SKKN Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng dạng bài trong phần Luyện tập của môn Tiếng Việt Lớp 2 theo chương trình GDPT 2018
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng dạng bài trong phần Luyện tập của môn Tiếng Việt Lớp 2 theo chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_van_dung_linh_hoat_cac_phuong_phap_va_hinh_thuc_to_chuc.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng dạng bài trong phần Luyện tập của môn Tiếng Việt Lớp 2 theo chương trình GDPT 2018
- tiếng Việt, mở rộng vốn từ cho học sinh,rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh. Phân môn Luyện tập là sự tích hợp hai phân môn ngữ pháp và từ ngữ ( Của chương trình cũ chính là phân môn Luyện từ và câu). Kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp được dạy qua các bài thực hành luyện tập (Không có bài học riêng theo chương trình mới.). Cách sắp xếp trình bày các bài tập rất hợp lí, có hệ thống và quan hệ chặt chẽ với nhau. Cơ sở kiến thức mà sách giáo khoa cung cấp học sinh đã được làm quen từ các bài tập đọc, chính tả, một số từ có trong các bài tập viết. Chương trình Luyện tập nhấn mạnh đến tính tích hợp, tính thực hành giao tiếp, chú trọng dạy từ và câu thông qua các tình huống giao tiếp. Các kiến thức về từ và câu được đưa vào chương trình một cách tinh giản và chọn lọc, tạo cơ sở cho việc thực hành. Đặc trưng của tiết Luyện tập lớp 2 là kiến thức được truyền thụ cho học sinh đều thông qua hệ thống bài tập. Có thể nói mỗi bài dạy Luyện tập là một hệ thống mở nhằm phát huy tối đa khả năng sáng tạo, nghệ thuật sư phạm của mỗi giáo viên. a. Ưu điểm của giải pháp Đề tài mang lại cho học sinh những vốn từ ngữ nhất định, qua đó giúp các em rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản nói và viết, biết giao tiếp tốt trong cuộc sống cũng như trong trình bày văn bản. đặc biệt hơn các em có nhiều ngôn ngữ, vốn từ sẽ học tốt các môn học còn lại. Hiện nay được sự quan tâm của Bộ - Sở – Phòng Giáo dục và đặc biệt là trực tiếp Ban giám hiệu các trường quan tâm đến đổi mới phương pháp - đầu tư cho giáo viên đi sâu tìm hiểu các phân môn mới. Mặt khác việc học tập của học sinh hiện giờ cũng được các bậc phụ huynh rất quan tâm . Bên cạnh đó tiết dạy Luyện tập là một tiết học mới lạ với học sinh lớp 2 nên các em rất tò mò, háo hức được học, được tìm hiểu. Chính vì vậy, đó là động lực thúc đẩy yêu cầu mỗi giáo viên dạy lớp 2 chú ý quan tâm đến việc dạy cách viết đoạn văn cho học sinh. Tranh ảnh trong sách Tiếng Việt lớp 2 được trình bày đẹp, trang nhã, với nhiều hình ảnh sinh động, dễ hiểu, màu sắc phong phú. Tranh phục vụ thiết thực cho những bài học, gần gũi với cuộc sống hằng ngày. Từng HS có thể quan sát tranh ngay trong SGK một cách cụ thể, chi tiết và rõ ràng.Các loại bài viết đoạn văn được bố trí vào cuối tuần, góp phần tô đậm nội dung chủ điểm học tập của từng tuần. b.Hạn chế của giải pháp: Thực tế cho thấy, học sinh tiểu học nhất là vào giai đoạn đầu cấp học, vốn từ rất nghèo, kĩ năng sử dụng từ còn hạn chế, chưa nắm chắc cấu trúc câu Do đó, khi dùng từ để nói, viết thành câu, các em sử dụng còn tùy tiện, dựa theo cảm tính mà không biết dùng từ đúng với ngữ cảnh. Các em hay bắt chước người
