Thuyết minh Giải pháp Dạy Chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Thuyết minh Giải pháp Dạy Chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
thuyet_minh_giai_phap_day_chuyen_de_nghi_luan_xa_hoi_trong_c.docx
Nội dung tài liệu: Thuyết minh Giải pháp Dạy Chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân
- giải chưa được cải thiện trong đó có bộ môn Giáo dục công dân. Với những thành tích đã đạt được của bộ môn chưa xứng đáng với sự quan tâm của các cấp chính quyền, ban ngành lãnh đạo, cơ quan tổ chức và đáp ứng được sự kì vọng của nhân dân. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên bởi nhiều yếu tố: - Khách quan: + Trong thực tế đội ngũ giáo viên có trình độ đáp ứng được với yêu cầu bồi dưỡng học sinh giỏi chưa nhiều. Giáo viên tham gia công tác tham gia bồi dưỡng, nâng cao chất lượng mũi nhọn còn mỏng, chưa nhiệt tình với nhiệm vụ này. + Giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chính ban. + Bộ môn GDCD là môn học bị coi là môn phụ nên trong thực tế chưa có nhiều tài liệu nâng cao để phục vụ cho việc ôn thi học sinh giỏi. + Học sinh tham gia vào đội tuyển của môn Giáo dục công dân chưa phải là những học sinh có tổ chất tốt, chưa say mê với môn học. - Chủ quan: + Là một giáo viên được phân công giảng dạy và gia bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Giáo dục công dân 9 cấp tỉnh của trường THCS Hoàng Hoa Thám, tôi tự nhận thấy bản thân còn lúng túng, chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ này. + Bản thân chưa tâm huyết với công tác giáo dục mũi nhọn nên cũng chưa có những phương pháp linh hoạt, tích cực để thu hút các em yêu thích, gắn bó với môn học. + Chưa có kinh nghiệm và trình độ còn hạn chế nên thường lên mạng sao chép các đề bài, tài liệu mà không kiểm soát được phạm vi kiến thức dẫn đến khi truyền đạt kiến thức đến học sinh nắm không chắc. Nhất là dạng bài nghị luận, bày tỏ quan điểm về các vấn đề thời sự xã hội nóng đang diễn ra. + Khi dạy chuyên đề nghị luận xã hội của bộ môn GDCD bị nhầm lẫn sang trình bày nội dung giống với môn Văn, nặng về phân tích ngôn từ trong khi bản chất bộ môn GDCD là phân tích nhận xét hành vi, việc làm và đánh giá giá trị đạo đức. Từ đó trong quá trình ôn luyện, nội dung hướng dẫn học sinh làm bài còn sơ sài, viết lan man, chưa trọng tâm, chưa đúng với yêu cầu của đề bài. 3
- Như vậy xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài: “Giải pháp dạy chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Giáo dục công dân” góp phần nâng cao chất lượng mũi nhọn bộ môn Giáo dục công dân của nhà trường. 6. Mục đích của sáng kiến. Mục đích của tôi khi đưa ra sáng kiến này là xây dựng cho mình phương pháp dạy tốt hơn chuyên đề nghị luận xã hội trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn GDCD. Đưa ra một số phương pháp, các dạng bài, cách thức trình bày, hướng dẫn học sinh ôn tập vận dụng làm bài nghị luận, liên hệ thực tế và rèn kĩ năng làm bài cho học sinh góp phần nâng cao kết quả học sinh giỏi bộ môn Giáo dục công dân. * Mục đích cụ thể: - Về kiến thức: Giúp học sinh hiểu cấu trúc của kiểu bài nghị luận xã hội trong đề thi học sinh giỏi môn Giáo dục công dân; học sinh phân biệt được hai kiểu bài nghị luận xã hội về một sự việc hiện tượng với kiểu bài nghị luận về tư tưởng đạo lí; giúp học sinh xác định đúng kiểu bài và viết tốt bài nghị luận xã hội về những vấn đề thời sự nóng thường gặp khi thi học sinh giỏi môn GDCD. - Về kĩ năng: