Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh khi học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 1- Bộ Cánh Diều

docx 29 trang Chăm Nguyễn 23/07/2026 380
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh khi học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 1- Bộ Cánh Diều", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nham_tich_cuc_hoa_hoa.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh khi học môn Tự nhiên và Xã hội Lớp 1- Bộ Cánh Diều

  1. 3 B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận - Môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp Tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 3) là môn học bắt buộc, được xây dựng và phát triển trên nền tảng tích hợp những kiến thức về thế giới tự nhiên và xã hội; đặt nền móng để học sinh tiếp tục môn Khoa học và môn Lịch sử và Địa lí ở các lớp 4,5 của cấp Tiểu học. - Quan điểm xây dựng chương trình môn học TNXH Lớp 1: Chương trình môn TNXH quán triệt các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục được nêu trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Xuất phát từ đặc thù của môn học, quan điểm: Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình. Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là: + Tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập, nhất là những hoạt động trải nghiệm. + Tổ chức hoạt động tìm hiểu, điều tra, khám phá. + Hướng dẫn học sinh học tập cá nhân, nhóm để tạo ra các sản phẩm học tập. + Khuyến khích học sinh vận dụng được những điều đã học vào đời sống. 2. Thực trạng của vấn đề 2.1. Thuận lợi - Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của phòng GD&ĐT huyện Thanh Trì cùng với Ban giám hiệu trường Tiểu học Thanh Liệt năng động, sáng tạo có tinh thần trách nhiệm cao, đội ngũ giáo viên nhiệt tình năng nổ, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần đoàn kết
  2. 4 và giúp đỡ nhau trong quá trình nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực hoá. - Môi trường sư phạm nhà trường khang trang và được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu giảng dạy cho giáo viên như máy tính, máy chiếu, loa đài... - HS đa số có nề nếp học tập và đặc biệt trẻ rất ham tìm tòi và khám phá. - Bản thân được tham gia các buổi tập huấn do nhà trường tổ chức, tôi đã nhận thức được sự quan trọng và tính cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của HS. 2.2. Khó khăn - Cơ sở vật chất nhà trường đã khang trang hơn, tuy nhiên phòng học để đáp ứng cho việc giảng dạy tích cực hóa hoạt động của học sinh hiện nay của trường cũng chưa thể đáp ứng đầy đủ mà từng bước khắc phục dần theo kế hoạch. - Học sinh chưa quen với việc sử dụng và ứng dụng các công nghệ trong hoạt động, chưa thực sự tích cực trong việc tham gia hoạt động trải nghiệm, việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực cũng phần nào bị hạn chế. - Học sinh vẫn còn thụ động chưa thật sự sáng tạo trong suy nghĩ. - Giáo viên là người hướng dẫn gợi mở, học sinh tự khám phá kiến thức. Song trong quá trình giảng dạy, giáo viên chưa linh hoạt tổ chức các hình thức giảng dạy nên tiết học khô khan, thiếu phong phú. - Qua thực tế kết hợp với phụ huynh khảo sát tôi thấy được kết quả như sau : Thời gian Không khí lớp học Ý thức học tập Hiệu quả giờ học
  3. 5 Tháng 9/ Lớp học trầm, tẻ Một số học sinh không Hiệu quả giờ học nhạt. thích học, ngồi im 2022 không cao. hoặc làm việc riêng. Khoảng 55% học sinh nắm bài tại lớp. - Hiểu được điều này nên trong thực tế giảng dạy, tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để tiết học Tự nhiên và Xã hội trở nên nhẹ nhàng, không khô cứng, học sinh hăng hái chủ động tham gia vào quá trình học. Học sinh hứng thú mong muốn học Tự nhiên và Xã hội. Đây quả là một việc khó, đòi hỏi giáo viên phải đầu tư thời gian, tâm huyết với nghề, có lòng hăng say nhiệt tình công tác, nghiên cứu kỹ tài liệu. - Đáp ứng sự đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, từ thực tế giảng dạy, tôi đã tìm ra được “ Một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh khi học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 – Bộ Cánh Diều ”. 3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3.1. Biện pháp 1: Tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập và qua việc khai thác những hiểu biết về vốn sống của học sinh - Đây là bước đầu tiên của quá trình dạy khám phá khoa học. Thông qua các hoạt động đa dạng, GV thu hút sự chú ý và quan tâm của HS, tạo không khí trong lớp học, HS cảm thấy có sự liên hệ và kết nối với những kiến thức hoặc trải nghiệm trước đó. Các hoạt động có thể sử dụng trong bước này là: + Cho HS xem video clip về chủ đề có liên quan đến bài học để HS có thể liên hệ với hiểu biết trước đây của mình, hoặc hình dung ra nội dung sắp học. + Tổ chức trò chơi có liên quan đến vấn đề bài học ( HS chưa cần hiểu) để HS có thể liên hệ với kinh nghiệm đã biết. + Kể một câu chuyện có thông tin liên quan đến chủ đề sắp học.