- khác, không đủ khả năng để chọn lọc hay suy nghĩ xem từ nào đúng, từ nào sai, câu này nên nói lúc nào, nên viết ra sao và dùng trong ngữ cảnh nào. Vì vậy các câu, bài cứ na ná như nhau. Học sinh dùng câu chưa đúng ngữ điệu, không có sự biểu cảm mà đơn thuần chỉ là câu liệt kê, thông báo đơn giản. Học sinh dùng từ sai, làm cho người khác không hiểu ý cần diễn đạt. Hay sử dụng dấu câu chưa đúng với mẫu câu. Nhiều giáo viên còn cảm thấy lúng túng, cách dạy còn đơn điệu, lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa sinh động, chỉ dạy theo kiểu lặp lại dạng bài gây nhàm chán cho học sinh. Trong các giờ học Luyện tập, ít hoặc dường như không thấy học sinh chủ động học tập, tìm tòi, tranh luận; câu trả lời của các em không mang tính sáng tạo và kết quả học tập còn thấp. Trong năm học 2024 - 2025 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2C có 30 học sinh. Đồng chí Luận được phân công chủ nhiệm lớp 2E có 32 học sinh . Các em nói chung tiếp thu bài tốt, hiểu bài ngay. Tuy nhiên kỹ năng nghe nói của các em không đồng đều, có một số em nói còn nhỏ, khả năng diễn đạt suy nghĩ, diễn đạt bài học còn chậm, yếu . Mặt khác, do thực tế học sinh mới được làm quen với môn học ở lớp 2 nên học sinh còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có phương pháp học tập bộ môn một cách khoa học và hợp lý.Học sinh mới đầu được làm quen với câu,cách dùng dấu câu, cách trình bày câu.... Vốn từ ít, khả năng cảm thụ văn của học sinh cũng nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất còn hạn chế, phòng học hẹp, học sinh nhiều rất khó khăn trong việc thảo luận nhóm và di chuyển trong giờ họ Vì vậy để học sinh lớp 2 mở rộng và làm giàu vốn từ, giúp các em học và sử dụng tiếng mẹ đẻ như một công cụ và phương pháp giao tiếp, đồng thời phát triển ngôn ngữ, phát triển tư duy chúng tôi đã luôn trăn trở làm thế nào để dạy Luyện tập đạt kết quả cao? Làm thế nào để học sinh hứng thú với tiết học Luyện tập? Đó chính là lí do chúng tôi cùng nhau nghiên cứu và chọn đề tài: “Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng dạng bài trong phần Luyện tập của môn Tiếng Việt lớp 2 theo chương trình GDPT 2018.” III. NỘI DUNG ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN: III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến. Giải pháp 1: Giáo viên tìm hiểu và hệ thống nội dung chương trình. Để dạy tốt tiết Luyện tập trước hết giáo viên cần : - Nghiên cứu kĩ nội dung chương trình, xác định mục tiêu bài học và mục tiêu của từng hoạt động học tập. Giáo viên mạnh dạn thay đổi học liệu trong sách
- giáo khoa sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh trong lớp. Từ đó đề ra các phương án cụ thể cho từng hoạt động học tập. - Hiệu quả của giờ học phụ thuộc rất nhiều vào sự chuẩn bị bài chu đáo của giáo viên. Ví dụ: Khi dạy bài Từ chỉ sự vật, hoạt động; Câu nêu hoạt động̣ - Tuần 2 - Giáo viên có thể thay ngữ liệu học là tranh trong sách giáo khoa bằng các vật thật có trong phòng học của lớp. Qua đó các em sẽ tìm ngay được các từ hoạt động của các đồ vật đó và hiểu được khái niệm từ chỉ hoạt động một cách rõ ràng hơn. - Xuất phát từ đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 2. Các em hiếu động, tò mò, ham hiểu biết, thích hoạt động vui chơi. Vì vậy giáo viên cần linh hoạt vận dụng nhiều hình thức học tập: Hoạt động cá nhân, Hoạt động nhóm. Học liệu tranh ảnh trong sách giáo khoa bằng những vật thật. - Xây dựng các phương pháp, hình thức dạy học theo đặc trưng mỗi loại bài. Ví dụ: Khi dạy bài Từ chỉ đặc điểm; Câu nêu đặc điểm - Tuần 3 2.Ghép các từ ngữ ở bài tập 1 để tạo câu nêu đạc điểm. Mẫu: Đôi mắt đen láy.