Giúp học sinh rèn kĩ năng tự học, tìm kiếm và xử lí các thông tin phục vụ học tập, vận dụng để viết bài nghị luận xã hội; hiểu được cách làm bài; trả lời chính xác nội dung câu hỏi; trình bày rõ ràng, sạch đẹp, khả năng lập luận chặt chẽ thuyết phục. Đồng thời biết bày tỏ quan điểm cá nhân, có cái nhìn đúng đắn, khách quan với những vấn đề thời sự nóng đang diễn ra ngoài thực tế xã hội. Từ đó tích luỹ cho bản thân những kĩ năng sống, mở rộng vốn tri thức, có cách xử lí tình huống phù hợp khi bản thân gặp phải ngoài cuộc sống thực tế. 7. Nội dung. 7.1. Thuyết minh sáng kiến kinh nghiệm cách làm mới a. Xác định kiến thức cơ bản. Văn nghị luận là văn bản được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó. Những tư tưởng quan điểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết vấn đề đặt ra trong đời sống thì mới có ý nghĩa. Để có thể xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng quan điểm nào đó thì văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục. Trong đó gồm: Luận điểm; Luận cứ; Cách lập luận. 4
- Vậy kiểu bài nghị luận trong ôn thi HSG môn GDCD là kiểu bài nhằm xác lập cho người nghe người đọc những quan điểm, tư tưởng thông qua đánh giá hành vi việc làm và các giá trị đạo đức của các sự việc, hiện tượng, vấn đề xã hội nhằm giáo dục ý thức đạo đức góp phần hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Bố cục của bài văn nghị luận gồm 3 phần: - Mở bài (đặt vấn đề): Nêu vấn đề thời sự đang diễn ra có ý nghĩa, ảnh hưởng đối với đời sống xã hội (luận điểm xuất phát, tổng quát). - Thân bài (giải quyết vấn đề): Trình bày những quan điểm, suy nghĩ, nội dung chủ yếu của bài (có thể có nhiều đoạn nhỏ, mỗi đoạn là một luận điểm, trong một luận điểm có các lí lẽ và dẫn chứng) - Kết bài (kết thúc vấn đề): Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan điểm của bài. Căn cứ vào thao tác khi làm bài và nội dung của vấn đề nghị luận xã hội chia thành 2 dạng bài: - Dạng 1: Dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. - Dạng 2: Dạng bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí. b. Giải pháp chi tiết về dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. Dạng bài nghị luận xã hội về một sự việc hiện tượng yêu cầu người nghe bày tỏ quan điểm đánh giá, nhận xét về những sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày mang tính thời sự, cấp bách có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi việc làm của con người. VD Ô nhiễm môi trường, An toàn giao thông, hút thuốc lá điện tử trong học sinh, bạo lực học đường, căn bệnh trầm cảm của giới trẻ . Nghị luận về một sự việc, hiện tượng nội dung có thể là những tấm gương, việc làm tốt để ta noi theo nhưng cũng có thể là hành động việc làm đáng phê phán lên án. Dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống thường có các yêu cầu: Suy nghĩ của em, quan điểm của em, những hiểu biết của em về tác hại . Đề bài của bài nghị luận về một sự việc hiện tượng có hai loại gồm: - Đề hiện: Là loại đề được xác định rõ mọi yêu cầu trong đề bài. + VD Tình huống: Theo lời khuyên của bố mẹ, nữ sinh H (đủ 15 tuổi) chủ động chia tay người yêu là K (đủ 18 tuổi) để tập trung vào việc học. K không đồng ý, tìm mọi cách níu kéo nhưng không được. Để trả thù, K đã bịa đặt những thông 5
