Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 thực hiện tốt giải toán có lời văn theo bộ sách Cánh diều
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 thực hiện tốt giải toán có lời văn theo bộ sách Cánh diều", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_3_t.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 3 thực hiện tốt giải toán có lời văn theo bộ sách Cánh diều
- 3 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1. Hiện trạng vấn đề 1.1. Về phía Giáo viên Việc dạy học toán cho học sinh còn lệ thuộc nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo viên. Chủ yếu cung cấp đủ số lượng các bài tập trong một tiết dạy, chưa chú trọng đi sâu vào việc phân tích, tổng hợp, tìm tòi cách giải bài toán, cách hướng dẫn học sinh từng bước giải. Còn hạn chế trong việc dẫn dắt học sinh quá trình tìm cái ẩn, mối quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết, giữa các đại lượng,... để từ đó học sinh tìm được đường lối chung giải bài toán, tìm câu trả lời, thực hiện phép tính tương ứng. Một số giáo viên còn vận dụng chưa linh hoạt các phương pháp dạy học truyền thống nên việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh chưa tích cực. 1.2. Về phía Học sinh Việc tiếp thu kiến thức của học sinh một số em còn lệ thuộc vào người khác, ít động não suy nghĩ. Chính vì vậy mà các em nắm kiến thức không vững, không sâu, không hiểu được bản chất của vấn đề chỉ biết rập khuôn theo mẫu một cách máy móc, nên có những bài toán chỉ khác mẫu đi một chút hoặc thay dự kiện là học sinh không làm được, nếu làm được thì kết quả cũng không chính xác. Mặt khác ngôn ngữ của các em còn hạn chế nên việc tìm lời giải cho bài toán còn gặp nhiều khó khăn; Qua việc kiểm tra bài và trao đổi trực tiếp với học sinh, tôi phát hiện được một số học sinh còn mắc phải các lỗi sau trong giải toán: Có em đã biết giải đúng (đúng lời giải và phép tính tương ứng). Song có em chỉ thực hiện được phép tính đúng mà lời giải chưa phù hợp hay viết lời giải còn lủng củng chưa rõ ràng. Điều tra thực trạng tại lớp tôi cho thấy kết quả như sau: HS có lời giải và phép HS có lời giải và phép HS có phép tính đúng Tổng HS chưa giải được tính đúng, trình bày tính đúng, trình bày mà lời giải chưa hợp số bài toán khoa học chưa khoa học lý SL TL SL TL SL TL SL TL 40 em 15 em 37,5% 10 em 25% 11 em 27,5% 4 em 10%
- 4 Như vậy việc dạy và học giải toán có lời văn ở lớp 3 có vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là giải toán có đến 2 phép tính (vì đây là dạng toán các em mới tiếp cận). Vì thế để giúp học sinh biết giải toán đúng, giáo viên phải đặt ra yêu cầu cho học sinh đó là biết tìm hiểu đề toán, biết tóm tắt bài toán, biết tìm cách giải và hơn nữa là biết tìm lời giải phù hợp và cuối cùng là biết tự đánh giá kết quả. 2. Các giải pháp tổ chức thực hiện Để giúp học sinh lớp 3 biết giải toán có lời văn trong sách giáo khoa toán 3 và các bài toán phát triển dựa trên các bài toán đã cho để vận dụng giải các bài toán trong thực tế đời sống, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp như sau: Giải pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh để nâng cao chất lượng dạy học Trong một lớp học thì lực học của học sinh thường không đồng đều nên việc giáo viên nắm bắt được lực học của từng học sinh trong lớp là nhiệm vụ đầu tiên và cũng hết sức quan trọng. Từ đó, giáo viên có những giải pháp giúp các em đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. Chính vì vậy, qua theo dõi thực tế lực học của lớp, tôi chia học sinh thành các