- Bài tập số 2 này giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi Tiếp sức. Chia lớp thành 3 nhóm thi xem nhóm nào ghép được nhiều câu. Giải pháp 2: Phương pháp khi dạy dạng bài Mở rộng vốn từ. a. Dạy bài mở rộng vốn từ theo ý nghĩa khái quát: Đây là dạng bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo ý nghĩa khái quát của từ. Học sinh mở rộng, phát triển vốn từ theo hệ thống các từ chỉ sự vật, hoạt đông, trạng thái, đặc điểm, tính chất. Đối với học sinh lớp 2, các em bước đầu làm quen với các khái niệm “sự vật”, “hoạt động”, “trạng thái”, “đặc điểm”, nên khi dạy dạng bài tập này tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu qua hệ thống tranh ảnh, hoạt động từ đó tự mình giải thích cho học sinh các khái niệm “sự vật” là : người, đồ vật, loài vật, cây cối; “hoạt động, trạng thái” là cử chỉ, động tác, tư thế, tình trạng của người, vật; “đặc điểm” là hình dáng, tính tình, màu sắc của người, vật Thông thường, giáo viên chỉ cung cấp từ cho học sinh theo nội dung bài tập trong sách giáo khoa và sử dụng phương pháp Hỏi- Đáp. Có nghĩa giáo viên nêu câu hỏi, yêu cầu học sinh quan sát, thảo luận, nêu từ (theo hình thức cá nhân hoặc nhóm). Tôi nhận thấy học sinh chỉ được cung cấp một số lượng từ nhất định mà không có khả năng phát triển và vận dụng. Để học sinh ghi nhớ làm phong phú vốn từ tôi thường cho học sinh quan sát thực tế xung quanh. Chẳng hạn: học về từ chỉ “sự vật”, tôi khuyến khích cho các em quan sát sự vật xung quanh tìm từ ngữ để gọi tên sự vật đó rồi ghi vào bảng nhóm (cỡ lớn); nếu cần thiết có thể minh họa bằng hình vẽ hoặc giải thích cụ thể đối với những từ chỉ sự vật hiếm, lạ. Những bảng từ được các em treo lên bốn bức tường của lớp. Lúc rảnh rỗi hoặc giờ ra chơi, học sinh sẽ cùng nhau đọc và tìm ra những từ sai hoặc không có nghĩa để sửa lại cho đúng. Cứ như vậy, hằng ngày những dòng chữ hiển hiện trước mắt “thấm” dần vào các em và như thế các em có thêm rất nhiều từ mới (có thể là những từ rất gần gũi, giản dị như: con dao, cái kéo, viên phấn, con mèo, gió, mưa). Rồi cũng chính thông qua việc này các em ngầm hiểu đây chính là những từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng. Và sau này khi được yêu cầu xác định những từ chỉ sự vật trong văn cảnh cụ thể, các em có thể xác định khá chính xác và nhanh. b. Dạy bài mở rộng vốn từ theo chủ điểm: Đây là dạng bài tập chỉ nêu định hướng cho các em dựa vào những văn bản đã học, quan sát tranh, hoặc huy động vốn từ sẵn có của bản thân, bạn bè để đưa từ ấy vào hệ thống. Khi dạy các dạng bài tập này tôi thường tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm với nhiệm vụ là luân phiên ghi vào bản nhóm các từ theo chủ điểm của nội dung bài, sau đó dùng từ tìm được để đặt câu. Khi các nhóm đã thực hiện xong nhiệm vụ, tôi tổ chức cho từng nhóm trình bày trước lớp để cả lớp nhận xét và từ đó giáo viên xây dựng bảng tổng hợp kết quả của bài tập.
