SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn Toán 4
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn Toán 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_nhung_bien_phap_giup_hoc_sinh_chu_dong_tiep_thu_kien_th.docx
SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Những biện pháp giúp học sinh chủ động tiếp thu kiến thức, phát triển năng lực, phẩm chất trong môn Toán 4
- 3 Điều tra quan sát, so sánh và thực nghiệm thông qua khảo sát chất lượng dự giờ. Tổ chức trao đổi với giáo viên hay đàm thoại đối với học sinh. Bước đầu tự đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm với đồng nghiệp và với chính bản thân mình. Đọc tài liệu, giáo trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu chương trình toán lớp 4, tìm ra các giải pháp giúp học sinh học tốt các dạng toán lớp 4. Trang bị thêm vốn hiểu biết của bản thân về phương pháp dạy học tích cực trong các môn học nói chung và môn Toán lớp 4 nói riêng. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt động học tập nâng cao chất lượng. Đảm bảo được kiến thức, kĩ năng, năng lực, phẩm chất nhà trường giao cho. 5. Phương pháp nghiên cứu. 1. Phương pháp vấn đáp, phản hồi. 2. Phương pháp phân tích thông tin, tài liệu. 3. Phương pháp lật lại vấn đề qua vấn đáp qua lại giữa giáo viên và HS. 4. Phương pháp tìm tòi khám phá. 5. Phương pháp khảo sát và thống kê. 6. Phương pháp tìm hiểu thực tiễn. 7. Phương pháp đàm thoại, thực nghiệm, trực quan, học nhóm và 1 số phương pháp khác.
- 4 PHẦN II. PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề có liên quan. Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh học tiếp cấp trung học cơ sở. Đối với sự nghiệp giáo dục đặc biệt phải chú ý đến giáo dục tiểu học vì tiểu học là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân nên việc chăm lo phát triển giao dục tiểu học là nên cần thiết và cấp bách. Trong các môn học trong trường tiểu học môn Toán chiếm một vị trí quan trọng đối với các em. Qua môn Toán sẽ giúp các em cách tính toán, cách tính nhẩm được trong thực tế hàng ngày. Chính vì tầm quan trọng đặc biệt của đổi mới phương pháp dạy học tôi đã chọn nghiên cứu phương pháp dạy phát huy tích cực của học sinh. Mong muốn nâng cao chất lượng môn toán lớp 4 ở bậc tiểu học để góp phần bé nhỏ của mình vào mục tiêu thực hiện tốt nâng cao chất lượng dạy-học. Toán học là một môn khoa học đòi hỏi sự chính xác cao. Đặc biệt người họ c toán cần có kĩ năng làm toán tốt thì mới đem lại kết quả cao trong học tập. Mặt k hác, học giỏi toán cũng là công cụ cần thiết để học các môn học khác cũng như nhậ n thức thế giới xung quanh và thực tiễn một cách có hiệu quả. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó là tiền đề để phát triển tư duy logic đồng thời bồi dưỡng và phát triển những thao tác mang tính trí tuệ để nh ận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp, d ự đoán, chứng minh. Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy luậ n, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, toàn diện, chính xác; nó có nhiều tác dụng trong việc phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, linh hoạt sáng tạo, góp phần gi áo dục ý chí và những đức tính tốt như cần cù, nhẫn nại của con người. Chính vì vậy, từ yêu cầu đặt ra trong công cuộc giáo dục nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng môn học, đặc biệt là môn toán.
