Tóm tắt Sáng kiến Giải pháp rèn đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 4B và 4D trường Tiểu học Phạm Hùng

doc 22 trang Chăm Nguyễn 31/12/2025 140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Sáng kiến Giải pháp rèn đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 4B và 4D trường Tiểu học Phạm Hùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctom_tat_sang_kien_giai_phap_ren_doc_dung_va_buoc_dau_luyen_d.doc

Nội dung tài liệu: Tóm tắt Sáng kiến Giải pháp rèn đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh Lớp 4B và 4D trường Tiểu học Phạm Hùng

  1. 6. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến: Sáng kiến mang lại hiệu quả rõ rệt so với thời gian trước khi áp dụng, rèn được kỹ năng đọc đúng và bước đầu đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B và lớp 4D trường Tiểu học Phạm Hùng. Học sinh tự tin học hơn, tích cực hơn trong giờ học tập đọc và các giờ học khác. Do đó, chất lượng môn Tập đọc cũng được nâng cao. Vì vậy, sáng kiến này có thể áp dụng cho cả khối 4 của trường Tiểu học Phạm Hùng, tạo chuyển biến về nhận thức, hành động và nâng cao chất lượng đọc đúng, đọc diễn cảm của học sinh tiểu học. 7. Kiến nghị đề xuất: * Đối với học sinh: Các em cần quan tâm xác định được tầm quan trọng của môn học, tự giác, tích cực trong học tập. Các em phải luôn luôn có ý thức thường xuyên luyện đọc. Các em cần được động viên khích lệ kịp thời, đúng lúc của mọi người để giúp các em có nhiều cố gắng vươn lên trong học tập, đó chính là gia đình - nhà trường - xã hội. * Đối với giáo viên: - Không ngừng học hỏi tìm tòi tích lũy kinh nghiệm từ đồng nghiệp, từ thông tin sách vở và thường xuyên phối kết hợp với phụ huynh trong việc nhắc nhở các em chuẩn bị bài tốt trước khi đến lớp. - Đặc biệt phải tâm huyết với nghề, luôn đặt học sinh là trung tâm, có trách nhiệm với việc giảng dạy của mình. Động viên, gần gũi giúp đỡ học sinh kịp thời. Chúng tôi cam đoan những điều khai trên đây là đúng sự thật không vi phạm pháp luật. Ý kiến xác nhận Ngày 28 tháng 02 năm 2023 thủ trưởng đơn vị Nhóm tác giả 1. Bùi Thị Tuyết Như: 2. Võ Tấn Lực: Trang 3
  2. I. MỞ ĐẦU 1. Tên sáng kiến: Giải pháp pháp rèn đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B và 4D trường Tiểu học Phạm Hùng. 2. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến: Phân môn Tập đọc có vị trí đặc biệt trong chương trình Tiểu học. Nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển cho học sinh 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Tuy nhiên đọc là một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh Tiểu học đồng thời làm cơ sở, nền móng cho mọi sự phát triển. Đọc trở thành nhiệm vụ cấp thiết của mỗi người đi học. Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây họ biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống, nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội. Trong thực tế hiện nay, ở trường Tiểu học việc dạy đọc, bên cạnh những thành công, còn nhiều hạn chế. Học sinh của chúng ta chưa đọc được như mong muốn, kết quả đọc của các em chưa đáp ứng được yêu cầu của việc hình thành kĩ năng đọc. Các giờ Tập đọc, một số em còn phát âm sai và hầu như học sinh chỉ mới biết đọc đúng, đọc trơn, số lượng học sinh biết đọc diễn cảm rất ít. Bên