Tóm tắt Sáng kiến Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 2C - Trường TH Phạm Hùng

docx 28 trang Chăm Nguyễn 06/01/2026 90
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Sáng kiến Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 2C - Trường TH Phạm Hùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxtom_tat_sang_kien_mot_so_bien_phap_giai_toan_co_loi_van_cho.docx

Nội dung tài liệu: Tóm tắt Sáng kiến Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh Lớp 2C - Trường TH Phạm Hùng

  1. trong giảng dạy. Bên cạnh đó còn rèn cho các em phát triển tư duy sáng tạo, phát huy tính tích cực, nắm tốt các dạng toán có lời văn và nhận xét, đánh giá kết quả học tập của nhau. 7. Đề xuất, kiến nghị: Không có Tôi cam đoan những lời khai trên đây là đúng sự thật, không vi phạm pháp luật. Ý kiến xác nhận Hòa Thành, ngày 09 tháng 03 năm 2023 của thủ trưởng đơn vị Tác giả Nguyễn Thị Tố Nga 3
  2. I. MỞ ĐẦU 1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2C - Trường Tiểu học Phạm Hùng”. 2. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến 2.1. Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến - Ở Tiểu học, môn Toán là môn học có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Đặc biệt ở lớp 2, môn Toán giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi năm nay là năm thứ hai các em học tập theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Mục tiêu của giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. - Học sinh Tiểu học là thế hệ mầm non của đất nước cần phải được quan tâm, chăm sóc và giáo dục cả về thể chất cũng như trí tuệ. Để các em có thể trở thành những người chủ tương lai của đất nước. Nhằm đáp ứng nhu cầu kịp thời đặt ra như trên thì việc nâng cao chất lượng dạy và học là yêu cầu đặt ra cho ngành giáo dục, đặc biệt là những giáo viên chúng ta trực tiếp giáo dục các em. Chúng ta phải làm thế nào để cho các em phát triển một cách toàn diện, nắm vững kiến thức và biết vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống một cách tự tin, linh hoạt, năng động và sáng tạo. - Ở bậc Tiểu học, học sinh học rất nhiều môn học trong đó có môn Toán. Môn Toán lớp Hai giúp học sinh có một số kiến thức cơ bản thiết thực, hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành, biết phát hiện tìm tòi và tự chiếm lĩnh kiến thức mới, chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập. Ở lớp 2 học sinh đã học nhiều dạng toán có lời văn. Giải toán rất quan trọng, nó xuyên suốt trong chương trình học toán, là nền tảng để học sinh học tiếp các lớp trên. - Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy, đây là dạng toán học sinh còn lúng túng khi xác định đề toán cũng như tìm cách giải, lời giải đối với các bài toán có 4
  3. lời văn. Chính vì vậy, tôi chọn sáng kiến “Một số biện pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2C - Trường Tiểu học Phạm Hùng” để nghiên cứu và thực hiện trong năm học 2022-2023. 2.2. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến Sáng kiến nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp giúp học sinh lớp 2C giải toán có lời văn được thuận lợi, nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán của nhà trường trong năm học 2022 - 2023 và những năm tiếp theo. 3. Đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu là học sinh khối lớp 2 trường Tiểu học Phạm Hùng, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. - Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 2C. 4. Phạm vi nghiên cứu - Học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức về môn Toán ở lớp 2C trường Tiểu học Phạm Hùng, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh trong năm học: 2022-2023. 5. