Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học môn Tin học 6

docx 41 trang Chăm Nguyễn 09/05/2026 200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học môn Tin học 6", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_phat_trien_nang_luc_van_dung_kien_thuc_vao.docx
  • pdfBáo cáo Biện pháp Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học môn Tin học 6.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học môn Tin học 6

  1. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Kí hiệu Nội dung 1 NL VDKT Năng lực vận dụng kiến thức 2 CNTT Công nghệ thông tin 3 HS Học sinh 4 THCS Trung học cơ sở 5 GV Giáo viên 6 SGK Sách giáo khoa 7 GDPT Giáo dục phổ thông 8 PPDH Phương pháp dậy học - 1 -
  2. “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC (NL VDKT) VÀO THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC 6” PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, đặc biệt đánh giá NL VDKT các môn học vào cuộc sống; coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục. Trong Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (2018) cũng đã xác định mục tiêu: “Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời ”. Như vậy, việc dạy học cần chú trọng hình thành, phát triển cho học sinh (HS) không chỉ kiến thức mà HS phải vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn. Thông qua việc vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, HS có khả năng nhớ kiến thức lâu hơn, hiểu kiến thức sâu hơn và việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn. Do vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về vấn đề này nhằm giúp giáo viên (GV) thực hiện nhiệm vụ dạy học đáp ứng mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông mới. Từ những cơ sở lí luận nêu trên, tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học môn Tin học 6” để nghiên cứu, xây dựng các tình huống thực tiễn và hướng dẫn HS cách vận dụng kiến thức môn Tin học để giải quyết vấn đề thực tiễn. Qua đó, không chỉ tạo hứng thú và phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức cho HS, mà còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học ở trường trung hoc cơ sở (THCS). Khi dạy học, có rất nhiều vấn đề đặt ra gắn liền với thực tiễn. Những vấn đề đó nếu được giáo viên hướng dẫn và tổ chức cho HS thực hiện một cách sáng - 2 -
  3. tạo bằng những phương pháp dạy học tích cực và phù hợp trong quá trình truyền thụ tri thức đến cho HS thì chẳng những các em hứng thú với bài học mà còn trang bị cho HS kĩ năng tư duy ứng dụng và tư duy sáng tạo. Điều đó đòi hỏi GV phải giúp HS nhận ra các lý thuyết Tin học là gắn liền với thực tiễn, gắn liền với đời sống; từ đó giúp HS dễ dàng lĩnh hội, gây được sự hứng thú, kích thích được hoạt động nhận thức của HS. Mặt khác, Tin học luôn có quan hệ mật thiết với các môn học khác nên khi nắm vững được mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn, HS sẽ dễ dàng vận dụng các kiến thức Tin học để tự học các môn học khác. Chính vì vậy, tôi mạnh dạn viết biện pháp “PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TIN HỌC 6”. Nhằm tạo tiền đề để các em hình thành và phát triển NL VDKT Tin học vào giải quyết vấn đề thực tiễn, cũng như kĩ năng học và tự học. Với tinh thần đem đến cho HS tri thức khoa học một cách đơn giản và dễ hiểu. Dẫn dắt các em từ chỗ biết cách ứng dụng CNTT đến chỗ yêu thích lĩnh vực này. Từ đó, muốn dùng máy tính để tạo ra sản phẩm hữu ích cho cuộc sống. Và hơn hết là để các em không bị nhồi nhét kiến thức mà lại không biết sử dụng những kiến thức đó vào việc gì? Trên tinh thần đó, biện pháp: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học môn Tin học 6” được viết với mục đích giúp HS phát triển NL VDKT Tin học vào thực tiễn. Cụ thể, giúp HS: - Hiểu rõ tính ứng dụng của Tin học