước sau: - Giáo viên giới thiệu lược đồ sách giáo khoa trang 32. - Hướng dẫn học sinh đọc và phân tích những kí hiệu trên lược đồ: (biểu tượng cái dù: nơi quân Pháp nhảy dù; mũi tên màu đen: đường tiến công của địch; mũi tên màu đỏ: quân ta tiến công, chặn đánh; mũi tên không liền nét màu đen: quân địch rút lui, tháo chạy). (Bước làm này giúp học sinh hình thành kĩ năng đọc và phân tích bản đồ để tìm kiếm thông tin cần thiết nhằm giải quyết các yêu cầu học tập.) - Giáo viên tổ chức cho học sinh khai thác nội dung lược đồ bằng hệ thống câu hỏi gợi ý: + Lực lượng của địch khi bắt đầu tấn công lên Việt Bắc? + Quân địch tấn công lên Việt Bắc theo mấy đường? Nêu cụ thể? + Quân ta tiến công, chặn đánh quân địch như thế nào? + Sau hơn một tháng tấn công lên Việt Bắc, quân địch rơi vào tình thế như thế nào? + Sau hơn 75 ngày đêm chiến đấu, quân ta thu được kết quả ra sao? - Học sinh làm việc theo nhóm: Dựa vào thông tin trong sách giáo khoa và lược đồ trình bày diễn biến của chiến dịch. - Giáo viên tổ chức cho học sinh trình bày diễn biến của chiến dịch theo lược đồ. - Giáo viên tuyên dương khen ngợi học sinh đã mạnh dạn trình bày trước lớp. * Các bước làm trên sẽ giúp học sinh dễ dàng thuật lại diễn biến của chiến dịch một cách dễ dàng. Từ đó các em cảm thấy không còn sợ môn học này và dần yêu thích, tạo sự hứng thú tham gia học tập tích cực ở các em trong giờ học Lịch sử. 5.1.2. Sử dụng sơ đồ, bảng so sánh trong tiết dạy môn Lịch sử: Sơ đồ, bảng so sánh là những đồ dùng trực quan thể hiện rất nhiều thông tin và sự kiện lịch sử được người dạy thiết kế lại từ kênh chữ. Những kiến thức từ kênh chữ nhiều khó nhớ được hệ thống bằng sơ đồ, bảng so sánh thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu, kích thích tư duy và hứng thú học tập cho học sinh giúp các em sẽ hiểu bài và ghi nhớ kiến thức bền vững hơn. a) Sơ đồ: * Ví dụ: Bài: “Bình Tây đại nguyên soái” Trương Định, Ở cuối hoạt động 3: Lòng biết ơn, tự hào của nhân dân ta với “Bình Tây đại nguyên soái” Trương Định. Sử dụng sơ đồ thay thế cho phương pháp hỏi đáp (thầy hỏi – trò đáp). Đây cũng
  8. 8/19 là kiến thức giúp học sinh cũng cố toàn bài học. Phiếu giao việc nhóm - Việc 1: Cá nhân hoàn thành yêu cầu. - Việc 2: Thống nhất ý kiến trong nhóm. Hãy điền nội dung thích hợp vào chỗ chấm, hoàn thành sơ đồ sau thế hiện được quyết định của Trương Định giữa lệnh vua và tình cảm của nhân dân đối với ông. Triều đình: . Nhân dân:......................... → Trương Định Quyết tâm:................. - Giáo viên phát phiếu giao việc. - Học sinh hoàn thành phiếu giao việc theo cá nhân, sau đó thống nhất trong nhóm. - Các nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm nhận xét, đánh giá kết quả làm việc của nhóm mình và nhóm bạn. Triều đình: Kí hòa ước với giặc Pháp, và lệnh cho ông giải tán lực lượng nghĩa binh và đi nhận chức Lãnh binh. Nhân dân: Suy tôn ông là “Bình Tây đại nguyên soái”. TRƯƠNG ĐỊNH Quyết tâm: Không tuân lệnh vua, ở lại cùng nhân dân chống giặc. - Giáo viên kết luận: Trương Định là một trong những tấm gương tiêu biểu trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Nam Kì. Nhân dân biết ơn ông đã lập đền thờ ghi lại những chiến công của ông, lấy tên ông đặt tên cho đường phố, trường học. (Ở phần kết luận này giáo viên có thể mở rộng hỏi thêm: Tên đường, tên trường mang tên Trương Định có ở thành phố, tỉnh nào mà em biết? nhằm phát huy năng lực học tập, tự tìm tòi tri thức ở các em. Nếu học sinh chưa biết thì giáo viên gợi ý cung cấp thêm kiến thức nhằm mở rộng vốn hiểu biết trong thực tiễn: Tên đường Trương Định (phố Trương Định) thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, tên trường Trương Định thuộc quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh) * Với cách tóm tắt nội dung bài học bằng sơ đồ hình vẽ giúp học sinh dễ ghi nhớ và là điểm tựa để các em phát huy năng lực diễn đạt trước lớp. Từ đó, các em cảm thấy dễ dàng khi ghi nhớ kiến thức từ trực quan hình ảnh đến phát triển tư duy trừu tượng ở học sinh. b) Bảng so sánh: * Ví dụ: Bài “Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX” - Giáo viên hướng dẫn thực hiện ở hoạt động 3: Lập bảng so sánh tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta.