cạnh đó, việc hướng dẫn rèn đọc diễn cảm cho học sinh ở Tiểu học cũng ít được giáo viên quan tâm đúng mức. Vậy để giúp học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm, hiểu và cảm thụ được bài văn, bài thơ thì đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, để mỗi học sinh đều được tích cực tham gia học tập. Do đó, với mong muốn làm thế nào để chất lượng đọc đúng, đọc diễn cảm của học sinh lớp 4B và lớp 4D ngày càng nâng cao, chúng tôi đã tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và bổ sung thêm vào sáng kiến của năm học trước“Giải pháp rèn đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B và 4D trường Tiểu học Phạm Hùng thị xã Hòa Thành tỉnh Tây Ninh”, để nghiên cứu. 3. Đối tượng nghiên cứu: - Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 4B, 4D trường Tiểu học Phạm Hùng xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. - Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 4B, 4D đọc chưa đúng, còn sai chữ, chưa đúng tốc độ đọc quy định, chưa diễn cảm. Trang 4
  3. 4. Phạm vi nghiên cứu: * Học sinh đọc chưa đạt yêu cầu (đọc còn sai một số từ, đọc chưa lưu loát, tốc độ đọc còn chậm dẫn tới chưa trả lời được câu hỏi) ở lớp 4B, 4D trường Tiểu học Phạm Hùng, xã Trường Tây, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Sáng kiến được nghiên cứu và vận dụng ở lớp 4B và 4D trường Tiểu học Phạm Hùng thị xã Hòa Thành tỉnh Tây Ninh. Các giai đoạn nghiên cứu cụ thể như sau: - Giai đoạn 1: (Từ 05 tháng 09 năm 2022 đến giữa học kì I) Chọn và đặt tên sáng kiến; tìm và đọc tài liệu có liên quan; lập đề cương bổ sung cho sáng kiến. - Giai đoạn 2: (Từ giữa học kì I đến hết học kì I) Vận dụng một số giải pháp nâng cao hiệu quả đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B và lớp 4D Trường Tiểu học Phạm Hùng - thị xã Hòa Thành - tỉnh Tây Ninh. - Giai đoạn 3: (Từ cuối học kì I đến 09/03/2023) Tổng hợp các giải pháp; điều chỉnh bổ sung các giải pháp; đúc rút kinh nghiệm. Hoàn chỉnh sáng kiến. 5. Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu được sáng kiến, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: 5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: - Đây là phương pháp khá quan trọng và cần thiết giúp cho người nghiên cứu có cơ sở lý luận chung để phân tích các tài liệu, các dự kiện liên quan đến sáng kiến. Đọc các tài liệu liên quan đến đọc diễn cảm của học sinh tiểu học. Đây là phương pháp không thể thiếu khi nghiên cứu đề tài. Đọc và thu thập thông tin cần thiết qua các tài liệu như: 1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 - NXB Giáo dục (Chủ biên: Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết). Xuất bản năm 2011 2. Sách giáo viên Tiếng Việt 4 - NXB Giáo dục (Chủ biên: Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Minh Thuyết). Xuất bản năm 2011 3. Hướng dẫn giảng dạy theo phương pháp dạy học tích cực môn Tiếng Việt lớp 4 tập 1 - Nhà xuất bản Đại học sư phạm (Chủ biên: Phó giáo sư tiến sĩ Đỗ Xuân Thảo). Xuất bản năm 2013 4. Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 4 - Nhà xuất bản Hà Nội (Chủ biên: Thạc sĩ Nguyễn Huyền Trang). Xuất bản năm 2020 5.2. Phương pháp quan sát điều tra thực tiễn. - Là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố khác có liên quan. - Thông qua phương pháp này, giúp chúng tôi tìm hiểu được nhu cầu học tập, mức độ đọc diễn cảm của học sinh, những thuận lợi và khó khăn thường gặp Trang 5
