Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Khoa học Lớp 5
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Khoa học Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_m.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Khoa học Lớp 5
- 3 Một số giải pháp, biện pháp, trò chơi học tập... sử dụng trong quá trình giảng dạy môn Khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn Khoa học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Sự hứng thú, chủ động trong học tập và ý thức tự giác của học sinh thay đổi như thế nào sau khi áp dụng những giải pháp, biện pháp, trò chơi ...đã lựa chọn và thiết kế. Khảo sát đối tượng học sinh lớp 5A trường Tiểu học Lê Lợi –thị trấn Quảng Phú – huyện CưMgar- tỉnh Đăk Lăk năm học 2019 – 2020. 4. Giới hạn của đề tài Tập trung nghiên cứu một số biện pháp, giải pháp... nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động, ham thích khám phá khoa học. Tạo tiền đề đề học sinh học tập môn Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở và các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học ở cấp trung học phổ thông. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp đàm thoại Phương pháp quan sát Phương pháp phân tích Phương pháp tổng hợp Phương pháp thực nghiệm
- 4 II. Phần nội dung. 1. Cơ sở lí luận. Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã và đang đổi mới một cách mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trong đó có cả việc đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy. Chuyển dần từ việc học sinh là người lĩnh hội kiến thức sang học sinh là người tìm tòi, khám phá ra tri thức của bài học. Để phát huy tính sáng tạo của mỗi học sinh thì người giáo viên cần khéo lựa chọn các hình thức dạy học tạo điều kiện để học sinh có cơ hội được trải nghiệm, được tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên. Học sinh được trình bày những hiểu biết riêng của mình về vấn đề trong bài học. Tạo cơ hội cho các em liên hệ, vận dụng phối hợp kiến thức, kỹ năng từ các lĩnh vực khác nhau trong môn học cũng như với các môn học khác vào giải quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống. Một điều quan trọng và hiệu quả hơn nữa là giáo viên biết cách khơi gợi, tạo cho học sinh niềm yêu thích đối với môn học. Có yêu thích môn học thì các em mới chủ động tìm tòi khám phá, vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống thường ngày. Lứa tuổi học sinh tiểu học các em thường thích điều mới lạ, các em chưa duy trì được sự chú ý trong mội thời gian dài. Vì vậy giáo viên cần sự dụng nhiều phương pháp trong một bài học để thu hút sự tập trung chú ý của các em. Các em có thể ghi nhớ một cách nhanh chóng nhưng lại nhanh quên. Việc tạo cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm sẽ giúp các em tự rút ra được kiến thức có như vậy kiến thức thu được mới bền. Một nội dung bài học giáo viên có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu nhưng có những phương pháp chỉ giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách tạm thời, không sâu còn có những phương pháp sẽ giúp học sinh khám phá kiến thức một cách tự nhiên và bền vững. Vận dụng các phương pháp giáo dục một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nội dung, mục tiêu giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể, quan
- 5 tâm đến hứng thú học tập của học sinh đó là vấn đề mỗi giáo viên cần chú ý trong quá trình giảng dạy. Mỗi môn học đều có những phương pháp dạy học đặc thù, những phương pháp này sẽ phát huy tối đa tính tích cực tự giác của học sinh. Nhiệm vụ của giáo viên là cần biết lựa chọn các phương pháp phù hợp với từng nội dung bài học, với từng đối tượng học sinh để khơi gợi, phát huy khả năng của từng học sinh. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu. Như chúng ta đã biết môn khoa học ở tiểu học là môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh học tập môn Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở và các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học ở cấp trung học phổ thông. Môn học chú trọng khơi dậy trí tò mò khoa học, bước đầu tạo cho học sinh cơ hội tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên, tri thức khoa học....Tuy nhiên thực trạng hiện nay trong quá trình giảng dạy môn học này chưa thật sự được chú trọng. Về phía giáo viên: Trong một lớp học trình độ học sinh không đồng đều dẫn đến việc giảng dạy môn Toán và các phân môn của môn Tiếng Việt nhiều học sinh chưa thể nắm bắt kịp kiến thức nên giáo viên thường kéo dài thời gian của những tiết học này dẫn đến việc giảng dạy các môn như còn lại thường bị rút ngắn chưa đảm bảo đúng thời gian quy định. Vì thời gian bị rút ngắn nên việc giảng dạy đúng đúng quy trình chưa đảm bảo, giáo viên cũng chưa thật sự đầu tư nhiều thời gian vào việc nghiên cứu đổi mới các phương pháp cũng như làm đồ dùng học tập giảng dạy trong môn Khoa học nhằm kích thích trí tò mò khám phá của học sinh. Về phía phụ huynh và học sinh: Cả phụ huynh và học sinh vẫn có tư tưởng xem môn học này là môn học “ phụ ”, hoặc chỉ cần học thuộc lòng bài học, nội dung cần ghi nhớ trong mỗi bài là học sinh có thể làm bài thi học kì. Đối nhiều phụ huynh vẫn có suy nghĩ môn Khoa học chỉ là môn học nhận xét bằng định tính như môn Tự nhiên Xã hội ở các lớp 1, 2, 3.