- c. Dạy mở rộng vốn từ qua trò chơi ô chữ: Mở rộng vốn từ qua trò chơi ô chữ là một trò chơi học tập có tính trực quan nên dễ thu hút học sinh, dạng bài tập này chiếm số lượng rất ít chủ yếu là ở các tiết ôn tập. Các từ ngữ cần tìm và cần điền vào ô chữ thường cùng nằm trong một chủ điểm, một trường nghĩa, do đó, tác dụng giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ theo hệ thống của dạng bài tập này rất cao. Về cấu tạo, bài tập giải ô chữ thường có hai phần: phần ô chữ và phần gợi ý. Giáo viên phối hợp hai phần với nhau giúp học sinh dễ dàng tìm ra từ ngữ thích hợp, qua đó mở rộng được vốn từ và nắm được nghĩa của từ. Giải pháp 3: Phương pháp khi dạy dạng bài tích cực hóa vốn từ. Sử dụng từ là lựa chọn và kết hợp từ với nhau để tạo thành câu, thành đoạn. Mục đích của bài tập là tích cực hóa vốn từ của học sinh, nghĩa là chuyển những từ học sinh tích lũy được huy động vào hoạt động giao tiếp, tư duy. Bài tập không chỉ giúp học sinh nắm được nghĩa mà còn làm rõ khả năng kết hợp từ. Những bài tập được sử dụng ở lớp 2 là bài tập điền từ vào chỗ trống, bài tập tạo từ. a. Với bài tập điền từ vào chỗ trống: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc các câu văn có chỗ trống để học sinh sơ bộ nắm được nội dung của từng câu, làm cơ sở cho việc lựa chọn từ cần điền. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh lần lượt thử điền từng từ cho sẵn vào từng chỗ trống trong câu, từ nào có sự tương hợp về nghĩa, phù hợp về quan hệ ngữ pháp với những từ trong câu thì lựa chọn từ đó. Ví dụ: Dạy tiết Luyện tập của Tuần 10 b.Bài tập tạo từ: Với những bài tập dạng này, giáo viên hướng dẫn học sinh tạo các từ theo từng tiếng dưới dạng sơ đồ cây. Ví dụ: Bài tập 2(TV2, Tuần 16, trang 124): Tìm những từ ngữ chỉ hoạt động có thể kết hợp với từ “cửa” GV có thể sử dụng sơ đồ sau để cho học sinh dễ hiểu và tìm được nhiều từ.
- Giải pháp 4: phương pháp khi Dạy các kiểu câu Câu giới thiệu; Câu nêu hoạt động; Câu nêu đặc điểm. Các kiểu câu Câu giới thiệu; Câu nêu đặc điểm; Câu nêu hoạt động.Là các câu đơn bình thường được phân loại dựa vào vị ngữ: Câu luận có vị ngữ chứa từ là (hoặc không phải là, không phải ở hình thức phủ định) Ví dụ: Mẹ em là giáo viên ( Mẹ em không phải là giáo viên). Câu kể thường có vị ngữ là động từ (cụm động từ) chỉ hoạt động trả lời câu hỏi Làm gì? Ví dụ: Mẹ em đang hái rau. Câu tả thường có vị ngữ là động từ (cụm động từ) chỉ trạng thái, tính từ (cụm tính từ) trả lời cho câu hỏi Thế nào? Ví dụ: Chị em rất đẹp. Để dạy học sinh thành thạo các kiểu câu này ngay từ khi dạy học sinh về từ tôi đã hướng dẫn để học sinh nắm vững nghĩa của từ, sau đó dùng từ đặt câu. Khi các em hiểu rõ nghĩa của từ thì dễ dàng xác định được cấu trúc câu cũng như đặc điểm của câu có liên quan đến loại từ được sử dụng. Ví dụ: Bộ phận trả lời câu hỏi Là gì? trong kiểu câu Giới thiệu? thường là các từ chỉ sự vật (gọi tên); bộ phận trả lời cho câu hỏi Làm gì? trong kiểu câu Nêu hoạt động? thường là những từ chỉ hoạt động; bộ phận trả lời câu hỏi Thế nào? trong kiểu câu Nêu đặc điểm? thường là các từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất. Với dạng bài tập này tôi thường cho học sinh tiến hành đặt câu theo nhóm. Trong khoảng thời gian nhất định, học sinh lần lượt thực hành đặt câu và ghi các mẫu câu đã đặt vào bảng nhóm. Giáo viên yêu cầu các em đánh dấu những câu mình đặt (Ví dụ học sinh 1 trong nhóm ghi các câu của mình đặt là 1). Việc làm này giúp giáo viên quan sát và đánh giá được mức tiến bộ của từng đối tượng học sinh, nắm được điểm mạnh, điểm yếu của từng em để có kế hoạch bồi dưỡng hoặc phụ đạo. Khi các nhóm đã thực hiện xong nhiệm vụ tôi tổ chức cho từng nhóm trình bày trước lớp để cả lớp cùng nhận xét về cách dùng từ, đặt câu, về chính tả, chữ viết. Việc được tham gia vào quá trình chữa bài cho bạn cũng góp phần giúp học sinh tự chữa lỗi cho mình về dùng từ, đặt câu và lỗi chính tả. Với sự hỗ trợ của giáo viên, qua các tiết luyện từ và câu, học sinh đã biết đặt câu