thông qua các tình huống thực tế, bài tập thực tiễn hay những hoạt động mang tính trải nghiệm thực tế. - Đứng trước một vấn đề cụ thể trong cuộc sống, HS biết phải sử dụng kiến thức Tin học nào để giải quyết bài toán thực tiễn đang đặt ra. - Phát hiện được trong cuộc sống những vấn đề có thể xử lý bằng các công cụ Tin học mà HS đã được trang bị. - Biết sử dụng Tin học để hỗ trợ việc tự học, học tập các bộ môn khác. - Có khả năng tự nghiên cứu, khám phá, sử dụng được các ứng dụng Tin học (trong và ngoài những kiến thức được trình bày trong SGK) và kết hợp kiến thức liên môn để tạo ra các sản phẩm số giải quyết các vấn đề trong học tập và ngoài thực tiễn. - Có khả năng sử dụng ngôn ngữ lập trình để phát triển, mở rộng, tạo mới các công cụ Tin học để ứng dụng trong học tập và vào thực tiễn. - 3 -
  4. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng công tác dạy học và tính cấp thiết a. Thực trạng công tác Ưu điểm - BGH rất quan tâm và tạo điều kiện cho giáo viên thực hiện các biện pháp đổi mới phương pháp dậy học theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. - Nhà trường có phòng máy tính đảm bảo 2 HS/1 máy, các lớp học hệ thống máy tính và máy chiếu đầy đủ đảm bảo cho công tác dậy và học. - Học sinh ngoan và có ý thức - Đa số HS là con em địa phương nên rất thuận tiện việc các em thực hiện các bài tập dự án và đi tìm hiểu thực tế. - PHHS quan tâm và tạo điều kiện - Đội ngũ cán bộ giáo viên nhiệt tình, tận tụy giúp đỡ, trao đổi chuyên môn Hạn chế - Học sinh thường trú trọng 3 môn Toán, Văn, Anh đây là 3 môn thường xuyên thi vào cấp THPT. Ngoài ra đây là năm học đầu cấp các em còn nhiều bỡ ngỡ, làm quen phương pháp học mới ở bậc THCS. -Đa số học sinh chưa có thói quen tư duy khi gặp các bài tập thực tiễn mà thường chỉ biết lặp lại những kiến thức của giáo viên truyền thụ nên không giải quyết được. - Nhiều HS vẫn chưa có máy tính để học tập. Học sinh chỉ biết những kiến thức trong sách vở và vận dụng những kiến thức đã học vào trả lời các câu hỏi trong SGK một cách khô khan, máy móc. Một số khác học sinh lại ít chịu học; chưa tự giác, tích cực trong học tập. Các em chưa biết cách tự học, tự tìm tòi kiến thức mới và hợp tác cùng với các bạn để cùng nhau giải quyết những vấn đề phức hợp hay chưa biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống. Cho nên, HS khi học không biết học để làm gì? Và khi làm, không biết làm để làm gì? Do đó, các em cảm thấy nhàm chán và không hứng thú với môn học nên hiệu quả và chất lượng môn Tin học chưa thật sự là kết quả mà GV mong muốn. - 4 -
  5. - Hiện nay, trong quá trình dạy học, GV cũng có ý thức trong việc dạy học gắn với thực tiễn, nhưng chủ yếu chỉ ở mức liên hệ kiến thức đã học với một số bài tập thực tiễn trong SGK, chưa thực sự coi trọng việc xây dựng các bài tập phù hợp với thực tiễn địa phương cũng như việc phát triển NL VDKT vào thực tiễn cho HS. - Giáo viên thường dạy học các kiến thức thuần túy mà chưa chú trọng hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Để chuẩn bị cho bài mới, GV thường giao cho các em về nhà làm các bài tập trong SGK và SBT mà chưa chú ý nhiều đến việc yêu cầu HS tìm hiểu các vấn đề trong cuộc sống liên quan đến kiến thức trong bài giảng kế tiếp để HS có tâm thế vào bài mới một cách hứng thú hơn. - Đặc biệt, trong chương trình Tin học lớp 6 năm học 2021 – 2022, thời lượng môn Tin học chỉ còn 1 tiết/tuần. Thời lượng dành cho thực hành cũng tương đối ít. Làm sao để HS có nhiều thời gian thực hành trên máy tính? Làm sao để HS vận dụng được kiến thức đã học vào cuộc sống và học tâp? b. Tính cấp thiết Qua khảo sát tâm lý của HS về dạy học phát triển NL VDKT vào thực tiễn, đầu năm học 2021-2022, tôi đã thiết kế 1 phiếu điều tra gồm 4 câu hỏi và tiến hành điều tra trên 161 HS khối 6 của trường Kết quả thu được như sau: Câu hỏi khảo sát Đáp án lựa chọn Kết quả Câu 1: Em có thích học môn Tin không? Thích 30% Bình thường 30,8 % Không thích 39,2% Câu 2: Em thấy môn Tin học có mang lại ích Có 35,5% lợi trong học tập và cuộc sống của em không? Không 64,5% Câu 3: Em có thường sử dụng các ứng dụng Thường xuyên 13% của Tin học để tạo ra sản phẩm nào chưa? Thỉnh thoảng 20,5% Chưa bao giờ 66.5% Câu 4: Em có thích được vận dụng kiến thức Thích 70.2% Tin học vào cuộc sống không? Bình thường 26.8% Không thích 3.0% - 5 -