- tin xấu nhằm bôi nhọ danh dự của H và đưa lên mạng xã hội. Hàng nghìn lượt chia sẻ và bình luận chỉ trích H. Xấu hổ, bế tắc, không chịu được áp lực từ cộng đồng mạng, H đã khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng phải nhập viện điều trị. Em có suy nghĩ như thế nào về tình yêu ở lứa tuổi học trò hiện nay? Gợi ý: Đây là đạng đề bài đã có vấn đề nghị luận cụ thể là tình yêu của lứa tuổi học trò, học sinh không khó xác định. - Đề mở: Là loại đề yêu cầu học sinh phải suy luận mới tìm ra được các yêu cầu. Ở dạng đề bài này thường đưa ra một hành động, việc làm đã và đang xảy ra, yêu cầu học sinh phải xác định nội dung chính, bản chất của hiện tượng để xác định được đúng vấn đề nghị luận. + VD. Hiện nay trong các nhà trường có hiện tượng học sinh do vô ý va chạm dẫn đến đánh nhau. Khi các bạn đánh nhau một số học sinh khác không can ngăn mà đứng reo hò, cổ vũ thậm chí dùng điện thoại để quay và chia sẻ lên mạng xã hội. Đây là sự việc đáng lên án và báo động. Quan điểm của em về vấn đề này? Gợi ý: Đây là đạng đề bài chưa có vấn đề nghị luận cụ thể học sinh khó xác định nếu xác định không chuẩn nội dung bài nghị luận sẽ sai. Học sinh dễ nhầm sang vấn đề nghị luận là bạo lực học đường. Để không bị nhầm lẫn học sinh cần gạch chân xác định những từ ngữ quan trọng để tránh nhầm lẫn. Trong đề bài trên vấn đề nghị luận là sự vô cảm, thờ ơ trong học sinh trước những vấn đề bức xúc đang diễn ra ngay trước mắt. - Về dẫn chứng: Dẫn chứng khi viết bài nghị luận trong môn GDCD khác với môn Văn. Dẫn chứng trong môn GDCD ở kiểu bài này sẽ phải là những hành động, việc làm cụ thể đang diễn ra của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày mà ta quan sát được. Các bước làm bài gồm: Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý: - Xác định: Kiểu bài; Vấn đề, nội dung cần cần nghị luận; Các luận điểm chính. Bước 2. Lập dàn bài : - Các quan điểm, suy nghĩ của cá nhân được trình bày dưới dạng các luận điểm. Dàn ý chung của bài văn nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống. 6
- 1. Mở bài. - Giới thiệu sự việc, hiện tượng đời sống cần nghị luận: Sự việc hiện tượng đó có ảnh hưởng tốt hay xấu với con người - xã hội, cần phát huy hay ngăn chặn, giải quyết. 2. Thân bài. Luận điểm 1: Giải thích, trình bày khái niệm. - Tìm và giải thích nghĩa của các từ được coi là từ khóa mà đề bài đưa ra. Tuy nhiên không phải sự việc nào cũng cần giải thích vì có những khái niệm phổ biến mà ai cũng biết như tai nạn giao thông, nói tục chửi thề... Luận điểm 2: Thực trạng, biểu hiện cụ thể sự việc hiện tượng đó đang diễn ra như thế nào? - Dựa vào thực tế đời sống để trả lời các câu hỏi: sự việc, hiện tượng này xuất hiện ở đâu? Xuất hiện vào thời gian nào? Diễn ra ở quy mô nào? Đối tượng của sự việc hiện tượng là ai? Mức độ ảnh hưởng ra sao...Dẫn chứng cụ thể, có thể đưa các con số? Luận điểm 3: Sự việc hiện tượng đó xảy ra để lại hậu quả, tác hại, ảnh hưởng cụ thể như thế nào? Lập luận theo hướng sự việc, hiện tượng đó xảy ra để lại hậu quả, tác hại với: + Với bản thân cá nhân của người đang thực hiện hành vi việc làm được nói đến. + Với gia đình + Với xã hội Luận điểm 4: Nguyên nhân, lí do nào dẫn đến sự việc hiện tượng đó. Lập luận theo hai hướng: - Nguyên nhân chủ quan: do nhận thức, ý thức, thói quen của bản thân con người... - Nguyên nhân khách quan: tác động từ bên ngoài như môi trường sống, do điều kiện gia đình, do bạn bè rủ rê lôi kéo, quy định của hệ thống pháp luật nhà nước, xã hội... Luận điểm 5: Giải pháp đưa ra để khắc phục, hạn chế sự việc, hiện tượng trên. - Dựa vào phần đánh giá hậu quả, kết quả để đưa ra giải pháp cụ thể, phù hợp. Đối với hậu quả thì đưa ra giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn; nếu là kết quả thì phải khuyến khích, cổ vũ, khích lệ và phát triển. 7