- 6 Đối với học sinh Tiểu học cũng chưa có sân chơi nào trong lĩnh vực khoa học nên cũng chưa thu hút được sự quan tâm của học sinh và phụ huynh. Từ những thực trạng trên, qua nhiều năm giảng dạy ở khối lớp 5, bản thân tôi nhận thấy cần phải nâng cao chất lượng giảng dạy môn Khoa học trong trường Tiểu học. Đặc biệt là phải khơi gợi được trí tò mò khám phá tự nhiên, khám phá khoa học của học sinh. Giúp học sinh khám và và khắc sâu được kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống hàng ngày, có ý thức giũ gìn sức khỏe, môi trường xung quanh. Sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí, có ý thức bảo vệ môi trường sống....... Trong quá trình giảng dạy, đúc rút kinh nghiệm của bản thân sau mỗi năm học và học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp, từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ các nguồn tài liệu khác nhau...bản thân mạnh dạn đổi mới và vận dụng nhiều phương pháp khác nhau nhằm thu hút sự tập trung chú ý của học sinh, khơi gợi trí tò mò và đam mê khám phá kiến thức để học sinh tự rút ra được kiến thức sau mỗi bài học. Có như vậy học sinh mới là chủ thể của hoạt động, chủ thể của kiến thức. Năm học 2019 – 2020 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5A với tổng số học sinh lớp là 32 trong đó có 17 học sinh nữ, 15 học sinh nam, 3 học sinh thuộc hộ nghèo. Đa số học sinh ngoan, biết vâng lời và lễ phép với thầy cô giáo. Các em được phụ huynh chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập khi đến lớp. Nhưng một thực tế khiến tôi trăn trở là hầu như cả phụ huynh và học sinh đang tập trung nhiều thời gian vào các môn Toán, Tiếng Việt và Anh văn. Việc học và chuẩn bị bài ở nhà những môn học này khá tốt. Trong giờ học các môn này học sinh cũng tích cực xây dựng bài, tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh rất tốt. Nhưng với các môn học còn lại trong đó có môn khoa học học sinh lớp tôi chưa thật sự tích cực, việc tìm hiểu kiến thức chuẩn bị bài ở nhà chưa
- 7 đảm bảo. Các em thường máy móc rập khuôn đọc nội dung ghi nhớ chứ chưa trình bày diễn đạt được những kiến thức bằng vốn từ, vốn hiểu biết của mình. Từ thực trạng đó tôi nhận thấy mình cần phải thay đổi phương pháp, vận dụng các hình thức hoạt động linh hoạt để học sinh hứng thú hơn trong môn học này. Giúp các em thu nhận được kiến thức một cách tự nhiên và hiểu được bản chất của vấn đề, có thể trình bày bằng vốn hiểu biết của mình chứ không rập khuôn máy móc. Trước khi tiến hành vận dụng các biện pháp tôi đã quan sát tìm hiểu về mức độ hứng thú học tập của học sinh với môn khoa học thông qua bảng khảo sát sau: Nội dung khảo sát Thường Thỉnh Hiếm ( Biểu hiện của học sinh) xuyên thoảng khi Học sinh vui vẻ hứng thú trong các tiết khoa học Học sinh nắm được bài học và trình bày được những hiểu biết của mình. Kĩ năng tương tác,phối hợp tốt giữa học sinh với học sinh và giữa học sinh với giáo viên. HS tự giác hoàn thành bài trước khi đến lớp. HS biết tìm kiếm thông tin để hoàn thành nhiệm vụ học tập.