  6. Từ kết quả trên, tôi nhận thấy rằng: Nhiều HS không thích học môn Tin học (chiếm 39.2%), coi việc học môn Tin học là một nhiệm vụ học tập phải học một cách miễn cưỡng không chút hứng thú và say mê với môn học (chiếm 30.8%). Phần lớn các em chưa nhận thấy được tính ứng dụng của Tin học trong cuộc sống và học tập (chiếm 64.5%). Mặc dù rất thích được ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn (chiếm 70.2%). Tuy nhiên, các em chưa hình thành được thói quen liên hệ giữa kiến thức lí thuyết học được với những vấn đề thực tiễn xung quanh. Chính vì vậy mà việc sử dụng các ứng dụng của Tin học để tạo các sản phẩm số còn hạn chế, chỉ một số ít HS thực hiện được việc này đa số là HS giỏi (chiếm 13%), số HS chưa bao giờ ứng dụng Tin học để tạo sản phẩm chiếm 66.5%, thỉnh thoảng có áp dụng chiếm 20.5%. Bài khảo sát chất lượng đầu năm Kết quả Sĩ Lớp Tốt Khá Đạt CĐ Đạt trở lên số SL % SL % SL % SL % SL % 6A 37 10 27.0 18 48.7 9 24.3 0 0 37 100 6B 42 0 0.0 8 19.1 18 42.9 15 35.8 26 61.9 6C 41 1 2.4 8 19.5 17 41.5 16 39.1 26 63.41 6D 41 1 2.4 9 22.0 16 39.0 15 36.6 26 63.41 TC 161 12 7.5 43 26.7 60 37.3 46 28.5 115 71.43 Từ bảng thống kê và biểu đồ minh họa, tỉ lệ HS CĐ vẫn còn khá cao (28,5%), trong khi đó, tỉ lệ HS Khá, Tốt còn khiêm tốn (34,2%). Qua khảo sát, và tiếp xúc với nhiều em HS, tôi thấy rõ thái độ thờ ơ của các em với môn Tin học. Đó là một thực trạng đáng lo ngại trong thời đại mà Tin - 6 -
  7. học được xem là một công cụ hổ trợ đắc lực trong cuộc sống và học tập như hiện nay. Vì vậy để giúp học sinh phát triển NL VDKT vào thực tiễn môn Tin học 6 tôi đã sử dụng biện pháp “ Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dậy học môn Tin học 6” cho học sinh khối 6 năm học 2021-2022. 2. Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Như vậy, để phát triển NL VDKT vào thực tiễn cho HS trong dạy học môn Tin học 6, GV cần đặt HS vào các tình huống thực tiễn, thông qua giải quyết các tình huống này, HS vừa chiếm lĩnh kiến thức, đồng thời phát triển NL VDKT vào thực tiễn. Trong dạy học, để giải quyết được các vấn đề thực tiễn liên quan, GV có thể sử dụng đa dạng các PPDH với các cách xây dựng và tổ chức giải quyết vấn đề thực tiễn khác nhau. Trong biện pháp này, trên cơ sở mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển NL VDKT vào thực tiễn, tôi định hướng sử dụng 3 biện pháp như sau: a. Biện pháp 1: Xây dựng các tình huống thực tiễn trong các hoạt động dạy học để tạo động cơ và hứng thú học tập cho HS. Các bước tổ chức các hoạt động như sau: - Bước 1: Tiếp cận với tình huống thực tiễn/tình huống có vấn đề: Giáo viên thông qua một câu chuyện, một đoạn phim, một tình huống thực tiễn, bài tập thực tiễn, dự án học tập giải quyết các vấn đề thực tiễn, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoặc tạo bối cảnh vấn đề để HS nhận diện tình huống. Sau đó, thiết lập các mối quan hệ giữa kiến thức đã học hoặc kiến thức cần tìm hiểu với vấn đề thực tiễn. Tùy thuộc vào điều kiện giảng dạy thực tế, giáo viên làm cho học sinh xuất hiện nhu cầu giải quyết vấn đề thực tiễn. - Bước 2: Khám phá kiến thức liên quan và giải quyết tình huống thực tiễn: Để tìm hiểu các phương án giải quyết tình huống thực tiễn, HS tìm và đọc tài liệu, thảo luận, GV đưa ra hệ thống các câu hỏi gợi mở, các gợi ý (nếu cần) và cung cấp tài liệu, tranh ảnh cho HS hoặc thiết kế các nhiệm vụ cụ thể giao cho HS. - Bước 3: Báo cáo, tranh luận, phản biện và rút ra kết luận: HS báo cáo kết quả khám phá, nghiên cứu bằng các phương tiện phù hợp (dùng tranh ảnh, dùng lời, PowerPoint, ) và thảo luận, rút ra kiến thức mới. GV là người chốt lại nội dung kiến thức cuối cùng. - 7 -