nhóm sau: + Nhóm 1: Học sinh bị rỗng kiến thức ở lớp dưới: 6 em + Nhóm 2: Học sinh thiếu điều kiện học tập do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ không quan tâm: 6 em. + Nhóm 3: Học sinh không chú ý học, nghịch ngợm: 8 em + Nhóm 4: Học sinh tiếp thu bài tốt, tích cực học bài: 20 em. Sau khi phân loại được đối tượng học sinh, tôi giải thích để các em hiểu và biết các em còn chưa đạt chuẩn phần kiến thức nào. Sau đó, tôi lập ngay kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học sinh theo từng nhóm. + Nhóm 1: Đây là nhóm học sinh tôi quan tâm nhiều nhất. Tôi vừa phải giúp các em nhớ lại kiến thức cũ, vừa phải đạt được chuẩn kiến thức kĩ năng trong từng tiết học. Nên tôi liên tục kiểm tra các phép tính cộng, trừ, nhân, chia bằng nhiều hình thức khác nhau: đọc thuộc lòng, phiếu bài tập, chấm bài thường xuyên, + Nhóm 2: Với đối tượng học sinh này, tôi sẽ tìm hiểu điều kiện hoàn cảnh của học sinh đó; vận động phụ huynh và học sinh trong lớp giúp đỡ về: sách vở,
- 5 đồ dùng . Ngoài ra, tôi luôn lắng nghe tâm sự để chia sẻ động viên các em kịp thời. + Nhóm 3: Trường hợp học sinh nghịch ngợm, không chú ý trong giờ học, tôi xếp cho các học sinh đó ngồi ngay bàn đầu và xếp em học sinh ngoan, học giỏi bên cạnh để giúp đỡ, kèm cặp. Trong giờ học, tôi thường xuyên quan tâm đến học sinh đó bằng cách gọi trả lời các câu hỏi, khen ngợi và động viên khích lệ các em khi có sự tiến bộ + Nhóm 4: Là nhóm học sinh ngoan, tiếp thu bài tốt, ngoài những bài tập yêu cầu cần đạt chuẩn, tôi luôn chuẩn bị thêm một số bài tập nâng cao hơn để giúp các em phát huy khả năng của mình. Ngoài ra, với học sinh nhóm 1, 2, 3 tôi luôn đánh giá các em theo hướng động viên, khuyến khích còn nhóm 4 tôi đánh giá theo sự sáng tạo. Bên cạnh đó, trong thời gian dạy buổi 2, tôi dành nhiều thời gian để ôn tập củng cố lại các bảng nhân, chia, cộng, trừ với nhiều hình thức: đọc đồng thanh từng bảng nhân, chia; bằng cách nối tiếp, cá nhân, thi đọc thuộc lòng, hỏi vấn đáp nhanh các phép tính cộng, trừ trong bảng đã học ở lớp 2, giải các bài toán có lời văn 1 phép tính đơn giản với mục đích giúp các em nhớ lại các dạng bài đã học. Sau thời gian được ôn tập và có hệ thống, học sinh lớp tôi có nhiều chuyển biến tích cực trong học tập: đi học chuyên cần, tích cực tự giác học bài và nắm vững được các dạng toán có lời văn đã học. Đó là cơ sở để các em thực hiện tốt các dạng giải toán cớ lời văn trong chương trình học lớp 3. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm chắc cách giải các bài toán đơn. Các bài toán đơn học sinh được học bao gồm các bài toán giải bằng một trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia. Đây là các bài toán các em được học trong chương trình môn Toán của các lớp 1, 2 và nửa đầu học kì 1 ở lớp 3. Ngoài ra, các em còn được học khi giải các bài toán liên quan đến tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hình vuông. Các bài toán đơn mà học sinh đã học đều là các bài toán thuộc các dạng toán điển hình. Khi dạy học Toán có nội dung chứa bài toán có lời văn mà học sinh đã được học ở các lớp 1, lớp 2, tôi luôn hướng dẫn các em tìm ra mối quan hệ giữa các dữ