  9. 9/19 - Giáo viên phát phiếu giao việc cho nhóm và bảng so sánh tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. - Giáo viên yêu cầu cá nhân học sinh đọc thông tin sách giáo khoa, tìm kiếm thông tin liên quan hoàn thành bảng so sánh theo yêu cầu. Sau khi thực dân Trước khi thực dân Tiêu chí so sánh Pháp đặt ách thống Pháp xâm lược trị Các ngành nghề chủ yếu Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Đời sống nông dân và công nhân - Các nhóm trưng bày kết quả thảo luận. - Đại diện nhóm trình bày, các nhóm khác bổ sung, nếu thắc mắc (nếu có). - Giáo viên nhận xét, hoàn thiện phần trả lời của học sinh. Trước khi thực dân Sau khi thực dân Pháp Tiêu chí so sánh Pháp xâm lược đặt ách thống trị Nông nghiệp Thủ công nghiệp Khai thác mỏ Nông nghiệp Sản xuất điện, nước, xi Các ngành nghề chủ yếu Thủ công nghiệp măng, dệt Lập và khai thác đồn điền cao su, cà phê, chè... Địa chủ phong kiến Nông dân Các giai cấp, tầng lớp trong Địa chủ phong kiến Công nhân; Chủ xưởng; xã hội Nông dân Viên chức; Nhà buôn; Trí thức Đời sống nông dân và công Càng cơ cực và đói Rất cực khổ, đói nghèo nhân nghèo hơn. - Giáo viên kết luận: Dựa vào bảng so sánh các em nhận thấy trước đây xã hội Việt Nam chủ yếu chỉ có địa chủ phong kiến và nông dân, nay xuất hiện những giai cấp, tầng lớp như: Chủ xưởng, nhà buôn, viên chức, trí thức thành thị phát triển, lần đầu tiên ở Việt Nam có đường ô tô nhưng đời sống nông dân và công nhân thì ngày càng cơ cực dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
  10. 10/19 3. Khai thác kiến thức từ kênh hình sách giáo khoa: Một vấn đề cũng không kém phần quan trọng để tạo hứng thú cho các em trong học tập đó là các kênh hình. Kênh hình trong sách không chỉ có ý nghĩa minh họa cho bài viết, góp phần tạo ra sinh động, hấp dẫn của bài học mà còn là nguồn tư liệu giúp tôi tổ chức cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức. Để khai thác được kênh hình một cách tốt nhất tôi phải nắm chắc nội dung kênh hình, xác định rõ kiến thức cơ bản của bài và phải chuẩn bị một số câu hỏi phù hợp với trình độ của các em để gợi ý các em tự khai thác kiến thức từ kênh hình. * Ví dụ: Bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” - Quan sát hình 3 sách giáo khoa trang 25, em hãy mô tả nội dung bức ảnh và cho biết bức ảnh đó giúp em hiểu được điều gì? - Giáo viên hướng dẫn các em khai thác bức ảnh bằng các câu hỏi gợi mở như: (Nhân dân ta học tập trong điều kiện như thế nào? Lớp học bao gồm những thành phần nào? Tinh thần và thái độ học tập của mọi người thể hiện điều gì?). - Học sinh quan sát bức ảnh và trả lời (Nhân dân ta học tập trong đêm tối, dưới ngọn dầu le lói, mọi người đều chăm chú say sưa học tập. Lớp học lôi cuốn mọi lứa tuổi, mọi thành phần, không phân biệt trẻ, già, trai gái, giàu nghèo đều đi học chữ. Tinh thần và thái độ học tập của mọi người thể hiện khí thế của một dân tộc đang vươn lên làm chủ vận mệnh của chính mình). Kênh hình về bản đồ lịch sử, về nhân vật lịch sử với ưu thế của nó: rõ ràng, sinh động, dễ nhớ, dễ ấn tượng, dễ đi vào lòng người... sẽ là một thế mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sử thông qua đó góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với truyền thống tổ tiên, với các lãnh tụ, các danh nhân cũng như những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà cũng như lịch sử văn minh nhân loại. Việc cho các em tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình) trong sách giáo khoa giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì không thể nhận thức và phát triển tư duy. * Một số lưu ý khi thực hiện giải pháp này: - Lược đồ, sơ đồ, bảng so sánh, bảng thống kê, kênh hình là phương tiện không thể thiếu được trong hoạt động dạy học. Khi thực hiện, tôi chọn và sử dụng cùng với phương pháp tốt nhất giúp học sinh tự khai thác, lĩnh hội kiến thức nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình học tập. - Trong khi sử dụng những dụng cụ trực quan cần phải phù hợp với nội dung bài dạy, với trình độ nhận thức của học sinh, đặc biệt là những dụng cụ trực quan tạo ấn tượng, giúp học sinh khắc sâu, nhớ kỹ, tái hiện lại những kiên thức đã học.