- ngày càng đúng, phù hợp với văn cảnh. Cũng từ những hoạt động trên học sinh nắm được cấu trúc câu, đặt câu theo mẫu nhanh hơn, nội dung diễn đạt đa dạng, phong phú và bước đầu có hình ảnh. Ngoài ra, để phát huy được khả năng tư duy của mọi đối tượng học sinh, khi dạy học sinh tìm từ đặt câu tôi thường đưa ra một chủ đề và yêu cầu học sinh tìm từ quanh chủ đề đó. Ví dụ : Nhà em nuôi một con chó/ gà/ Hãy tìm từ chỉ một vài đặc điểm của con vật ấy. Sau khi học sinh tìm được từ ngữ (Ví dụ : sủa gâu gâu, lông mượt) giáo viên yêu cầu học sinh đặt câu để diễn tả cảm nghĩ của mình. Các câu đều được ghi vào bảng nhóm rồi chỉ người trình bày. Khi thực hiện hoạt động này tôi nhận thấy các em đã bước đầu bộc lộ tính cách riêng trong việc dùng từ, đặt câu. Trên cơ sở biết đặt câu thành thạo, học sinh dễ dàng viết một đoạn văn ngắn theo chủ đề cho trước. Trong thời gian của một tiết học thay vì học sinh có thể tìm được 1, 2 câu thì nay đã có hàng chục từ ngữ, câu văn.. do học hỏi được ở bạn bè. Các em còn được tạo điều kiện để sửa câu sai, chọn câu hay, phù hợp ngữ cảnh. Giải pháp 5: Phương pháp khi dạy các bài về dấu câu. a. Dạy dấu phẩy: Dấu phẩy được dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận của câu. Khi hướng dẫn học sinh tập dùng dấu phẩy tôi dùng biện pháp sử dụng các câu hỏi tìm bộ phận của kiểu câu đã học để giúp học sinh xác định vị trí cần đặt dấu phẩy. *Dùng câu hỏi Ai? (Cái gì? Con gì?) Giáo viên có thể đặt câu hỏi này với số nhiều (Những ai? Những cái gì? Những con gì?) để gợi ý học sinh tìm vị trí đặt dấu phẩy ngăn cách với các từ ngữ cùng giữ chức vụ trong câu. Ví dụ 1: Bài tập 4 (TV2, Tuần 12, Trang 100) Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau: Chăn màn quần áo được xếp gọn gàng. Giường tủ bàn ghế được kê ngay ngắn. Giầy dép mũ nón được để đúng chỗ. Hỏi: a. Những cái gì được xếp gọn gàng? (chăn màn/ quần áo được xếp gọn gàng). Học sinh xác định được: Dấu phẩy đặt sau chăn màn để ngăn cách với quần áo. (Tương tự với câu b, c) Ví dụ 2: Bài tập 3 (TV2, Tuần 8, Trang 67) Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau: c.Chúng em kính trọng, biết ơn thầy giáo cô giáo. Hỏi: Chúng em kính trọng, biết ơn những ai? (thầy giáo/ cô giáo). Học sinh xác định được: Dấu phẩy đặt sau từ thầy giáo để ngăn cách với từ cô giáo.
- Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ: Trong câu nếu có hai hay nhiều từ ngữ đứng cạnh nhau và cùng trả lời cho câu hỏi Ai? (Cái gì? Con gì?) thì ta dùng dấu phẩy để ngăn cách (tách) chúng ra cho rõ ràng. *Dùng câu hỏi Là gì? Làm gì? Thế nào? Sau khi dùng câu hỏi, giáo viên cần gợi ý thêm để giúp học sinh tìm được vị trí cần đặt dấu phẩy trong câu. Ví dụ: Bài tập 3 (TV2, Tuần 8, Trang 67) Có thể đặt dấu phẩy vào những chỗ nào trong mỗi câu sau: Lớp em học tập tốt lao động tốt. Hỏi: Lớp em thế nào? (học tập tốt/ lao động tốt). Giáo viên có thể gợi ý thêm: Vậy cần đặt dấu phẩy ở vị trí nào để tách các từ ngữ học tập tốt lao động tốt cho rõ ý?Học sinh xác định được: Dấu phẩy đặt sau từ học tập tốt để ngăn cách với từ lao động tốt. *Dùng câu hỏi Khi nào? Lúc nào? Ở đâu? Đây là câu hỏi giúp học sinh xác định những từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm, nơi chốn (Bộ phận phụ thường đứng ở đầu câu). Từ đó học sinh dùng dấu phẩy để ngăn cách chúng với bộ phận chính của câu. Ví dụ: Bài tập 3 (TV2, Tuần 24, Trang 55) Điền dấu chấm hay dấu phẩy vào ô trống: - Câu 1: Từ sáng sớm Khánh và Giang đã náo nức chờ đợi mẹ cho đi thăm vườn thú. Hỏi: Khánh và Giang đã náo nức chờ đợi mẹ cho đi thăm vườn thú từ khi nào? -Dấu phẩy đặt sau Từ sáng sớm để