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu việc tìm giải pháp giúp học sinh lớp 2C Trường Tiểu học Phạm Hùng học tốt phần giải toán có lời văn, bản thân tôi đã sử dụng các phương pháp sau: 5.1. Phương pháp đọc tài liệu Chủ yếu khi thực hiện sáng kiến này tôi nghiên cứu qua tài liệu: sách giáo khoa Toán Hai, sách giáo viên Toán Hai, tài liệu có liên quan đến sáng kiến để tìm biện pháp nâng cao chất luợng dạy học sinh giải toán có lời văn. 5.2. Phương pháp trò chuyện Bản thân tôi đã trực tiếp trò chuyện với một số học sinh, giáo viên chủ nhiệm đang trực tiếp giảng dạy lớp 2 nhằm bổ sung thông tin để nắm chắc thực trạng về việc dạy và học phần giải toán có lời văn trong thời gian qua từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán. 5.3. Phương pháp điều tra Giáo viên đặt vấn đề để nắm được mức độ học của từng học sinh. 5
  4. Tôi đã tiến hành dự giờ, điều tra học sinh, giáo viên chủ nhiệm đang trực tiếp giảng dạy lớp 2 của Trường Tiểu học Phạm Hùng nhằm có được kết quả đối chiếu về sự tiến bộ của học sinh trong việc học giải toán có lời văn. 5.4. Phương pháp thống kê Phương pháp này được thực hiện để thu thập thông tin về việc dạy và học của giáo viên và học sinh phần giải toán có lời văn, nhằm mang lại hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. 5.5. Phương pháp nghiên cứu thực tế sản phẩm - Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung các bài dạy. - Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học. * Ngoài ra, bản thân tôi còn áp dụng một số biện pháp để áp dụng vào thực tế tiết dạy môn Toán như sau: - Phương pháp hỏi đáp. - Phương pháp trực quan. - Phương pháp thảo luận nhóm. - Phương pháp gợi mở. - Phương pháp đặt vấn đề. II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận 1.1. Các văn bản chỉ đạo có liên quan đến sáng kiến Hiện nay, có rất nhiều các văn bản chỉ đạo của trung ương, của ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong thời kỳ mới. Tôi đã tìm hiểu một số văn bản có liên quan đến sáng kiến cụ thể như sau: - Thông tư số 32/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình Giáo dục phổ thông 2018. - Thông tư số 28/2020/TT-BGD ĐT ngày 04/9/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Điều lệ trường tiểu học. - Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học. 6
  5. - Công văn số 2345/BGDĐT - GDTH ngày 07 tháng 06 năm 2021 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường cấp tiểu học. - Công văn số 3079/SGDĐT-GDTH ngày 14/09/2022 của Sở giáo dục và đào tạo Tây Ninh về việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục Tiểu học năm học 2022- 2023. - Căn cứ quyết định số 1709/QĐ – UBND ngày 12/08/2022 của Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Tây Ninh ban hành khung kế hoạch thời gian năm học 2022 - 2023 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên thuộc ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh. - Căn cứ vào HD 342/HD – PGDĐT ngày 08/09/2022 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2022 - 2023 cấp Tiểu học của Phòng GD-ĐT thị xã Hoà Thành. 1.2. Các quan niệm khác về giáo dục - Mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. (Điều 2-Luật Giáo dục 2019). - Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. - Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn. - Coi giáo dục là quốc sách hàng đầu; giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân; phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học, công nghệ, thực hiện công bằng trong giáo dục và đào tạo; Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự 7