  4. 6 + Đưa ra một thử thách hoặc một câu đố cho HS liên hệ tìm giải pháp bằng kinh nghiệm đã có của mình để giải quyết vấn đề có liên quan đến bài học. Ví dụ : Khi dạy bài: “Các con vật quanh em” – Tiết 1 Khi học bài này, học sinh đã có nhiều hiểu biết khá phong phú về một số con vật. Tôi thiết kế bài này (Tiết 1) làm 2 hoạt động. Trong đó, hoạt động thứ nhất có sử dụng đến vốn kiến thức và sự hiểu biết đã có của học sinh. Đó là: Hoạt động 1: Nhận biết một số con vật * Mục tiêu: - Gọi tên một số con vật. - Biết đặt câu hỏi về tên một số con vật và chiều cao, màu sắc của chúng. - So sánh về chiều cao, độ lớn của một số con vật với nhau. * Cách tiến hành: - Bước 1: GV tổ chức HS trò chơi “ Đoán xem tôi là ai?” GV gọi 1 nhóm HS lên xem bức tranh , HS xem tranh phải dùng động tác , không được nói để các bạn ở dưới đoán xem đó vào con vật nào - Bước 2: GV tổ chức cho học sinh làm việc theo cặp
  5. 7 + Từng cặp học sinh giới thiệu cho nhau nghe về các con vật có trong sách giáo khoa và bộ hình ảnh mà giáo viên và học sinh đã chuẩn bị: tên con vật, chiều cao, kích thước của các con vật có trong hình/bộ tranh ảnh (nếu có), , tham gia làm giám khảo cuộc thi “ Nông trại vui vẻ”; bình chọn con vật cao, thấp, màu sắc đẹp nhất ( hoàn thành bảng theo - đánh số thứ tự) Âm thanh Con vật Khối lượng Chiều cao Màu sắc (ảnh)Con lợn (ảnh)Con trâu (ảnh)Con chó (ảnh)Con mèo (ảnh)Con vịt (ảnh)Con dê (ảnh)Con gà (ảnh)Con chim (ảnh)Con bò - Bước 3: GV tổ chức cuộc thi + Các nhóm HS treo sản phẩm trên bảng và chia sẻ trước lớp . + Các HS còn lại sẽ đặt câu hỏi và nhận xét phần trình bày của các bạn. Việc chú ý đến khai thác những hiểu biết về vốn sống của học sinh khi xây dựng kế hoạch dạy học đối với từng bài là việc làm cần thiết. Nó giúp học sinh vận dụng kiến thức dã có để khám phá, tiếp thu kiến thức mới một cách dễ dàng hơn. Từ đó, học sinh hứng thú học tập, tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực. 3.2. Biện pháp 2: Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để tổ chức hoạt động tìm hiểu, điều tra, khám phá Việc dạy học đối với mỗi bài học là trách nhiệm của mỗi giáo viên, vì vậy chính giáo viên là người quyết định việc lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp
  6. 8 cho từng bài học, sao cho tương tác giữa thày và trò trong quá trình lĩnh hội tri thức của trò đạt hiệu quả cao nhất. Kinh nghiệm cho thấy, trong một bài giảng thành công không bao giờ chỉ dùng một phương pháp mà phải phối hợp nhiều phương pháp, các phương pháp hiện đại và phương pháp truyền thống một cách hợp lý. Người giáo viên cần phải: Nắm chắc cách dạy từng nhóm phương pháp. Từ đó có sự lựa chọn thích hợp để các phương pháp bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, phù hợp với nội dung, hình thức dạy học tương ứng. 3.2.1. Phương pháp quan sát Hoạt động quan sát về cơ sở khoa học là hoạt động nguồn gốc, là phương tiện nhận thức và phát huy trí lực con người. Trong dạy học, phương pháp quan sát là cách thức cho học sinh sử dụng thị giác và phối hợp với các giác quan khác để tiếp nhận thông tin. Ở lớp 1, phương pháp này dùng trong hầu hết các bài học Tự nhiên và Xã hội. Học sinh lớp 1 hầu hết chưa biết cách quan sát. Vì vậy, giáo viên cần: * Yêu cầu khi quan sát: Hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự (đi từ tổng thể đến chi tiết, quan sát từ bên ngoài rồi mới đến bên trong). Ví dụ : Khi dạy bài: “Cây xanh quanh em” – Tiết 2: Nhận biết một số bộ phận của cây.