- 6 kiện đã cho và yêu cầu cần tìm để các em nhớ lại xem bài toán đó thuộc dạng toán nào đã học, để giải được bài toán đó thì cần sử dụng phép tính nào, có những cách đặt câu lời giải cho phép tính đó như thế nào,... Ở lớp 3, học sinh được ôn lại một số dạng toán đơn đã học như bài toán về nhiều hơn, bài toán về ít hơn, bài toán về tìm số hạng trong một tổng, bài toán về gộp hai số; bài toán về so sánh hai số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị. Đặc biệt, ở lớp 3, khi các em được học bảng nhân 6, bảng nhân 7, bảng nhân 8, bảng nhân 9, các bảng chia 6, bảng chia 7, bảng chia 8, bảng chia 9 thì các em đều được giải các bài toán đơn về gộp các nhóm bằng nhau, chia đều, chia thành các nhóm bằng nhau. Các dạng toán này còn được củng cố khi học về nhân số có 2; 3; 4; 5 chữ số với số có 1 chữ số và chia số có 2; 3; 4; 5 chữ số cho số có 1 chữ số. Vì vậy, khi gặp các bài toán này, tôi đã vận dụng những hiểu biết đã có của học sinh để các em tự tìm ra dạng toán và cách giải bài toán. Chính từ việc gợi ý của giáo viên để cùng cố, khắc sâu dạng toán mà các em luôn có tâm thế phải suy nghĩ phải tìm tòi, phải đưa ra được cách giải cho bài toán, từ đó các em sẽ nhớ lâu dạng toán đã học. Việc dạy học bằng phương pháp gợi mở như trên, tôi đã giúp học sinh được rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời cũng đã giúp các em lấy việc giải các bài toán có lời văn làm phương tiện để phát triển tư duy. Còn khi dạy các dạng toán đơn mới ở lớp 3 như dạng toán về gấp một số lên nhiều lần, so sánh hai số gấp hoặc kém nhau bao nhiêu lần, giảm đi một số lần, tôi đều hình thành kiến thức mới cho các em từ những kiến thức đã học. Chẳng hạn như khi dạy bài "Gấp một số lên nhiều lần", tôi đã hình thành quy tắc từ kiến thức đã được học. Học sinh tự vẽ đoạn thẳng AB dài 2cm, tìm cách vẽ đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB, tìm cách tính độ dài của đoạn thẳng CD. Từ những việc làm trên của học sinh, chính các em đã tự tìm ra cách gấp 2cm lên 3 lần, tự lấy được ví dụ về gấp một số nào đó lên một số lần rồi tìm ra quy tắc gấp một số lên nhiều lần. Sau mỗi dạng toán mà học sinh mới được học, tôi đều cho học sinh luyện tập củng cố kiến thức qua các bài luyện tập trong sách giáo khoa và trong các tiết dạy
- 7 ở buổi hai. Ngoài ra, tôi còn cho học sinh củng cố mỗi dạng toán bằng những bài toán ngược để các em tránh bị nhầm lẫn. Giải pháp 3: Trang bị và áp dụng quy trình cho các dạng bài tập 1.1 Quy trình dạy học toán có lời văn Trên cơ sở nắm một cách chắc chắn các đối tượng học sinh lớp mình, nắm được cấu trúc chương trình các bài toán có lời văn tôi lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học cho phù hợp. Quy trình dạy học giải toán có lời văn chia ra làm các bước sau: Bước 1: Đọc kĩ đề toán Là một công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, các em có đọc kĩ đề mới nắm bắt được các dữ kiện của bài toán, nếu đọc qua loa sẽ hiểu nhầm, hiểu sai về mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán và gây khó khăn cho bước tiếp theo. Gạch dưới một số thuật ngữ toán quan trọng có trong đề bài. Chẳng hạn: "kém 2 lần”, “ hơn 2 đơn vị”, “ gấp 3 lần”, “ bằng một phần ba”... Ở bước này tôi luôn gọi những em giải toán chưa tốt đọc đề bài nhiều lần và nhấn mạnh ở những dữ kiện của bài toán và giúp cho học sinh hiểu một số thuật ngữ của bài toán. Bước 2: Tóm tắt đề toán Đây là dạng diễn đạt ngắn gọn đề toán, tóm tắt đúng sẽ giúp cho học sinh có cách giải dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. Nhìn vào tóm tắt là định ra các bước giải bài toán. Có 4 cách tóm tắt đề toán: - Cách 1: Dưới dạng câu ngắn - Cách 2: Dưới dạng sơ đồ đoạn thẳng - Cách 3: Dưới dạng hình vẽ - Cách 4: Tóm tắt bằng kí hiệu Tuỳ vào dạng toán mà tôi hướng dẫn cho các em cách tóm tắt phù hợp .Khi tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc hình vẽ cần phải đảm bảo tính cân đối, chính xác.