  6. nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. - Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh an toàn. - Giáo dục trong thời kỳ hội nhập quốc tế phải bảo đảm phát triển bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng, phát huy tối đa nội lực, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền giáo dục tiên tiến. Mở rộng hợp tác đa phương gắn với việc tăng cường công tác quản lý nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân về giáo dục và đào tạo. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu - Nội dung dạy học mạch “giải toán” được cấu trúc hợp lý, sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác, phù hợp với từng giai đoạn của học sinh. Giải toán chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Nội dung các bài giải toán có văn thường nêu bật ý nghĩa phép tính: Tìm một số hạng, tìm số bị trừ, tìm số trừ, tìm số bị chia, tìm số chia. Mặc dù các bài toán không phức tạp là những bài toán cơ bản có một lời giải và một phép tính. - Tôi nhận thấy đa số học sinh nhất là học sinh chậm kĩ năng không thích thú trong giờ học toán có nhiều nguyên nhân trong đó, một số em kĩ năng đọc trơn chưa tốt nên chưa biết đặt lời giải bài toán, các em chưa cẩn thận trong tính toán nên kết quả tính chưa chính xác. Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Nhiều học sinh đọc đề chưa trôi chảy. Nhiều học sinh không biết phân tích đề, không biết yêu cầu của đề là gì. Một số học sinh chưa hiểu được cách ghi lời giải, ghi sai đơn vị. Do hoàn cảnh phụ huynh còn phải đi làm ăn xa, các em sống cùng với ông bà nên thiếu sự quan tâm, nhắc nhở các em học bài. - Qua thực tế điều tra, khảo sát tôi nhận thấy, phần đông học sinh ở đây thường chậm trong thao tác và trong lời nói, thiếu tự tin, không mạnh dạn. Tính 8
  7. sợ sai, ngại khó của các em còn cao, nhất là học sinh chậm kĩ năng chỉ thích nghe giảng rồi làm theo, chưa tìm tòi học hỏi nhiều. - Một số học sinh khi nói đến giải toán còn lo sợ, không tự tin khi làm bài hoặc một số em làm được phép tính nhưng đặt lời giải chưa chính xác, chưa hay. Thường học sinh giải đề toán theo kiểu học thuộc lòng, máy móc, rập khuôn, chưa khoa học. 2.2. Về đơn vị công tác - Trường Tiểu học Phạm Hùng là một đơn vị nằm ở ấp Long Hải thuộc xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành , tỉnh Tây Ninh. Nhà trường nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của địa phương, sự đóng góp nhiệt tình của Ban đại diện Cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Đơn vị có tập thể giáo viên đoàn kết nhất trí, có tinh thần trách nhiệm cao. Các tổ chức đoàn thể trong nhà trường hoạt động đồng đều và có sự đoàn kết thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo. Có chi bộ nhà trường lãnh đạo toàn diện, quan tâm chỉ đạo chặt chẽ mọi phong trào hoạt động của nhà trường. Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học được được các cấp quan tâm và bổ sung hàng năm tạo điều kiện cho việc dạy và học. - Những năm gần đây thái độ nhận thức về giáo dục của phụ huynh học sinh đã tăng lên thông qua các hoạt động “Xã hội hoá Giáo dục”. Chất lượng học sinh đã có nhiều tiến bộ so với những năm học trước. Năm học 2022 - 2023, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh nói chung và Trường Tiểu học Phạm Hùng nói riêng nhằm tiếp tục thực Nghị quyết số 29 - NQ/TW “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế”; toàn ngành chú trọng đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, thực hiện những giải pháp đột phá và lâu dài nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. - Đầu năm học 2022-2023, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 2C. Lớp tôi được quản lý như sau: + Tổng số học sinh: 33 em 9