  7. 9 * Mục tiêu: - Quan sát và nhận biết được một số bộ phận chính của cây: thân, rễ, lá, hoa và quả. - Đặt câu hỏi và trả lời về các bộ phận bên ngoài của cây thông qua quan sát. - Viết hoặc vẽ lại các bộ phận chính của cây và giới thiệu với các bạn trong nhóm/lớp. * Cách tiến hành: - Bước 1: GV tổ chức cho HS làm việc theo cặp, hướng dẫn HS quan sát và đặt câu hỏi: + HS quan sát hình trang 70 (SGK) và chỉ ra được các bộ phận của cây có trong hình. + Cho HS quan sát một số cây có đủ thân, rễ, lá và có thể có cây có hoa, quả. + Một HS đặt câu hỏi, HS kia trả lời - Bước 2: GV tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm + Mỗi HS chia sẻ với các bạn trong nhóm sản phẩm của mình vừa hoàn thành.
  8. 10 + Các nhóm HS treo sản phẩm trên bảng và chia sẻ trước lớp . - Bước 3: GV tổ chức cho HS làm việc cả lớp + Một số HS giới thiệu về sản phẩm của nhóm về các bộ phận của cây. Một số HS còn lại sẽ đặt câu hỏi và nhận xét phần giới thiệu của các bạn. Để sử dụng phương pháp này đạt hiệu quả, nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên phải hướng dẫn học sinh vào đối tượng quan sát một cách có mục đích. * Mục đích quan sát: Quan sát phải có mục đích rõ ràng. Tuy nhiên, mục tiêu quan sát phải đơn giản, phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh. Trong quá trình quan sát, giáo viên cần đặt những câu hỏi ngắn và rõ ràng để hướng dẫn học sinh tập trung vào kiến thức cần tìm kiếm. * Trong quá trình quan sát, học sinh phải được nói với các bạn, hỏi bạn, thảo luận với bạn về kết quả quan sát rồi tự rút ra kết luận. Giáo viên luôn chú ý giúp đỡ, uốn nắn động viên học sinh kịp thời khi các em thực hành quan sát. - Nếu học sinh khó khăn trong khi quan sát, giáo viên có thể giúp đỡ bằng các câu hỏi gợi ý. - Có thể nói, phương pháp này sẽ giúp học sinh được hoạt động một cách đa dạng, tích cực (được nhìn, được ngửi, được nghe ) từ đó thu nhập được nhiều thông tin về bài học. Phương pháp quan sát luôn được sử dụng phối hợp với các phương pháp khác, đặc biệt là: 3.2.2 Phương pháp hỏi đáp Đây là cách thức đối thoại giữa giáo viên và học sinh nhằm khơi gợi, dẫn dắt học sinh tự rút ra kết luận hoặc vận dụng kiến thức vào thực tế. Phương pháp này là công cụ tốt nhất để dẫn dắt học sinh tự rút ra kết luận. Khi sử dụng phương pháp hỏi đáp trong giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội, tôi luôn chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và sắp xếp theo một trình tự logic. Mỗi câu hỏi phải là một bước để dần dần giải quyết những vấn đề do bài đặt ra. Ví dụ: Khi dạy bài “Lớp học của em”- Tiết 1
  9. 11 * Hoạt động 1: Tìm hiểu lớp học của bạn An Tôi đặt câu hỏi: - Lớp bạn An có những ai? Họ đang làm gì? - Trong lớp có những đồ dùng gì? Chúng được sắp đặt như thế nào? Dựa trên những thông tin thu thập được qua việc trả lời các câu hỏi, học sinh kể được tên các thành viên và đồ dùng trong lớp học bạn An. * Hoạt động 2: Thảo luận nhóm: Giới thiệu về lớp học của mình. Tôi dùng hệ thống câu hỏi: - Hãy kể cho các bạn nghe về lớp học của chúng mình: Lớp học có những đồ dùng gì? Chúng được sắp đặt như thế nào? - Các thành viên trong lớp học có những ai? Nhiệm vụ của họ là gì? Kết luận: Hai thành viên chính trong lớp học là giáo viên và học sinh. Nhiệm vụ chính của giáo viên là giảng dạy, nhiệm vụ chính của học sinh là học tập. Để giữ đồ dùng trong lớp học, HS cần sắp xếp đồ dùng đúng chỗ; lau chùi và bảo quản đồ dùng; không viết, vẽ bậy lên đồ dùng, .; sử dụng đồ dùng đúng cách; Chúng ta vẫn quen cách học: Người đặt câu hỏi là giáo viên, người trả lời câu hỏi là học sinh. Điều này có thể thực hiện theo chiều ngược lại. Để học sinh tự giác, tích cực hơn trong học tập, tôi khuyến khích các em nêu câu hỏi thắc mắc để cả lớp và giáo viên cùng giải đáp.