- 8 Dựa vào những phiếu khảo sát tôi thu nhận được kết quả như sau: BẢNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT Thời gian Tổng số Học sinh hứng thú trong Học sinh ít hứng thú khảo sát học tập trong môn Khoa trong học tập trong môn học Khoa học Đầu năm 32 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 10 31,25 22 68,75 3. Nội dung và hình thức của giải pháp. a) Mục tiêu của giải pháp. Dựa vào đặc điểm, tâm sinh lí của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 5 các em đang ở giai đoạn chuyển giao từ lứa tuổi nhi đồng lên lứa tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này các con bước vào giai đoạn đầu của tuổi dậy thì, các con có những nhận thức mới về bản thân, gia đình, bạn bè và môi trường xung quanh. Các con bắt đầu nhận thức được cái tôi từ lứa tuổi này, các con dễ bị lôi cuốn bởi ấn tượng bên ngoài, dễ bị hấp dẫn bởi cái mới, cái lạ. Dựa trên những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học và đặc thù của môn học giáo viên lựa chọn những phương pháp, những hoạt động mà trong đó học sinh có cơ hội để trình bày hiểu biết ( theo diễn đạt của riêng mình) để giải quyết nhiệm vụ của bài học. Từ đó giải thích được sự vật, hiện tượng tự nhiên xung quanh. Tạo cơ hội cho học sinh liên hệ, vận dụng kiến thức, kỹ năng từ các lĩnh vực khác nhau trong các môn học khác vào để giải quyết vấn đề. Chú trọng tạo cơ hội cho học sinh học qua trải nghiệm, học qua tìm tòi khám phá thế giới xung quanh, qua quan sát thí nghiệm, thực hành, qua hợp tác, trao đổi với bạn. b) Nội dung và cách thực hiện biện pháp
- 9 Biện pháp 1: Tạo sự hứng thú cho học sinh bằng những trò chơi học tập. Không có một phương pháp giảng dạy nào là vạn năng, mỗi phương pháp đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế. Sự khéo léo của mỗi giáo viên là biết khác thác tối đa những ưu điểm của các phương pháp đó và mạnh dạn ứng dụng những phương pháp mới, mạnh dạn đổi mới và sáng tạo đáp ứng, thích ứng với nhu cầu của từng đối tượng học sinh nhằm tạo nên những đổi mới, những tiến bộ vượt bậc trong giáo dục. Tuy nhiên cũng có những phương pháp thể rõ ưu thế của mình trong quá trình giảng dạy. Trong những phương pháp đó có phương pháp trò chơi học tập. Trò chơi học tập phù với học sinh tiểu học vì có tác dụng giúp học sinh khám phá được kiến thức vừa đáp ứng nhu cầu vui chơi của trẻ. Trò chơi học tập vừa giúp trẻ giải tỏa được những “căng thẳng” trong quá trình học tập vừa giúp trẻ được vận động để phục hồi sức khỏe. Trong quá trình giảng dạy tôi đã mạnh dạn đầu tư thời gian thiết kế các trò chơi học tập trong môn Toán và phân môn Luyện từ và câu nó đã đem lại những hiệu quả nhất định. Vì vậy tôi tiếp tục mạnh dạn thiết kế những trò chơi học tập trong môn Khoa học nhằm giúp học sinh hứng thú, khắc sâu kiến thức hơn trong mỗi tiết học. Thông qua trò chơi học tập học học sinh hình thành khám phá được tri thức và còn tạo cơ hội hội cho giao lưu, hợp tác với bạn trong tổ, nhóm. Khi lựa chọn thiết kế các trò chơi học tập giáo viên cần lưu ý tên trò chơi phải gây sự chú ý tò mò đối với học sinh. Luật chơi đơn giản, dễ thực hiện đảm bảo tất cả học sinh đều có thể tham gia. Giáo viên cần khéo tổ chức để học sinh cả lớp cùng được tham gia, các em không được chơi trực tiếp thì sẽ là những cổ động viên, là ban giám khảo.... Các học sinh dưới lớp ngoài việc cổ vũ tinh thần mà còn phải suy nghĩ để tìm đáp án những vấn đề mà các bạn trong đội đang thực hiện.