  8. + Học sinh nữ: 16 em Bản thân tôi làm tốt công tác chủ nhiệm thì ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành thống kê, tìm hiểu một số thuận lợi và khó khăn của học sinh ở lớp để từ đó có những phương hướng, việc làm cụ thể để giáo dục học sinh tốt hơn. * Thuận lợi: - Được sự chỉ đạo, quan tâm, giúp đỡ của các ban, ngành, các tổ chức, đoàn thể trong và ngoài nhà trường. Bản thân tôi được nhà trường phân công tập huấn thay sách lớp 2, phương pháp giáo dục và chuẩn kiến thức kỹ năng phù hợp với chương trình đổi mới giáo dục phổ thông 2018. - Đa số các em tham gia lớp học đầy đủ, các em rất ngoan, biết vâng lời thầy cô giáo, tỉ lệ đi học chuyên cần tương đối cao. Chất lượng học tập của lớp tương đối đồng đều. - Hầu hết học sinh trong lớp cũng rất mạnh dạn, tích cực phát biểu. - Tỉ lệ phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình cao, thường xuyên liên lạc trao đổi tình hình học tập của các em với giáo viên chủ nhiệm qua hình thức: zalo, điện thoại, trực tiếp... * Khó khăn: - Một số học sinh trong lớp do các em đọc, viết còn chậm dẫn đến các em đọc chưa kỹ yêu cầu của đề bài nên tính toán và giải toán còn hạn chế, các thao tác còn chậm, còn rụt rè, nhút nhát . nên việc tham gia vào giờ học chưa cao. - Đôi lúc giáo viên chưa chú trọng xây dựng các bài tập dành cho từng đối tượng. - Phụ huynh học sinh không có thời gian kèm cặp cho học sinh nên việc việc giải toán, các dạng toán của bài toán có văn còn hạn chế. * Giai đoạn giữa tháng 9 trong giảng dạy, tôi đã thống kê và đánh giá được mức độ nhận biết về học sinh của lớp 2C như sau: Nội dung khảo sát Số lượng học sinh Đạt SL Tỉ lệ % Chưa biết đặt lời giải 10/33 33,3 % 10
  9. Thực hiện đúng phép tính và đáp số 33 15/33 45,5 % Thực hiện tốt các dạng toán 7/33 21,2% Bảng 1: Thống kê và đánh giá được mức độ nhận biết về học sinh của lớp 2C - Như vậy tỉ lệ học sinh nhận dạng các dạng toán còn thấp dẫn đến kết quả học tập chưa cao. - Một trong những lí do dễ thấy là vì các em chưa được sự quan tâm của gia đình. Các em chưa chăm chỉ học tập. Vì vậy là giáo viên chủ nhiệm phải biết được đặc điểm tình hình của từng đối tượng phát huy những mặt tích cực của học sinh. Tổ chức tiết dạy sao cho các em luôn luôn cảm thấy nhẹ nhàng và thích thú. Giáo viên phải gần gũi, yêu thương động viên kịp thời để học sinh vui và thích học. * Bản thân tôi đã nhận thức rõ điều này và thấy được những khó khăn cơ bản nên tôi đã thực hiện một số biện pháp giải toán có lời văn để giúp các em ngày càng tiến bộ hơn trong quá trình học tập.. 2.3. Sự cần thiết của sáng kiến. Từ những thực tế trên, tôi nhận thấy khả năng phân tích của các em chưa cao, còn lúng túng trong phương pháp giải toán, vì không xác định được đề toán và không nắm được cách giải, vì thế mà chưa phát huy tính chủ động, sáng tạo ở học sinh, các em còn rụt rè, nhút nhát. Do đó, tôi nghiên cứu và tìm giải pháp giúp học sinh học tập phương pháp giải toán nhằm rèn luyện cho các em có kiến thức và khả năng giải được các bài toán có lời văn. Từ đó từng bước nâng cao chất lượng giáo dục môn toán ở lớp 2C nói riêng và của trường nói chung, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội. 3. Nội dung vấn đề 3.1. Vấn đề đặt ra Từ việc khảo sát qua thực tế đầu năm tôi đưa ra một số vấn đề để nghiên cứu và giải quyết như sau: - Sự chuẩn bị, đầu tư của giáo viên. - Sự chuẩn bị và tinh thần học tập của học sinh. 11