ngăn cách với bộ phận còn lại của câu. - Câu 2: Trong vườn thú trẻ em chạy nhảy tung tăng. Hỏi: Trẻ em chạy nhảy tung tăng ở đâu? -Dấu phẩy đặt sau Trong vườn thú để ngăn cách với bộ phận còn lại của câu. b.Dạy dấu chấm: Dấu chấm dùng để kết thúc câu trần thuật. Để học sinh điền đúng dấu chấm tôi thường hướng dẫn học sinh dựa vào các kiểu câu đã học Câu giới thiệu; Câu nêu đặc điểm; Câu nêu hoạt động để lựa chọn đúng dấu câu. Giáo viên đưa ra bảng sau để học sinh dễ ghi nhớ. Bảng tóm tắt cách dùng dấu câu STT CÁCH GỌI TÊN CÁCH GHI NHỚ GHI 1 Dấu chấm . Dùng ở cuối câu kể, câu giới thiệu, câu nêu đặc điểm,câu nêu hoạt động. Ví dụ: Mình là học sinh lớp 2. 2 Dấu chấm hỏi ? Dùng ở cuối câu hỏi: Câu hỏi điều chưa biết. Ví dụ:Mấy ngày nữa thì mẹ về hả chị? Bạn ơi giờ là mấy giờ? 3 Dấu chấm than ! Được dùng để kết thúc câu bộc lộ cảm xúc, đề nghị, mong chờ... Ví dụ: Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!
- III.2. Tính mới, tính sáng tạo: Đứng trước vai trò, vị trí, tầm quan trọng của việc dạy Luyện tập cho học sinh Tiểu học nói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng, chúng tôi thấy việc hướng dẫn cho các em nắm được phương pháp học là hết sức cần thiết. Học Tiếng Việt không chỉ là học những tri thức về ngôn ngữ, về lý luận mà quan trọng hơn là bồi dưỡng và phát triển năng lực ngôn ngữ ở mỗi người. Năng lực ngôn ngữ này bao gồm năng lực tư duy và năng lực cảm xúc; năng lực thể hiện, tức khả năng nói, viết, diễn đạt cảm nghĩ của mình là một trong những kĩ năng mềm rất quan trọng. Ở lớp, các em được tổ chức hoạt động theo phương pháp tích cực để dần dần trở thành người lao động biết làm chủ bản thân, gia đình và xã hội. Lối học thụ động không thích hợp với chương trình mới. Nhưng chỉ chủ động trong tiếp thu bài vở trên lớp thôi thì chưa đủ. Ngoài việc học bài trên lớp, học sinh còn cần được dạy để chủ động ngay từ chuyện sắp xếp thời gian, công việc hằng ngày. Một trong những mục đích quan trọng của việc dạy Tiếng Việt cho HS trong nhà trường là giúp cho các em hiểu và sử dụng được Tiếng Việt , một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của chúng ta. Hơn nữa, việc dạy học Tiếng Việt không phải chỉ đơn thuần nhằm cung cấp cho học sinh một số những khái niệm hay quy tắc ngôn ngữ, mà mục đích cuối cùng cần phải đạt đến lại là việc giúp các em có được những kĩ năng, kĩ xảo trong việc sử dụng ngôn ngữ. Học sinh không thể chỉ biết những lý thuyết về hệ thống ngữ pháp Tiếng Việt, biết một khối lượng lớn các từ ngữ Tiếng Việt, mà lại không có khả năng sử dụng những hiểu biết ấy vào giao tiếp. Dạy Tiếng Việt cho các em, đặc biệt ở các lớp đầu bậc Tiểu học, không phải chủ yếu là dạy “kĩ thuật ” ngôn ngữ mà là dạy “kĩ thuật ” giao tiếp. Việc dạy tiếng gắn liền với hoạt động giao tiếp là con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất giúp học sinh nắm được các quy tắc sử dụng ấy.Vì thế, có thể nói dạy tiếng chính là việc dạy cho các em cách tổ chức giao tiếp bằng ngôn ngữ. Mỗi bài “Luyện tập ” là một dịp cho các em có thêm kiến thức và kĩ năng chủ động tham dự vào cuộc sống văn hoá thường ngày. Vì vậy, giáo viên cần hết sức linh hoạt để làm cho tiết “Luyện tập” trở thành một tiết học hứng thú và bổ ích. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất của từng bài, căn cứ vào trình độ HS và năng lực, sở trường của GV; căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng trường, từng lớp mà lựa chọn, sử dụng kết hợp các phương pháp và hình thức dạy học một cách hợp lý, đúng mức III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến Sau một thời gian áp dụng các giải pháp trên chất lượng học tập của HS lớp tôi và lớp đồng chí Luận đã được nâng cao rõ rệt. HS đã bước đầu biết cách sử dụng từ ngữ, câu thoại khi nói và viết phù hợp, phong phú hơn, hay hơn.