- 10 Kết thúc mỗi trò chơi giáo viên cần có những nhận xét, đánh giá một cách toàn diện và kịp thời. Giáo viên cần đánh giá về cả kết quả lẫn tinh thần, ý thức, sự phối hợp của các thành viên trong nhóm. Trò chơi học tập phải mang ý nghĩa giáo dục đạo đức và ý thức công dân cho học sinh. Giáo dục ý thức đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau tránh tư tưởng ích kỉ, hẹp hòi. Trò chơi học tập trong các giờ học được thiết kế theo cấu trúc sau: Mục đích: Để tổ chức bất kì trò chơi nào giáo viên cũng phải xác định rõ mực tiêu trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào. Giúp học sinh hình thành phát triển được năng lực gì. Đồ dùng để chơi: Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết phục vụ cho quá trình tổ chức trò chơi. Số người tham gia chơi: Xác định rõ số người tham gia chơi. Nêu luật chơi và cách chơi: Nêu rõ các bước thực hiện, các qui định cụ thể đối với người chơi, qui định thắng thua của trò chơi. Nêu cách chơi để người chơi nắm được và thực hiện tốt. Tùy vào từng bài học cụ thể, từng đối tượng học sinh giáo viên có sự sáng tạo trong quá trình vận dụng các trò chơi. Tùy vào nội dung, thời gian của bài học mà giáo viên qui định thời gian chơi. Nhưng thông thường trò chơi học tập được tiến hành theo các bước sau: + Bước 1: Giới thiệu trò chơi ➢ Giáo viên nêu tên của trò chơi học tập. ➢ Hướng dẫn học sinh tham gia chơi, giáo viên có thể vừa diễn tả vừa mô phỏng hình thức chơi để học sinh nắm rõ. + Bước 2: Chơi thử ➢ Thông qua chơi thử để nhấn mạnh luật chơi.
- 11 + Bước 3: Chơi thật + Bước 4: Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham dự, giáo viên có thể nêu thêm những tri thức thu nhận được thông qua trò chơi, những sai lầm cần tránh. + Bước 5: Giáo viên cùng học sinh đánh giá kêt quả công bằng và khách quan có như vậy học sinh mới cảm thấy thoải mái và tự giác từ đó sẽ kích thích ý thức học tập tự giác của học sinh. Hình thức phạt đơn giản, nhẹ nhàng giáo viên có thể sử dụng những hình thức hóm hỉnh tạo sự sôi nổi, tiếng cười sảng khoáng cho cả đội thắng và đội thua. Một số trò chơi học tập trong môn Khoa học lớp 5. Trò chơi: “Rung chuông vàng” * Mục tiêu: Củng cố lại những kiến thức học sinh đã học ở những bài trước nhằm tạo tâm lí hưng phấn trước khi vào bài học. Hoặc tổ chức cuối các bài học để củng cố kiến thức cho học sinh. Rèn cho học sinh sự nhanh nhẹn và tập trung chú ý. * Chuẩn bị: Ứng dụng CNTT soạn trên Powe Point. Học sinh chuẩn bị bảng con, bút viết bảng. * Thời gian: Khoảng từ 2 đến 3 phút. * Luật chơi – Cách chơi: Học sinh cả lớp cùng chơi lần lượt nghe, quan sát câu hỏi trên màn hình và ghi đáp án đúng vào bảng con. Những học sinh trả lời chưa chính xác thì không được tham gia ở những câu tiếp theo. Hết thời gian những học sinh còn lại là người thắng cuộc. Ví dụ: Sau khi dạy bài Nhôm giáo viên soạn một số cấu hỏi trắc nghiệm giúp học sinh củng cố lại kiến thức của bài học như sau: Câu 1: Nhôm có nguồn gốc từ đâu? a) Từ quặng nhôm. b) Trong các thiên thạch.