  10. - Các bước giải toán có lời văn. - Sự phối kết hợp giữa giáo viên và cha mẹ học sinh. 3.2. Các giải pháp chứng minh vấn đề được giải quyết 3.2.1. Về sự chuẩn bị, đầu tư của giáo viên - Giáo viên thể hiện được vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, phải là người tổ chức và hướng dẫn nhằm giúp các em tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức. - Trong quá trình giảng dạy, giáo viên thật sự quan tâm đến từng đối tượng học sinh, theo dõi thường xuyên, cụ thể kết quả học tập (trên lớp, làm bài tập ) để từ đó phân loại từng đối tượng học sinh và đưa ra những nội dung, kiến thức phù hợp cho các em. - Giáo viên linh hoạt trong việc tổ chức nhiều hình thức học tập như: đôi bạn cùng tiến, học nhóm, phụ đạo theo nhóm, có phương pháp lấp lỗ hổng kiến thức và rèn kỹ năng cho từng em. - Trong khi soạn bài giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung bài, tìm ra những biện pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng loại toán và từng đối tượng học sinh trong lớp để cho tiết dạy trở nên nhẹ nhàng hơn, tự nhiên và hiệu quả hơn. - Giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, học hỏi đồng nghiệp qua dự giờ cũng như nghiên cứu sách báo, để nâng cao tay nghề, những phương pháp dạy học phù hợp với từng dạng bài, từng đối tượng học sinh trong lớp, phải thật sự xem dạy tốt, dự giờ là để học hỏi chứ không phải chỉ là mang tính chất đối phó. - Dựa vào đặc thù tâm lý học sinh mau chán và tùy theo yêu cầu nội dung từng bài, giáo viên luôn thay đổi không khí tiết học bằng những phương pháp, hình thức tổ chức khác nhau cho tiết học sôi nổi, tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh như: làm việc độc lập từng cá nhân trên bảng con, chơi tiếp sức giữa các tổ trên bảng lớn của lớp, thi đua làm nhanh giữa các nhóm ở bảng học nhóm, cho học sinh độc lập suy nghĩ làm bài vào vở có sự trợ giúp của giáo viên đối với những học sinh còn hạn chế. - Giáo viên thường xuyên xem và nhận xét bài làm của học sinh nhằm nhận ra sự tiến bộ của học sinh, biểu dương những học sinh đã làm tốt, khích lệ, động viên học sinh còn thụ động, rụt rè, chưa mạnh dạn tham gia vào giờ học. 12
  11. - Giáo viên cần giúp học sinh nắm được cách giải bài toán có lời văn theo 4 bước: + Bước 1: Tìm hiểu bài toán:  Thông qua việc đọc bài toán, học sinh phải đọc kĩ để hiểu rõ bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán phải hiểu thật rõ một số từ, thuật ngữ quan trọng chỉ rõ tình huống toán học được diễn đạt theo ngôn ngữ thông thường sau đó học sinh nêu lại ngắn gọn bài toán mà không cần đọc lại nguyên văn.  Là bước các em tập nói tóm tắt bài toán + Bước 2: Tìm cách giải bài toán Là bước các em chọn phép tính và ghi lại kết quả đúng đã tìm hiểu được. + Bước 3: Giải bài toán. Là bước các em viết được lời giải, viết được phép tính, viết được đơn vị của phép tính và nắm được cách trình bày một bài giải toán có văn + Bước 4: Kiểm tra lại Là bước các em kiểm tra lại kết quả đã làm được với yêu cầu của bài toán đặt ra. 3.2.2 Về sự chuẩn bị và tinh thần học tập của học sinh - Các em vừa bước qua giai đoạn lớp 1, chủ yếu học chữ, việc giải toán có lời văn ở lớp 1 chưa được thực hiện nên sang lớp 2, dạng toán này tương đối mới với các em. Do đó việc chuẩn bị tinh thần học tập của học sinh hết sức cần thiết, nên hình thức tổ chức trò chơi dễ được học sinh hưởng ứng và tích cực tham gia vì thế tôi thường dành ra 5 đến 10 phút đầu tiết học qua hoạt động Khởi động hoặc sau tiết học qua hoạt động Vận dụng để tổ chức trò chơi. Cơ sở tâm, sinh lí khẳng định hoạt động dạy học toán dưới dạng trò chơi rất phù hợp với lứa tuổi Tiểu học. Ngoài việc đưa vào khởi động để thu hút học sinh tham gia vào học tập thì việc đưa vào cuối tiết học nhằm củng cố kiến thức và luyện tập kĩ năng cho học sinh cũng rất cần thiết. Khi được tham gia trò chơi, các em sẽ hứng thú và tích cực trong học tập, giờ học sẽ trở nên sinh động và đạt kết quả cao. Trò chơi còn giúp các em rèn luyện kĩ năng tính toán chính xác, tư duy linh hoạt và tác phong nhanh nhẹn. - Một số trò chơi trong học tập mà tôi đã áp dụng như sau: 13