  4. của học sinh. Giúp chúng tôi biết được kiến thức và kĩ năng đọc diễn cảm của các em. Từ đó có những biện pháp thiết thực hơn trong việc nâng cao hiệu quả đọc diễn cảm cho học sinh cũng như nâng cao dần chất lượng của môn Tiếng Việt. 5.3. Phương pháp so sánh đối chiếu số liệu: - Qua việc kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì giúp chúng tôi có số liệu so sánh đối chiếu, nhằm rút kinh nghiệm trong việc giảng dạy. 5.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: - Qua phương pháp này giúp chúng tôi có những hiểu biết cơ bản về bản chất, nguyên nhân và cách giải quyết trong quá trình nghiên cứu, tổng kết sẽ rút ra được ưu nhược điểm để có những kinh nghiệm hỗ trợ cho việc giảng dạy. Trang 6
  5. B. NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận: 1.1. Các văn bản chỉ đạo của ngành: - Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ GD&ĐT về ban hành chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học trong đó có chuẩn kiến thức kỹ năng. - Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT về sữa đổi, bổ sung một số diều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo. - Công văn số 2345/BGDĐT-GDTH ngày 07/6/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường cấp tiểu học. - Công văn 2507/SGDĐT-GDTH ngày 22/7/2021 của Sở GDĐT về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học. 1.2. Các quan niệm khác về giáo dục: Học sinh Tiểu học trong sáng, thơ ngây, hiếu động, tò mò, thích hoạt động, khám phá thường độc lập, tự lực làm việc theo hứng thú của mình. Thầy cô là hình tượng mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng nhất, mọi điều trẻ đều nhất nhất nghe theo, sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu học phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy cô trong nhà trường Tiểu học. Dạy Tập đọc cho học sinh Tiểu học bước đầu đem đến sự vận động khoa học cho não bộ và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ, đem đến những tinh hoa văn hoá, văn học nghệ thuật trong tâm hồn trẻ, rèn kĩ năng đọc, hiểu, cảm thụ văn học, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành động đúng cho trẻ, phát triển khả năng học tập các môn khác, là điều kiện phát triển toàn diện cho học sinh Tiểu học. Dạy Tập đọc đặc biệt là dạy đọc diễn cảm cho học sinh Tiểu học đòi hỏi người thầy phải có phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh, để đáp ứng nhu cầu ham hiểu biết của học sinh Tiểu học và tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách cho trẻ. Dạy Tập đọc cho học sinh Tiểu học là dạy cho học sinh biết đọc đúng tiếng, từ, câu, chữ, hiểu nội dung rồi đọc đúng ngữ điệu, nhịp điệu, diễn cảm, cảm nhận được ý nghĩa tình cảm, có cảm xúc, biết tư duy, tưởng tượng, hình thành ý thức tốt đẹp trong tâm hồn và có hành động đẹp, nghĩa là học sinh biết chuẩn ngôn ngữ và hiểu biết cảm thụ văn học. Đây là một nghệ thuật, nghệ thuật trong lao động dạy học sáng tạo của người thầy Tiểu học. Dạy Tập đọc sẽ càng tinh tế, càng sáng tạo, Trang 7