- 12 c) Từ dầu mỏ và than đá. d) Trong các núi đá vôi. Câu 2: Nhôm và hợp kim của nhôm khôn được dùng để làm gì? a) Trong sản xuất các dụng cụ làm bếp. b) Làm khung cửa sổ và một số bộ phận của các phương tiện giao thông. c) Làm đường ray. d) Làm vỏ nhiều loại hộp. Câu 3: Đặc điểm của nhôm là: a)Màu trắng bạc, có ánh kim, có thể kéo thành sợi và dát mỏng, không bị gỉ. Dẫn điện, dẫn nhiệt tốt. b)Màu trắng xám, có ánh kim, có tính dẻo, dễ uốn, dễ kéo thành sợi, dễ rèn, dễ dập. c)Màu nâu đỏ, có ánh kim, bền dễ dát mỏng, dễ kéo thành sợi, dẫn điện, dẫn nhiệt tốt. Trò chơi: “Tiếp sức đồng đội” * Mục tiêu: Giúp học sinh củng cố kiến thức đã học, trình bày hiểu biết của học sinh về vấn đề đưa ra. Giúp học sinh phát huy sự tự tin và tính chủ động. Rèn sự nhanh nhẹn, phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong đội. * Chuẩn bị: tùy vào bài giáo viên chuẩn bị thẻ từ hoặc chỉ cẩn bảng đã chia sẵn cho các đội và phấn viết. * Thời gian: Căn cứ vào nội dung bài học và đối tượng học sinh giáo viên quy định thời gian hợp lí. * Luật chơi – Cách chơi: Chơi theo đội, mỗi đội có thể từ 3 đến 5 học sinh, học sinh của hai đội xếp thành hai hàng dọc. Khi nghe hiệu lệnh bắt đầu học sinh đầu tiên sẽ tìm và gắn (hoặc ghi) vào bảng của đội mình một nội dung đúng theo yêu cầu thuộc chủ
- 13 điểm sau khi tìm và gắn ( hoặc ghi) xong sẽ trao phấn cho bạn thứ hai để bạn thứ hai tiếp tục. Các đội thực hiện đến khi nào hết nội dung hoặc hết giờ. Giáo viên cùng học sinh dưới lớp kiểm tra nhận xét đáp án đội nào có nhiều nội dung đúng và nhanh là đội thắng cuộc. Ví dụ khi dạy bài: Nam hay nữ giáo viên có thể sử dụng trò chơi này. Mục tiêu: thông qua trò chơi này học sinh phân biệt các đặc điểm về mặt sinh học và xã hội giữa nam và nữ. Chuẩn bị: Bảng lớp chia làm hai và kẻ sẵn như sau: Nam Cả nam và nữ Nữ Thẻ từ có sẵn nội dung như sách giáo khoa (trang 8) ví dụ: Dịu dàng Có râu Mạnh mẽ Kiên nhẫn Tự tin Giám đốc Thời gian: Đối với nội dung bài có sẵn như trên thì đội nào gắn xong trước và có nhiều đáp án đúng hơn là đội thắng cuộc. Để khắc sâu thêm kiến thức và tạo cơ hội cho học sinh trình bày giáo viên có thể đặt thêm những câu hỏi để học sinh có cơ hội trình bày những hiểu biết của mình về vấn đề mà các em thực hiện. Ví dụ: Vì sao em cho rằng nhiệm vụ chăm sóc con cái là trách nhiệm của cả nam và nữ? Hoặc trong bài Nhôm giáo viên cũng có thể sử dụng trò chơi này. Mục tiêu: Học sinh kể tên được một số dụng cụ, đồ dùng, máy móc được làm bằng nhôm.