  8. - Bước 4: Vận dụng nâng cao: GV đặt ra một số câu hỏi, bài tập, tình huống với các mức độ phức tạp khác nhau tăng dần từ dễ đến khó. HS giải quyết vấn đề. Các vấn đề được giải quyết sẽ là tiền đề cho việc có thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh mới. - Bước 5: Đánh giá và đề xuất vấn đề mới/vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống: GV thiết kế, giao cho HS các câu hỏi, bài tập, bảng tiêu chí đánh giá/phiếu chấm điểm (rubric). HS tự đánh giá, đánh giá bạn, các nhóm đánh giá lẫn nhau dựa vào tiêu chí. GV đánh giá quá trình học tập, làm việc và kết quả của từng nhóm HS, từng HS cụ thể. HS đề xuất các vấn đề mới, phương án giải quyết các vấn đề khác trong thực tiễn. Để đánh giá NLVDKT vào thực tiễn, có thể tổ chức đánh giá thông qua sản phẩm, phiếu học tập, bài kiểm tra... Quy trình tổ chức dạy học trên được lặp đi lặp lại qua các bài khác nhau với mức độ khó của các tình huống, câu hỏi vận dụng tăng dần sẽ giúp HS phát triển được NLVDKT vào thực tiễn. b. Biện pháp 2: Tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết những vấn đề thực tiễn. Chủ đề tích hợp gắn với thực tiễn trong trường trung học (gọi tắt là chủ đề tích hợp) là chủ đề dạy học được thiết kế dựa trên vấn đề thực tiễn kết hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng của các môn học trong chương trình phổ thông. Trong quá trình dạy học, giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ học tập tại lớp kết hợp với nhiệm vụ học tập tại nhà. Kết quả học tập là hình thành năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho HS. Chủ đề tích hợp cần đảm bảo các tiêu chí: gắn với thực tiễn, kiến thức liên môn, làm việc nhóm, lý thuyết và thực hành, định hướng sản phẩm. Có 3 mức độ tích hợp: + Lồng ghép/Liên hệ: Các môn học vẫn dạy riêng rẽ, các nội dung gắn với thực tiễn được đưa vào nội dung của một môn học. Tuy nhiên, GV có thể tiến hành lồng ghép các kiến thức giữa môn học của mình với các môn học khác một cách phù hợp nhưng vẫn đảm bảo nội dung trọng yếu, tập trung vào 1 môn học chính. + Liên môn: Hoạt động học tập diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng kiến thức nhiều môn học để giải quyết các vấn đề đặt ra. + Hòa trộn: Nội dung kiến thức trong chủ đề không thuộc về 1 môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau. Nội dung tích hợp của chủ đề sẽ không cần - 8 -
  9. dạy ở 1 môn học riêng rẽ mà hòa trộn với nhau trong cùng 1 chủ đề. GV phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau tạo thành 1 chủ đề hoàn chỉnh xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn học c. Biện pháp 3: Khai thác các ứng dụng Tin học giúp HS tự học, phát huy năng lực tự học cho HS Với những kiến thức đã học trong chương trình Tin học 6: Mạng máy tính và Internet, cách tổ chức, lưu trữ và tìm kiếm thông tin, cách tham gia vào không gian mạng an toàn, hiệu quả và đặc biệt là cách vẽ sơ đồ tư duy Các em hoàn toàn có thể ứng dụng để phục vụ học tập và tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng CNTT và Internet. 3. Thực nghiệm sư phạm 3.1. Mô tả cách thức thực hiện 3.1.1. Biện pháp 1: Xây dựng các tình huống thực tiễn trong các hoạt động dạy học để tạo động cơ và hứng thú học tập cho HS. a. Khai thác nội dung thực tiễn để tạo động cơ học tập cho HS (Hoạt động mở đầu và hình thành kiến thức mới) Ví dụ : Dạy bài 5: Internet GV tiến hành như sau: Sau khi học xong bài: Mạng máy tính, GV giao nhiệm vụ về nhà cho HS bằng cách tổ chức hoạt động như sau: Bước 1: Tiếp cận với tình huống thực tiễn/tình huống có vấn đề: Cho HS xem phim hoạt hình trong 2 phút Nội dung xoay quanh việc Trống Choai được bố Trống Cồ mua cho bộ máy vi tính mới và kết nối mạng Internet. Kể từ đó, chuyện lớn nhỏ gì trên đời Trống Choai cũng biết. Từ chuyện gần nhà tới chuyện trên khắp thế giới. Internet đã giúp Trống Choai thực hiện được rất nhiều việc. Tuy nhiên, vì quá mê Internet nên kết quả học tập của Trống Choai bị sa sút và bị bố Trống Cồ dạy cho 1 bài học nhớ đời. - 9 -