  6. càng hiệu quả khi ta nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của ngôn ngữ văn học. Tập đọc là một phân môn thực hành. Nhiệm vụ quan trọng của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đó thể hiện ở 4 yêu cầu: đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức (đọc hiểu) và đọc hay (đọc diễn cảm). Cần phải hiểu kĩ năng đọc có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau. Đầu tiên là giải mã chữ - âm một cách sơ bộ, tiếp theo đọc là phải hiểu được nghĩa của từ, tìm được các từ, câu “chìa khoá” (chốt, trọng yếu) trong bài, biết tóm tắt nội dung của đoạn. Như vậy, biết đọc đồng nghĩa với kĩ năng làm việc với văn bản, chiếm lĩnh được văn bản ở các tầng bậc khác nhau. 2. Cơ sở thực tiễn: - Do học kì I năm học 2021-2022 các em học sinh phải học trực tuyến vì tình hình dịch bệnh Covid- 19. Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu khảo sát chất lượng phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4B và lớp 4D, chúng tôi nhận thấy: một số học sinh còn phát âm sai và các em mới chỉ ở mức độ đọc đúng, đọc trơn. Có em chẳng cần quan tâm mình có đọc diễn cảm bài thơ, bài văn đó hay không, mà chỉ đọc to, đọc nhanh là được. Nên ngay từ đầu năm học, trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đã thống kê chất lượng đọc của học sinh lớp 4B và 4D như sau: Tổng Số em đọc chưa Số em đọc đạt Số em đọc Số em đọc Lớp số đạt yêu cầu trung bình đúng, rõ ràng diễn cảm tốt HS SL % SL % SL % SL % 4B 38 4 10,5 13 34,2 16 42,1 5 13,2 4D 34 4 11,8 12 35,3 14 41,2 4 11,7 CỘNG 72 8 11,1 25 34,7 30 41,7 9 12,5 (Học sinh đầu năm đọc chưa đạt yêu cầu là những em đọc còn chậm và đọc sai một số từ dẫn tới chưa trả lời đúng câu hỏi). 2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu: Qua tìm hiểu chúng tôi rút ra được một số nguyên nhân như sau: * Về học sinh: - Do cách phát âm theo phương ngữ, cụ thể các em thường mắc lỗi sau: + Các lỗi phụ âm đầu: tr/ch. Ví dụ: tre xanh/ che xanh; gà trống/ gà chống; mây trắng/ mây chắng; trên/ chênh; kiến trúc/ kiến chúc; trầm trọng/ chầm chọng + Các lỗi về thanh: Các em đọc còn nhầm lẫn giữa thanh ngã và thanh hỏi. Ví dụ: lặng lẽ/ lặng lẻ; cũng/ củng; suy nghĩ/ suy nghỉ; Trang 8
  7. + Do các em chưa nắm vững cách ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điệu, chưa biết nhấn giọng, lên giọng hạ giọng những từ cần thiết. + Do các em ít đọc sách không chịu khó rèn đọc. * Về giáo viên: - Giáo viên chuẩn bị bài còn phụ thuộc vào nội dung câu hỏi sách giáo khoa, gợi ý của sách giáo viên. Chính vì vậy bài giảng còn mang tính áp đặt, đơn điệu, chưa phù hợp với đối tượng học sinh, làm cho học sinh thụ động. - Do giáo viên chưa chuẩn bị kĩ phần đọc diễn cảm của mình nên khi đọc mẫu chưa đọc truyền cảm, diễn cảm. Do đó chưa thu hút sự chú ý của học sinh. - Quá trình hướng dẫn học sinh luyện đọc và cảm thụ bài chưa quán xuyến đến tất cả các đối tượng mà chỉ tập trung chú ý đến học sinh được giao nhiệm vụ luyện đọc cá nhân hoặc đọc để tìm hiểu bài. - Việc chọn từ giải nghĩa từ, giáo viên còn lúng túng, chưa phân biệt từ khó cần cung cấp cho nội dung bài, chỉ biết đến các từ ở chú giải trong sách giáo khoa. * Về phụ huynh học sinh: - Trường Tiểu học Phạm Hùng là một trường thuộc xã bán nông thôn, đa số hoàn cảnh của gia đình học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Cha mẹ của các em còn lo toan cuộc sống hằng