- + Bản thân cần xây dựng lối sống như thế nào? + Gia đình cần quan tâm, phối hợp ra sao? + Xã hội, nhà nước có các biện pháp gì? Luận điểm 6: Liên hệ, rút ra bài học cho bản thân. - Liên hệ việc cần phải làm của mọi người nói chung với vấn đề đặt ra trong bài nghị luận. - Bản thân em rút ra bài học gì. 3. Kết bài. - Khái quát lại vấn đề. Khẳng định sự cần thiết, phê phán, lên án hoặc noi gương sự việc hiện tượng đang diễn ra. Ví dụ minh họa NGHỊ LUẬN VỀ THÓI VÔ TRÁCH NHIỆM TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID 19 1. Mở bài. Giới thiệu về vấn đề: Việc chấp hành những quy định về phòng chống dịch là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi tổ chức, cá nhân. Song vẫn còn những cá nhân chủ quan, thờ ơ, vô trách nhiệm không chấp hành nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch. 2. Thân bài. * LĐ 1. Giải thích. - Thói vô trách nhiệm được hiểu là sự hờ hững, thờ ơ, không quan tâm, không có trách nhiệm với việc làm của mình và việc làm của người khác . - Trong phòng chống dịch Covid 19 sự vô trách nhiệm chính là không tuân thủ, không thực hiện, không phối hợp, quan tâm đến các quy định của ban phòng chống dịch về biện pháp phòng dịch * LĐ 2. Thực trạng vấn đề này đang diễn ra như thế nào. - Ưu điểm: Với nước ta thì dịch bệnh đã phần nào được khống chế và trong tầm kiểm soát. Có được thắng lợi bước đầu đó ngoài sự chỉ đạo kịp thời và sự vào cuộc đồng loạt của các cấp các ngành, ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của 8
- người dân trong việc chấp hành các quy định phòng dịch, đồng lòng đánh đuổi giặc Covid. - Tồn tại: Bên cạnh đó còn có một bộ phận nhân dân thiếu ý thức tự giác, vô trách nhiệm gây khó khăn cho công tác khoanh vùng dập dịch cũng như khống chế sự lây lan của dịch bệnh cụ thể: + Vô trách nhiệm khi đi từ vùng tâm dịch trở về không tự giác kê khai y tế, khai báo không trung thực, không thực hiện nghiêm việc cách ly y tế. + Nghiêm trọng hơn, một số người còn tìm cách đưa người nhập cảnh trái phép để thu lợi bất chính. + Tìm mọi cách ra khỏi vùng dịch. + Vi phạm các quy định phòng dịch khi thực hiện cách ly tập trung, + Cố tình chống đối các biện pháp thực hiện cách li xã hội. + Lợi dụng dịch bệnh xảy ra có những hành động việc làm vô nhân đạo đi ngược lại tinh thần tương thân tương ái trong mùa dịch + Tung tin giả về người mắc Covid gây hoang mang cho dư luận. * LĐ 3. Thói vô trách nhiệm đó để lại hậu quả như thế nào. - Với cá nhân: + Sự thờ ơ vô trách nhiệm của các cá nhân làm cho dịch lây lan, bùng phát trên diện rộng. + Sự vô trách nhiệm, không tuân thủ các biện pháp phòng dịch của ban chỉ đạo phòng chống dịch là hành vi vi phạm pháp luật. - Với gia đình: Tốn kém về kinh tế, do bị cách li tập chung nên phải tạm dừng công việc sẽ ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. - Với xã hội: + Nếu các cá nhân không có trách nhiệm khó khăn, vất vả cho toàn bộ ban phòng chống dịch. + Khi dịch lây lan bùng phát trên diện rộng sẽ làm cho ngành y tế quá tải, thiệt hại kinh tế + Khi dịch chưa được kiểm soát sẽ gây tâm lí hoang mang lo lắng, hoảng loạn của người dân trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp. 9