  10. Vậy Internet là gì? Nó có đặc điểm gì và lợi ích cũng như tác hại của nó của nó ra sao? Bước 2: Khám phá kiến thức liên quan và giải quyết tình huống thực tiễn. GV giao nhiệm vụ: GV chia lớp thành 3 nhóm và yêu cầu các nhóm HS về nhà nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành các bài tập sau: - Nhóm 1: Tìm hiểu xem Internet là gì? Gia đình An mới mua một bộ máy tính mới, An muốn sử dụng máy tính để học tập, tra cứu và trao đổi tài liệu với các bạn. Hãy giúp An tìm hiểu xem An cần làm những việc gì? - Nhóm 2: Tìm hiểu những lợi ích của Internet? Hãy chia sẻ cùng các bạn cách em sử dụng Internet phục vụ cho việc tự học của mình. Đồng thời giới thiệu một số địa chỉ trang web đáng tin cậy em thường sử dụng để tra cứu thông tin phục vụ việc học. - Nhóm 3: Nêu một số tác hại của Internet? Theo em, bệnh “nghiện Internet” có những biểu hiện như thế nào? Hậu quả của nó ra sao? Hãy quan sát trong lớp, trong trường và tìm thêm thông tin trên Internet, trên báo, trên tivi để biết thêm về tình trạng “nghiện Internet”. Thời gian hoàn thành (1 tuần). Báo cáo kết quả trong tiết học bài: Internet. Để các nhóm có thể giải quyết được nhiệm vụ, GV yêu cầu: - Các nhóm trưởng cần xác định rõ nhiệm vụ của nhóm mình. - Trưởng nhóm phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên - 10 -
  11. - Để thu thập thông tin các em có thể tìm hiểu trên sách SGK, Internet, hoặc có thể liên hệ với nhân viên của nhà cung cấp dịch vụ Internet của địa phương để tìm hiểu... - Thư kí tổng hợp thông tin từ các thành viên, sau đó thảo luận phương án trình bày. Bước 3: Báo cáo, thảo luận và rút ra kết luận: HS báo cáo về kết quả tìm hiểu bằng cách thuyết trình hoặc trình chiếu Powerpoint. GV cho các nhóm trao đổi, thảo luận, và chốt lại kiến thức của bài học. Bước 4: Sau khi mỗi nhóm báo cáo, GV khuyến khích các nhóm khác đặt ra những câu hỏi và tình huống thực tiễn có liên quan đến vấn để mà nhóm đang trình bày nhằm giúp các em có cái nhìn đa chiều và hiểu sâu sắc hơn về vấn đề thực tiễn có liên quan. Qua đó, các em được học hỏi và bổ sung thêm kiến thức. GV có thể gợi ý. Ví dụ: Câu hỏi cho nhóm 1: Thiết bị của gia đình em đã được đăng kí sử dụng Internet. Bỗng nhiên thiết bị không kết nối được mạng mặc dù nó không bị hỏng. Em sẽ xử lí như thế nào? Câu hỏi cho nhóm 2: Cô dạy Ngữ văn yêu cầu Bình về nhà tìm một số bài thơ và hình ảnh để minh họa cho chủ đề quê hương để chuẩn bị cho tiết học tuần sau. Nhưng Bình đã tìm hết ở nhà cũng như trong thư viện của trường cũng không thấy nội dung này. Hãy giúp Bình giải quyết vấn đề trên. Câu hỏi cho nhóm 3: “Em có một người bạn, dạo gần đây, bạn ấy học hành sa sút, thường xuyên không học bài, và không làm bài tập. Bạn ấy dành nhiều thời gian cho việc lên mạng, chơi game, chơi Facebook... Là một người bạn, em sẽ khuyên bạn ấy thế nào?” Bước 5: Đánh giá và đề xuất vấn đề mới/vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống - GV dựa vào bài trình bày và cách giải quyết tình huống của các nhóm làm cơ sở để đánh giá các mức độ VDKT vào thực tiễn của HS. Kết quả: Ngoài tạo hứng thú học tập cho HS còn giúp HS hình thành và phát triển được 5 thành tố của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Song song - 11 -