ngày ít có thời gian quan tâm đến việc học của học sinh. Việc học của học sinh khoán trắng cho nhà trường, cho giáo viên. 2.2. Sự cần thiết của sáng kiến: Qua việc điều tra trên cho thấy tỉ lệ học sinh đọc chưa đạt yêu cầu và học sinh đọc trung bình chiếm gần 50%. Tỉ lệ học sinh đọc diễn cảm còn thấp. Từ lí do trên chúng tôi quyết định tiếp tục nghiên cứu sáng kiến “Giải pháp rèn đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh lớp 4B và lớp 4D trường Tiểu học Phạm Hùng”. Trang 9
  8. 3. Nội dung vấn đề: 3.1. Vấn đề đặt ra cần tìm giải pháp nghiên cứu: - Phân môn Tập đọc có một nhiệm vụ rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học. Do đó, vấn đề dạy học phân môn Tập đọc hiện nay rất được chú trọng. Có nhiều chuyên đề, phương pháp đặt ra nhằm đưa chất lượng đọc của các em nâng lên. Việc rèn học sinh đọc tốt trong tiết dạy rất cần đến công tác chuẩn bị của giáo viên. - Giáo viên đọc bài tập đọc nhiều lần, từ việc đọc nhiều đến đọc diễn cảm và cảm thụ bài đọc. Dựa vào chuẩn kiến thức, đối tượng học sinh của lớp để xác định mục tiêu và đề ra những phương án tiến hành. - Chọn phương án, dự kiến các tình huống xảy ra trên lớp. Từ khó, học sinh đọc dễ sai; từ mới, học sinh chưa hiểu; cách ngắt, nghỉ của một số câu thơ, bài văn hay một văn bản thông tin. - Giáo viên cần phân loại học sinh theo từng đối tượng, từ đó đưa ra các giải pháp cho từng đối tượng. 3.2. Các giải pháp rèn kĩ năng đọc đúng và bước đầu luyện đọc diễn cảm cho học sinh lớp lớp 4B và lớp 4D trường Tiểu học Phạm Hùng: 3.2.1. Hướng dẫn học sinh luyện đọc đúng một cách linh hoạt, khéo léo. Chúng ta đã biết đọc diễn cảm chỉ thực hiện được trên cơ sở học sinh đã đọc đúng và đọc lưu loát. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót tiếng. Đọc đúng phải thể hiện được hệ thống ngôn ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Bởi vậy, việc rèn cho học sinh luyện đọc đúng là khâu đầu tiên của việc rèn đọc diễn cảm và đã thực hiện ở các lớp 1, 2, 3. Đối với học sinh lớp 4 thì việc luyện đọc đúng được rèn luyện như sau: 3.2.1.1. Luyện đọc đúng: - Trước khi tiến hành luyện đọc, chia văn bản thành các đoạn đọc (đơn vị chia tạm thời, không phải bao giờ cũng đồng nhất với cách chia đoạn theo bố cục của văn bản) mà giáo viên căn cứ vào trình độ đọc của học sinh trong lớp để chia văn bản thành các đoạn, sao cho các đoạn không quá dài hoặc quá chênh lệch nhau về chữ số, cách ngắt đoạn không quá chi li, gây khó khăn cho học sinh đọc theo dõi và đọc nối tiếp. - Dựa vào số đoạn đã chia, giáo viên tổ chức cho học sinh đọc nối tiếp linh hoạt: Đọc nối tiếp theo dãy ngang, đọc nối tiếp theo dãy dọc, hay chỉ định bất kì học sinh đọc nối tiếp đoạn bạn vừa đọc. - Để củng cố kĩ năng đọc trơn đã được rèn ở các lớp dưới, giáo viên nên hướng dẫn học sinh đọc nối tiếp qua 3 lượt và luyện đọc theo nhóm đôi sau khi đọc xong lượt 3: Trang 10