  10. 12 Hỏi đáp và quan sát là những phương pháp đặc trưng của môn Tự nhiên và Xã hội. Mỗi phương pháp đều có mặt mạnh riêng nên cần khai thác hợp lý và sử dụng phối hợp linh hoạt với các phương pháp khác để giờ học hấp dẫn, lý thú để học sinh hứng thú hơn khi tham gia các hoạt động học tập. 3.2.3 . Tổ chức trò chơi học tập Việc tổ chức trò chơi vào bất cứ phần nào của bài học đều rất quan trọng vì nó làm thay đổi hình thức học tập, tạo không khí thoải mái, dễ chịu, học sinh vui vẻ, nhanh nhẹn, cởi mở hơn và được củng cố hệ thống hóa kiến thức, khi cho học sinh tham gia trò chơi học tập cần phải đảm báo tính mục đích. Trò chơi phải thú vị và thu hút đa số hay tất cả học sinh tham gia. Khi trò chơi kết thúc, giáo viên cần nhận xét kết quả của trò chơi, thái độ của người tham dự và rút kinh nghiệm. Giáo viên cần hỏi xem, học sinh đã được học những gì qua trò chơi. Trò chơi học tập giúp cho giờ học trở nên nhẹ nhàng, thoải mái, giúp học sinh nhanh nhẹn, tiếp thu tự giác và tích cực hơn. Qua đó, học sinh được củng cố hệ thống hóa kiến thức. Tôi thường tổ chức trò chơi học tập theo các bước sau: - Giới thiệu tên trò chơi và phổ biến luật chơi - Cho học sinh chơi thử (nếu thấy cần) - Chơi thật - Nhận xét kết quả của trò chơi (có động viên, khen thưởng) - Kết thúc Giáo viên hỏi học sinh qua trò chơi học sinh đã rút ra bài học gì? Giáo viên tổng kết lại những gì cần học được qua trò chơi đó. * Ví dụ: Khi dạy bài “Các con vật quanh em” – Tiết 2 GV tổ chức trò chơi ở phần Khởi động – Kiểm tra bài cũ : Hỏi nhanh đáp đúng bằng cách giơ thẻ đáp án để ôn tập lại đặc điểm bên ngoài và gọi tên chính xác các con vật. 1. Con gì ăn no Bụng to mắt híp
  11. 13 Mồm kêu ụt ịt Nằm thở phì phò? A. trâu B. hà mã C. lợn 2.Con vật nào được nhắc đến câu hát : Hai vây xinh xinh .bơi trong bể nước. A. vịt B. cá vàng C. hải cẩu 3.Đây là tiếng kêu của loài vật nào? A. chim B. gà C. khỉ 4. Đây là bóng của con vật nào? A. hổ B. ngựa C. voi GV chốt kiến thức: Xung quanh các con có rất nhiều loài động vật với hình dáng, màu sắc, kích thước và môi trường sống khác nhau. *Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập và đánh giá chủ đề Thực vật và động vật” Tôi đã tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Hái hoa dân chủ” Mục đích: - Giúp học sinh hệ thống hóa các kiến thức đã học về chủ đề Thực vật và động vật : tên, các bộ phận, lợi ích, chăm sóc, giữ an toàn. - Những việc nên làm để chăm sóc cây trồng và vật nuôi. Giáo viên chuẩn bị 2 bộ tấm bìa ghi số từ 1 đến 36 để chia cho từng học sinh, một bộ giáo viên dùng để lựa chọn học sinh lên chơi. Một số câu hỏi gợi ý về các nội dung như sau : ￿ Tên của một số cây và các con vật. ￿ Các bộ phận của một số cây và các con vật. ￿ Lợi ích của một số cây và các con vật. ￿ Cách chăm sóc của một số cây và vật nuôi. ￿ Cách giữ an toàn khi tiếp xúc với một số cây và vật nuôi.