  11. 11/19 - Luôn luôn phải sử dụng tư liệu, kết hợp với đồ dùng trực quan, tranh ảnh, lược đồ để miêu tả, tường thuật, kể chuyện. Bên cạnh lời nói sinh động cùng chất giọng phù hợp với nội dung từng bài cũng góp phần quan trọng trong việc tạo hứng thú cho học sinh học tốt môn học này. Bên cạnh lược đồ, sơ đồ, bảng so sánh, bảng thống kê, kênh hình, kênh chữ thì việc đưa công nghệ thông tin vào dạy học như: Các thước phim tài liệu, lược đồ động đã hỗ trợ rất nhiều trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử. Giáo viên tổ chức được những tiết học sinh động, nhẹ nhàng, hiệu quả, xóa đi kiểu dạy học nhồi nhét một cách vô cảm về những sự kiện, con người, ngày tháng. Các em rất thích thú với những tiết học có áp dụng công nghệ thông tin trực tiếp được nghe nhiều âm thanh, nhìn hình ảnh minh hoạ về các sự kiện, nhân vật lịch sử, được làm chủ những kiến thức của bài học. Từ đó, học sinh tiếp thu kiến thức một cách hào hứng, vui tươi... và qua đó tăng thêm lòng yêu nước, tự hào dân tộc, chủ động tìm tòi, khám phá, thêm yêu lịch sử nước nhà. 5.2. Biện pháp 2: Sử dụng thơ-ca để tạo hứng thú cho học sinh khi học Lịch sử: Trong thực tế, Lịch sử là môn học có kiến thức liên quan với các môn học khác, chúng có mối quan hệ tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là môn Tiếng việt. Lịch sử đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống cho nên việc lồng ghép thơ - ca vào trong giờ dạy Lịch sử là điều không thể thiếu được. Nếu như thơ- ca mô tả những sự kiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ bằng những con số, sự kiện cụ thể, điều đó đã tác động lớn đến nhận thức của học sinh. Đã có không ít tác phẩm văn học từ bản thân nó là một tư liệu lịch sử (“Hịch Tướng Sĩ”; “Bình Ngô Đại Cáo”) hay nhạc phẩm (Hành quân xa, ...) là những minh chứng hùng hồn cho mối quan hệ tương đông giữa lịch sử và văn học. Việc vận dụng thơ ca trong tiết học giúp cho tiết học trở nên sinh động, bớt nhàm chán hoặc tạo điều bất ngờ lí thú, kích thích sự tò mò, hứng thú trong tiết học. Giải pháp này có thể sử dụng linh hoạt, tùy vào từng thời điểm đưa thơ ca vào sao cho phù hợp trong tiết học: có thể đưa thơ ca vào phần giới thiệu bài tạo sự lôi cuốn học sinh bước vào tiết học, hoặc đưa vào giữa tiết minh chứng cho nội dung bài học và cũng có thể đưa thơ ca vào cuối tiết học nhằm khắc sâu nội dung bài học. * Ví dụ: Bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” Giáo viên đặt câu hỏi: Thông qua bài học, em hiểu Bác Hồ là người như thế nào? Nếu không có Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì nước ta sẽ như thế nào? Giáo viên liên hệ: sau khi rời cảng Nhà Rồng, từ năm 1911 đến 1917, Bác đã bôn