  9. + Lượt 1: Qua những học sinh đọc nối tiếp, giáo viên nghe và phát hiện những hạn chế về cách phát âm, ngắt nghỉ, ngữ điệu câu, từ đó có biện pháp hướng dẫn đối với cá nhân hoặc nhắc nhở chung đối với cả lớp để học sinh đạt yêu cầu đọc đúng và đọc rành mạch. Ví dụ: Bài "Tre Việt Nam" Tiếng Việt 4 – Tập 1 trang 41 có thể chia làm 4 đoạn: Đoạn 1: Từ đầu đến nên lũy nên thành tre ơi? Đoạn 2: Tiếp theo đến hát ru lá cành. Đoạn 3: Tiếp theo đến truyền đời cho măng. Đoạn 4: Phần còn lại Cho học sinh luyện đọc từ: tre xanh, bão bùng, lũy thành, nồi tre, lưng trần, (gọi những em thường xuyên phát âm nhầm lẫn tr/ch, thanh ngã/ thanh hỏi đọc lại những từ này ít nhất 2- 3 lần) Đoạn 3: Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của cây tre. GV cần hướng dẫn HS tìm đúng giọng đọc của đoạn này: Đọc chậm rãi, ngắt nghỉ, nhấn giọng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm: không đứng khuất mình, bão bùng, ôm, níu, chẳng ở riêng, vẫn nguyên cái gốc) Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh Tre xanh/ không đứng khuất mình bóng râm. Bão bùng/ thân bọc lấy thân Tay ôm tay níu/ tre gần nhau thêm. Thương nhau/ tre chẳng ở riêng Lũy thành từ đó mà nên/ hỡi người Chẳng may thân gãy/ cành rơi Vẫn nguyên cái gốc/ truyền đời cho măng. Bài "Cánh diều tuổi thơ" - Tiếng Việt 4 - Tập 1 - trang 146. GV cho HS đọc bài với giọng vui tha thiết, thể hiện niềm vui sướng của đám trẻ khi chơi thả diều. Nhấn giọng những từ ngữ gợi tả: hò hét, mềm mại, phát dại, vi vu trầm bổng, gọi thấp xuống + Lượt 2: Học sinh đọc nối tiếp, kết hợp nắm nghĩa của từ được chú giải trong SGK và một số từ giáo viên chọn cần giải nghĩa, nó có tác dụng góp phần nâng cao kĩ năng đọc hiểu (việc tìm hiểu nghĩa từ có thể xen kẽ trong quá trình đọc nối tiếp hoặc sau khi đọc hết bài). Nếu học sinh đọc sai, giáo viên vẫn tiếp tục hướng dẫn, sửa chữa. + Lượt 3: Học sinh đọc nối tiếp để giáo viên đánh giá sự tiến bộ, tiếp tục hướng dẫn hoặc nhắc nhở. Trang 11
  10. + Luyện đọc theo nhóm đôi: Bước này không thể bỏ qua sau khi đọc nối tiếp 3 lượt. Đọc trong nhóm thì học sinh nào cũng được đọc. Giáo viên rèn kĩ năng đọc trong nhóm cho học sinh (các em lần lượt đọc nối tiếp đoạn trong thời gian 2 phút, bạn đọc tốt đọc chung nhóm với bạn đọc chậm, sau đó gọi đại diện một số nhóm nhận xét bạn đọc trong nhóm: Bạn đọc thế nào? Bạn đọc có tiến bộ hơn những lần đọc trước chưa? ... ). Giáo viên quan sát giúp đỡ nhóm có học sinh đọc còn chậm để động viên khích lệ các em khi thấy các em đọc có tiến bộ. 3.2.1.2. Luyện đọc hay (đọc diễn cảm) - Đối với loại hình văn bản nghệ thuật: Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm thông qua việc dẫn dắt, gợi mở giúp học sinh hiểu biết thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với sự việc, hình ảnh cảm xúc, tính cách nhân vật trong bài (Bước đầu biết làm chủ được giọng đọc về ngữ điệu, về tốc độ, trường độ và âm sắc, diễn tả đúng nội dung). * Đối với những văn bản có từ hai nhân vật trở lên, tổ chức cho học sinh thể hiện giọng đọc theo nhân vật của văn bản hoặc cho học sinh đọc phân vai. Rèn cho các em biết thay đổi giọng đọc khi nhập vai các nhân vật trong bài đọc. Cụ thể các em phải đọc phân biệt được lời của tác giả và lời của nhân vật; phân biệt được lời của nhân vật khác. Giáo viên nên hướng dẫn như sau: - Cho học sinh đọc bài và tìm trong bài có mấy nhân vật. - Giáo viên giúp học sinh chỉ ra từng tính cách của từng nhân vật và xác định giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. - Giáo viên thực hiện đọc mẫu lời các nhân vật bằng giọng đọc của mình (hoặc có thể gọi học sinh có năng lực đọc tốt thể hiện). Ví dụ: Bài "Người ăn xin" - Tiếng Việt 4 - Tập 1 - Trang 30 Cậu bé: Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả. (Giọng xót thương ông lão, một cách chân thành.) Ông lão: Cháu ơi, cảm ơn cháu ! Như vậy là cháu đã cho ông rồi. (Giọng xúc động trầm ấm của người cao tuổi) - Bài "Chú đất Nung (tiếp theo)" - Tiếng Việt 4 - Tập 1 - Trang 138. HS cần chú ý đọc phân biệt lời chàng kĩ sĩ, nàng công chúa và chú Đất Nung. Lời của chàng kị sĩ và nàng công chúa đọc với giọng lo lắng, căng thẳng khi gặp nạn; ngạc nhiên, khâm phục khi gặp lại Đất Nung. Lời Đất Nung: thẳng thắn, chân thành, bộc tuệch). Một điều quan trọng giáo viên cần chú ý là tư thế, tác phong của người đọc. Học sinh cần bình tĩnh, tự nhiên, giọng dọc có độ âm vang vừa phải, không quá to hoặc quá nhỏ. Một sắc thái rạng rỡ, vui tươi trên nét mặt một nụ cười hay một thoáng trầm tư phù hợp với từng câu, đoạn trong bài sẽ góp phần tăng thêm cái Trang 12
  11. hay, cái đẹp của tác phẩm dễ đi vào lòng người. Ánh mắt không phải lúc nào cũng nhìn chằm chằm vào sách mà đôi lúc nhìn vào người nghe, lôi cuốn sự chú ý của mọi người. 3.2.1.3. Các hình thức luyện đọc. Để hướng dẫn học sinh luyện đọc thành tiếng, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động theo các hình thức sau: - Đọc cá nhân (đọc riêng lẻ hoặc nối tiếp từng đoạn, đọc trước lớp). - Đọc theo phân vai (nhiều học sinh hợp tác đọc theo lời nhân vật mình đóng vai, tham gia các trò chơi luyện đọc). 3.2.2. Khai thác giọng đọc của học sinh thông qua việc tìm hiểu nội dung bài. - Hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài nhằm trao đổi kĩ năng đọc - hiểu, góp phần năng cao năng lực cảm thụ văn học và tạo cơ sở cho luyện đọc diễn cảm. Nắm được nội dung chính của bài sẽ giúp các em xác định giọng đọc chung của đoạn, của bài (bài đọc với giọng nhẹ nhàng, tha thiết, vui tươi, mạnh mẽ ) Ví dụ: Bài thơ "Mẹ ốm" - Tiếng Việt 4 - Tập 1 - trang 9. Khổ thơ 1,2 giọng đọc trầm buồn, khổ thơ 4, 5 đọc giọng vui hơn. Bài "Tuổi Ngựa" - Tiếng Việt 4 - Tập 1 - trang 149. GV cần hướng dẫn HS đọc giọng dịu dàng, hào hứng; nhanh hơn và trải dài hơn ở khổ thơ (2,3) miêu tả ước vọng lãng mạn của đứa con tuổi Ngựa; lắng lại đầy trìu mến ở hai dòng kết bài thơ: cậu bé đi đâu cũng nhớ mẹ, nhớ đường về với mẹ. - Giáo viên nêu câu hỏi để định hướng cho học sinh đọc thầm (đoạn, bài) và trả lời đúng nội dung. Có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác đọc thầm thảo luận vấn đề do giáo viên đưa ra. - Tùy theo trình độ học sinh trong lớp, giáo viên có thể đưa ra nguyên văn câu hỏi, bài tập trong SGK chia tách câu hỏi thành các ý nhỏ để học sinh dễ thực hiện hoặc bổ sung câu hỏi phụ có tác dụng dẫn dắt học sinh trả lời câu hỏi. - Bằng nhiều hình thức khác nhau (làm việc cá nhân, khi học trực tiếp tại trường sẽ cho đọc theo cặp, theo nhóm ). Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh luyện tập một cách tích cực. Trong quá trình tìm hiểu bài, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh cách trả lời câu hỏi, trao đổi ý kiến. 3.2.3. Giáo viên đọc mẫu diễn cảm. - Giáo viên đọc mẫu nhằm minh hoạ, gợi ý hoặc “tạo tình huống” cho học sinh nhận xét, giải thích, tự tìm ra cách đọc. Ví dụ: Nghe và phát hiện cách đọc của cô; ngừng nghỉ, ngắt nhịp ở chỗ nào, nhấn giọng hay cao giọng, kéo dài giọng ở từ ngữ Trang 13