- * LĐ 4. Nguyên nhân. Chủ quan: - Tâm lí chủ quan, thiếu hiểu biết trong phòng dịch. - Do sự vô ý thức, không tự giác, không có tinh thần trách nhiệm chung. Nguyên nhân khách quan: - Gia đình: Chưa giáo dục con cái ý tức tự giác, trách nhiệm một cách nghiêm khắc. - Nhà trường: Chưa làm tốt công tác tuyên truyền, tuyên truyền chưa thường xuyên nên một bộ phận HS còn thờ ơ chủ quan. - Xã hội + Do đặc trưng văn hóa Á đông, do lối sống, thói quen thích tụ tập đông người + Do điều kiện kinh tế còn thiếu thốn một bộ phận cá nhân phải bươn trải, mưu sinh + Do công tác tuyên truyền, việc thực hiện xử phạt chưa triệt để.. *LĐ 5 Giải pháp. - Với cá nhân: Cần nâng cao ý thức tự giác trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các tổ chức ban ngành trong phòng dịch: + Thực hiện nghiêm túc quy định về phòng dịch như: + Không tuyên truyền đưa thông tin sai sự thật về dịch gây hoang mang cho mọi người xung quanh. + Tuyên truyền cho người thân trong gia đình và mọi người xung quanh về phòng dịch. + Thực hiện nghiêm túc quy định về phòng dịch. - Với gia đình: cha mẹ cần gương mẫu thực hiện đồng thời tuyên truyền nhắc nhở các con. - Với nhà trường: Thực hiện nghiêm túc quy định phòng dịch, chuẩn bị điều kiện an toàn cho HS khi đến trường tuyên truyền. - Với xã hội: Cần có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ chặt chẽ, quyết liệt + Tuyên truyền thường xuyên về chủ trương, biện pháp. + Xử lí nghiêm minh, quyết liệt, dứt khoát.. 10
- => Liên hệ bản thân em làm gì để thể hiện trách nhiệm trong công tác phòng dịch? 3. Kết bài. Mỗi một công dân biết tự giác, trách nhiệm bảo vệ mình .Chúng ta cần nêu cao ý thức trách nhiệm trong phòng dịch bằng hành động việc làm của mỗi cá nhân. * Lưu ý: Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào khi đưa ra vấn đề nghị luận thì yêu cầu làm bài cũng phải đầy đủ cấu trúc các phần theo hệ thống luận điểm nói trên. Điều này còn phụ thuộc vào phạm vi câu hỏi, thang điểm, vấn đề đưa ra nghị luận thì học sinh phải vận dụng được đơn vị kiến thức cần trình bày. VD Tình huống: Các bạn K, G và H là học sinh lớp 9 (15 tuổi) trường THCS xã Q. Do mâu thuẫn cá nhân nên sau giờ tan học, H vừa đi xe đạp điện ra khỏi cổng trường thì bị K, G chặn lại. G dùng mũ bảo hiểm đánh liên tiếp vào đầu H, cùng lúc đó, K đã dùng hung khí giấu trong người tấn công làm H tử vong ngay tại chỗ. Vụ án xảy ra đã gây xôn xao dư luận địa phương.Tình huống trên phản ánh vấn đề bạo lực học đường hiện nay. Em hãy đề xuất biện pháp phòng tránh vấn đề này. => Đây là dạng câu hỏi đã xác định rõ vấn đề nghị luận nhưng học sinh cần đọc kĩ yêu cầu của câu hỏi. Trong phạm vi câu hỏi chỉ yêu cầu đề xuất biện pháp phòng tránh thì học sinh chỉ cần giải thích ngắn gọi hiện tượng đó. Sau đó chỉ ra thực trạng và nguyên nhân (3-5 câu) ngắn gọn, nội dung đó được xem là cơ sở có tính chất kết nối, liên kết để trình bày giải pháp vì đây là luận điểm tập chung điểm cao nhất. Với câu hỏi dạng này cần trình bày như sau: Giới thiệu vấn đề: Ngày nay vấn đề bạo lực học đường đang là nội dung mà các nhà trường và phụ huynh học sinh lo ngại. Vấn đề này xảy ra xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Từ đó đặt ra giải pháp: * Giải thích: Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất chấp công lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương và tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học. Đề xuất biện pháp: * Về phía về nhà nước: Ngăn chặn và xử phạt nặng những cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật *Về phía nhà trường: 11