- 8 Ở những dạng toán học sinh mới gặp lần đầu, giáo viên có thể làm mẫu tóm tắt. Sau đó nên gợi ý, hướng dẫn học sinh tự mình tóm tắt đề toán thì tốt hơn. Sau khi tóm tắt xong giáo viên cho học sinh nhắc lại ngắn gọn đề toán ( bằng tóm tắt) mà không cần nhắc lại nguyên văn. Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải Bước phân tích đề toán để tìm ra cách giải là bước quan trọng nhất trong quá trình giải một bài toán của học sinh, đồng thời cũng là bước khó khăn nhất đối với các em.Vì vậy khi giải một bài toán tôi thường xuyên rèn luyện, hướng dẫn các em phân tích từng bước một cách rõ ràng, chính xác thông qua hệ thống câu hỏi, câu trả lời ngắn gọn, dễ hiểu. dần dần các em sẽ quen dần và sẽ biết phân tích, lập sơ đồ phân tích bài toán trong khi giải một cách đúng đắn và nhanh chóng. Ví dụ 1: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu. Hỏi cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu? Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh suy luận như sau: H: Bài toán hỏi gì? ( Cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu?) H: Muốn biết cả hai thùng đựng được bao nhiêu lít dầu ta làm như thế nào?( Lấy số lít dầu thùng thứ nhất cộng số lít dầu thùng thứ hai) H: Số lít dầu thùng thứ nhất biết chưa? ( Biết rồi ) H: Số lít dầu thùng thứ hai biết chưa? ( Chưa biết). Muốn tìm số lít dầu thùng thứ hai ta làm thế nào? (Lấy số lít dầu thùng thứ nhất cộng 6) Có thể minh họa bằng sơ đồ sau: Bước 1 Bước 2 18 lít 18 lít Thùng 6 lít Thùng 1: ? lít 1:Thùng Thùng 2: 2: ? lít 24 lít Khi phân tích một bài toán cần hướng dẫn cho học sinh có thói quen tự đặt câu hỏi, chẳng hạn: + Bài toán cho gì?
- 9 + Bài toán hỏi gì? + Muốn trả lời câu hỏi của bài toán phải biết gì? Phải thực hiện những phép tính gì? Từ những dữ kiện đã cho có thể biết được gì? Muốn biết thì phải làm phép tính gì? Làm phép tính đó có cần thiết cho việc trả lời câu hỏi của bài toán không?... Khuyến khích hướng dẫn học sinh biết nhận xét, tìm cách giải bài toán bằng nhiều phương pháp khác nhau, đồng thời biết chọn cách giải hay nhất, đơn giản nhất. Điều đó có tác dụng rất lớn trong việc phát huy tính sáng tạo, rèn luyện tư duy linh hoạt, phát triển trí thông minh. Đồng thời nó đem lại niềm hứng thú cho học sinh trong khi học toán. Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải Sau khi học sinh đã tìm được cách giải bài toán bằng phương pháp phân tích, lập sơ đồ giải toán,thì việc trình bày bài giải không phải là bước khó khăn lắm đối với các em.Tuy vậy cũng cần hướng dẫn cho các em biết viết lời giải và trình bày bài giải một cách khoa học rõ ràng, chính xác và đầy đủ theo phương pháp tổng hợp, ngược với phương pháp phân tích để tìm lời giải. Chẳng hạn, đối với bài toán ở ví dụ 1, từ sơ đồ này ta có thể đi ngược từ dưới lên để trình bày bài giải như sau: Bài giải Số lít dầu ở thùng thứ hai là: 18 + 6 = 24 (l) Số lít dầu cả hai thùng là: 18 + 24 = 42 (l) Đáp số: 42 lít dầu Bước 5: Kiểm tra và thử lại các kết quả Việc giúp cho học sinh có thói quen tự kiểm tra lại kết quả của bài toán đã tìm ra là một việc rất quan trọng, vì nó giáo dục các em đức tính cẩn thận, chu đáo, ý thức trách nhiệm với công việc mình làm. Có thể dùng các hình thức kiểm tra sau: - Xét tính hợp lí của đáp số