- Chúng tôi tự nhận thấy mình đã tìm được hướng đi đúng, cách làm phù hợp cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập. Chúng tôi thấy mỗi giờ dạy bản thân mình cũng tạo được sự say mê, hứng thú trong việc rèn cho các em ,nên tiết học Luyện tập bây giờ trở nên nhẹ nhàng hơn, hiệu quả hơn so với trước rất nhiều. Vì thế chúng tôi đã mạnh dạn thực hiện kinh nghiệm của mình trong các tiết Luyện tập.Đầu năm học, khi mới bước vào học có không ít học sinh lớp 2C,2E rất “sợ ” học tiết này. Nhưng dần dần với sự động viên, dìu dắt của chúng tôi, số lượng các em sợ học phân môn này ngày càng giảm dần. Thay vào đó học sinh rất mong muốn, phấn khởi chờ đón tiết Luyện tập. Học sinh lớp chúng tôi đã có ý thức hơn trong các giờ học. Chất lượng học phân môn Luyện từ và câu có chuyển biến rõ rệt: Học sinh có vốn từ phong phú hơn; Biết sử dụng từ ngữ phù hợp với văn cảnh;Khi nói và viết thành câu thành thạo; Đặc biệt các em sử dụng các dấu câu đúng theo mục đích. Bởi vì trong mỗi tiết học,học sinh được bộc lộ kinh nghiệm, sự cảm nhận của cá nhân khi quan sát. Học sinh được tự do diễn đạt bằng sự lựa chọn từ ngữ, mô hình câu của riêng mình. Giờ học hứng thú hơn bởi học sinh có động cơ nói ra, viết ra điều mình thấy, mình cảm nhận được. Đó chính là những động lực thúc đẩy chúng tôi ngày càng nỗ lực phấn đấu hơn nữa trong sự nghiệp trồng người đầy khó khăn thử thách này. III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến: - Đề tài không gây tốn kém về kinh tế chỉ cần giáo viên chịu khó tìm tòi các hình ảnh, các thông tin thích hợp trên mạng để đưa vào bài giảng nên rất có hiệu quả. - Trong quá trình giảng dạy, giúp học sinh biết phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh đặc biệt là những học sinh có năng khiếu diễn đạt. - Giáo dục học sinh thêm yêu thích tiết học Luyện tập góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. - Học sinh yêu thích tiết học Luyện tập là yêu môn Tiếng Việt hơn, từ đó có hứng thú học môn Tiếng Việt hơn. Sau khi áp dụng đề tài cho lớp 2C, 2E kết quả thu được cuối học kì I như sau: - Kết quả bài khảo sát kiến thức của phần Luyện tập: LỚP SĨ SỐ HTT HT CHT 2C 30 19 7 4 2E 32 20 7 5 - Qua kết quả kiểm tra đã khẳng định chất lượng môn Tiếng Việt được nâng lên rõ rệt trong đó có phân môn Luyện tập.
- - Với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, hội đồng thẩm định sáng kiến và sự quan tâm chia sẻ của các bạn đồng nghiệp. Để sáng kiến của chúng tôi hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tiết Luyện tập để tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học sinh. Tôi xin chân thành cảm ơn! CƠ QUAN ĐƠN VỊ TÁC GIẢ SÁNG KIẾN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Xuân Thị Nguyệt ĐỒNG TÁC GIẢ SÁNG KIẾN Phạm Thị Luận