- - Rèn luyện kĩ năng sống, tổ chức các hoạt động ngoại khóa về bạo lực học đường; có hình thức kỉ luật, giáo dục phù hợp; - Tuyên truyền phối hợp với các cơ quan đoàn thể trên địa bàn để phòng tránh bạo lực học đường. * Về phía gia đình: Thường xuyên quan tâm tới tâm sinh lí của con, yêu thương và phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường để nắm bắt tình hình học tập của con em mình. * Về phía giáo viên: Thường xuyên quan tâm, theo dõi tình hình lớp chủ nhiệm, lớp giảng dạy; có biện pháp can ngăn kịp thời các hiện tượng có nguy cơ dẫn đến bạo lực, tạo ra môi trường lành mạnh và phối hợp với gia đình để hỗ trợ học sinh. * Về phía học sinh: - Chủ động trang bị các kĩ năng sống, chấp hành tốt nội quy trường lớp. - Tránh xa bạo lực, nếu thấy hiện tượng bạo lực phải kịp thời báo ngay cho nhà trường, thầy cô giáo hoặc cơ quan có thẩm quyền để kịp thời can thiệp và xử lí. - Tích cực tham gia vào các hoạt động tình nguyện mà nhà trường tổ chức nhằm tăng tính thiện và tính hướng thiện trong con người các em. * Liên hệ bản thân: Có thái độ vui vẻ, hòa đồng, chia sẻ giúp đỡ các bạn; Lên án và ngăn chặn các hành vi bạo lực học đường; Khuyên bảo, giúp đỡ các bạn mắc sai lầm không mặc cảm tự ti mà vươn lên vượt qua chính mình c. Giải pháp chi tiết về dạng bài nghị luận về tư tưởng đạo lí. - Nghị luận về tư tưởng đạo lí là bàn luận về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống, của con người. Nghị luận về tư tưởng đạo lí nội dung nghị luận là những phẩm chất tốt đẹp của con người như: tinh thần đoàn kết, truyền thống tôn sư trọng đạo, lòng yêu thương con người, ý chí nghị lực Đó là những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người mà chúng ta cần giữ gìn, kế thừa và phát huy. - Dạng bài nghị luận về tư tưởng đạo lí có các yêu cầu: Suy nghĩ của em, quan điểm của em, những hiểu biết của em, cảm nhận của em, đánh giá .. Các dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí bao gồm: 12
- * Dạng 1: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí mà nội dung nghị luận trong một nhận định (ý kiến, câu nói, châm ngôn, tục ngữ, ) Đây là kiểu bài mà vấn đề nghị luận chưa được đưa cụ thể mà cần phải giải thích ý kiến đưa ra ở đề bài sau đó dựa vào đơn vị kiến thức trong bài học để trình bày và lập luận và đi kèm với dẫn chứng. Ví dụ: Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta ” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr.67 ) Bằng kiến thức và hiểu biết thực tế, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. Để làm đúng yêu cầu của dạng câu hỏi này cần trình bày như sau: Bước 1. Giới thiệu vấn đề, giải thích, khái quát nội dung câu nói: - Lao động là gì? - Giải thích câu hỏi của Bác => Câu nói muốn khẳng định và nhấn mạnh lao động là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền sống của của công dân. Bước 2. Dựa vào dung bài học và đưa ra các luận điểm theo hệ thống đi kèm với lí lẽ như sau: - Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc. + Lao động tạo ra nhiều của cải vật chất, tạo ra nhiều máy móc, thiết bị giúp đất nước phát triển + Lao động để tạo ra các công trình công cộng như: đường xá, cầu cống, bến cảng, nhà ga để đất nước ngày càng văn minh, hiện đại. + Lao động là yêu nước. - Lao động là nguồn sống của con người: + Tạo ra của cải vật chất (quần áo, thức ăn, đồ dùng sinh hoạt ) để nuôi sống bản thân và gia đình. + Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. - Lao động là nguồn hạnh phúc: 13