- 10 - Trong trường hợp bài toán có nhiều cách giải mà tất cả các cách giải đều dẫn tới cùng một đáp số thì đáp số đó là đúng. - Thử lại đáp số dựa vào các mối quan hệ giữa các số đã cho và các số phải tìm bằng cách lập bài toán ngược lại bài toán đã giải, coi đáp số tìm được là số đã biết và một trong những số đã cho là chưa biết. Nếu tìm thấy đáp số của bài toán ngược này đúng bằng số đã cho coi là chưa biết ấy thì bài toán đã được giải đúng. Ví dụ: Xét tính hợp lí của bài toán trên là: Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng 24 lít dầu.Vậy số lít dầu ở thùng thứ hai hơn thùng thứ nhất là: 24 – 18 = 6 (l) Cả hai thùng dầu đựng 42 lít mà thùng thứ hai có 24 lít , vậy thùng thứ nhất đựng số lít dầu là: 42 – 24 = 18 (l) Vậy bài toán giải đúng 1.2. Vận dụng quy trình chung để giải các bài toán ở mỗi dạng: Để giúp học sinh biết vận dụng quy trình giải toán có lời văn ở mỗi dạng trong SGK toán 3. Tôi chọn một số ví dụ điển hình cho dạng đang đề cập tới: Dạng 1: Bài toán giải bằng hai phép tính Ví dụ 1: (Bài 2, trang 85 sách Cánh Diều tập 1) Bài toán: Anh sưu tập được 35 vỏ ốc, em sưu tập được ít hơn anh 16 vỏ ốc. Hỏi cả hai anh em sưu tập được bao nhiêu vỏ ốc? Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện trình bày bài giải theo 5 bước (quy trình giải) - Bước 1: Đọc kĩ đề toán - Bước 2: Tóm tắt đề toán
- 11 (Học sinh đọc kĩ đề toán, phân tích đề toán, tóm tắt (sơ đồ đoạn thẳng) mô tả nội dung bài toán) Tóm tắt Anh có: 35 vỏ ốc Em có: ít hơn anh 16 vỏ ốc Hỏi: 2 anh em có bao nhiêu vỏ ốc - Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải Tìm số vỏ ốc của em (Chọn phép tính và thực hiện phép tính đúng: 35 - 16 = 19 (vỏ ốc)) Tìm số vỏ ốc của 2 anh em. (HS chọn phép tính và thực hiện phép tính đúng: 35 + 19 = 54 (vỏ ốc) - Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải Bài giải Em có số vỏ ốc là: 35 - 16 = 19 (vỏ ốc) Số vỏ ốc của cả hai anh em là: 35 + 19 = 54 (vỏ ốc) Đáp số: 54 vỏ ốc Bước 5: Kiểm tra và thử lại các kết quả 35 - 16 = 19; 19 + 16 = 35; 35 - 16 = 19 (đúng) 35 + 19 = 54; 54 - 19 = 35; 35 + 19 = 54 (đúng) Dạng 2: Giải các bài toán có nội dung hình học Để các em nắm vững kiến thức và thành thạo trong việc giải các bài toán liên quan đến yếu tố hình học trong chương trình toán 3 cũng như trong đời sống thực tiễn tôi đưa ra một số bài tập để rèn kĩ năng giải toán cho các em từ đó phát triển tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng bước đầu về hình học tạo đào cho học sinh tiếp tục học ở các lớp trên tốt hơn. Ví dụ 1: (Bài 2a, trang 111 sách Cánh Diều tập 1)
- 12 Tính chu vi hình chữ nhật có: Chiều dài: 12 m, chiều rộng: 8m Để giúp học sinh giải các bài toán theo 5 bước tôi gợi ý theo các yếu tố sau: - Bước 1: Đọc kĩ đề toán - Bước 2: Tóm tắt đề toán (Học sinh đọc kĩ đề bài để nắm dữ kiện bài toán đã cho) Chiều dài: 12m; chiều rộng: 8m Cái phải tìm: Chu vi - Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải Áp dụng công thức tính chu vi : Học sinh thực hiện phép tính: (12 + 8) × 2 = 40(m) - Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải Bài giải Chu vi hình chữ nhật là (12 + 8) × 2 = 40 (m) Đáp số: 40m - Bước 5: Kiểm tra và thử lại các kết quả Thử lại: (12 + 8) × 2 = 40; 40 : 2 = 20; 20 × 2 = 40 (đúng) Học sinh tự kiểm tra việc tính toán của mình Dạng 3: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị Để học sinh có kĩ năng giải các bài toán này được thành thạo tôi đưa ra một số bài tập để rèn kĩ năng giải toán cho các em được tốt hơn. Ví dụ : (Bài 3, trang 6 sách Cánh Diều tập 2)
- 13 Bài toán: Mỗi quả dứa ép được 200ml nước. Hỏi chị Lan ép 8 quả dứa như thế thì được bao nhiêu mi-li-lít nước dứa? Mỗi quả dứa ép được 200ml nước. Hỏi chị Lan ép 8 quả dứa như thế thì được bao nhiêu mi-li-lít nước dứa? - Bước 1: Đọc kĩ đề toán - Bước 2: Tóm tắt đề toán Tóm tắt 1 quả dứa ép : 200ml nước 8 quả dứa ép: ? ml nước - Bước 3: Phân tích đề toán để tìm cách giải - Bài toán cho biết gi? ( mỗi quả dứa ép được 200ml nước) Bài toán yêu cầu tìm gì? (8 quả dứa ép được bao nhiêu ml nước) - Bước 4: Tổng hợp và trình bày bài giải Bài giải Số ml nước ép trong 8 quả dứa là: 200 x 8 = 1600 (ml) Đáp số: 1600 ml nước ép Bước 5: Kiểm tra và thử lại các kết quả Thử lại: 200 x 8 = 1600; 1600 : 8 = 200; 200 x 8 = 1600 (ml) Từ bài toán trên tôi có thể thay đổi dự kiện để biến đổi thành bài toán mới