- 5 Qua việc dạy học toán ở các trường Tiểu học, nước ta đã có một quá trình cải tiến thường xuyên liên tục và vận dụng vào từng hoàn cảnh cụ thể. Việc làm đó đã góp phần năng cao chất lượng dạy học toán ở Tiểu học. Tuy nhiên, trong thực tế ở trường Tiểu học việc đổi mới phương pháp dạy học còn gặp nhiều trở ngại, vì thế chưa đáp ứng với mục tiêu mà Đảng đề ra cho ngành Giáo dục. Chủ yếu giáo viên chỉ truyền đạt theo tài liệu có sẵn thông qua phương pháp thuyết trình hoặc vấn đáp gợi mở để truyền thụ kiến thức cho học sinh. Dẫn tới học sinh học tập một cách thụ động, không hứng thú, tích cực tự giác mà chỉ nghe giảng ghi nhớ và làm theo mẫu. Vậy chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học như thế nào? Đây là vấn đề cần phải bàn và suy nghĩ. Thực hiện chương trình thay sách đòi hỏi phải thực hiện đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học. Phương pháp dạy học tích cực trong học toán nói chung và môn toán lớp 4 nói riêng, đã được nhiều giáo viên quan tâm. Qua thực tế tìm hiểu tôi nhận thấy dạy học hướng tập trung vào học sinh trong lĩnh hội kiến thức học toán có những ưu điểm sau: + Giúp học sinh tiếp cận hay củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành một cách nhẹ nhàng tự nhiên, tạo tâm thế hào hứng khi tham gia các hoạt động học tập. + Phát huy tư duy nhanh nhạy óc sáng tạo, xử lí nhanh các tình huống khi tham hoạt động học tập. + Phát huy năng lực cá nhân, hoà nhập cộng đồng, nâng cao năng lực. Giáo dục ý thức tổ chức kỉ luật, có tính đồng đội khi tham gia trò chơi. + Học sinh chủ động tham gia các các hoạt động, tích chia sẻ, cộng tác, hợp tác tự tiếp thu lĩnh hội kiến thức. 2. Thực trạng: Chương trình môn toán lớp 4 khá phức tạp, nặng hơn so với các khối lớp khác. Nếu ví chương trình toán tiểu học là một cái thang thì chương trình môn toán 4 là một bậc thang hơi dài hơn so với các bậc thang khác. Vậy làm sao để giúp học
- 6 sinh tiếp cận, hào hứng tham gia, nắm chắc được các kiến thức toán 4, đây là một vấn đề không hề đơn giản. Muốn nâng cao chất lượng môn Toán, mỗi cán bộ giáo viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm tinh thần học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn tiếp cận với phương pháp truyền thụ mới. Trong thực tế học sinh tiểu học rất yêu thích môn Toán vậy làm thế nào để các em dễ tiếp thu bài. Tôi đã vận dụng sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng thành thạo các thiết bị dạy học, làm đồ dùng giảng dạy phục vụ cho bài giảng hấp dẫn sinh động hơn. Để đạt được kết quả tốt tôi luôn tìm tòi nghiên cứu bài dạy và tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn, đọc thêm các tài liệu tham khảo, học hỏi thêm đồng nghiệp để truyền thụ cho các em có được kiến thức vàng. 3. Đề xuất các giải pháp: a. Công tác chuẩn bị của giáo viên và học sinh. Khi tiến hành dạy từng môn, từng bài giáo viên cần nghiên cứu tài liệu, tham khảo sách giáo khoa. . . . để xác định mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ) cho đúng và phù hợp với 3 đối tượng của học sinh theo yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Lựa chọn phương pháp cách tổ chức tiến hành giờ dạy trên lớp bám sát quy trình đặc điểm của tiết dạy chuẩn bị đồ dùng thao tác thành thạo. Phân nhóm học tập (thảo luận nhóm) thay đổi thành viên trong nhóm đảm bảo các nhóm đều có cả 3 đối tượng học sinh. Cần chuẩn bị trước bài ở nhà căn cứ vào thời khoá biểu hàng ngày để các em chuẩn bị bài cho chu đáo. Hình thức chuẩn bị: Các em xem trước bài, chuẩn bị các phần chính cần thiết ghi ra giấy nháp (tất cả các học sinh đều phải chuẩn bị). Lập kế hoạch dạy học cả năm một cách cụ thể trong đó thực hiện kế hoạch rèn luyện cách tính toán giải toán cho học sinh. b. Biện pháp giảng dạy một số dạng bài trong môn toán lớp 4.
- 7 Trong công tác giảng dạy với lòng nhiệt tình, say mê nghề, sự tìm tòi phương pháp dạy học với tất cả các môn học và đặc biệt nhất là môn toán ở lớp 4 tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp dạy học để giúp học sinh chủ động, tích cực hoạt động tiếp thu kiến thức: * Tính chất cơ bản của phân số. Ví dụ: - Học sinh thảo luận câu hỏi theo phiếu học tập: PHIẾU HỌC TẬP + Em có nhận xét gì về hai băng giấy này? (bằng nhau). (Học sinh có thể chồng hai băng giấy lên nhau) + Hãy viết phân số chỉ phần tô màu của băng giấy 1, băng giấy 2. + So sánh 2 phân số. * Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4. - Học sinh trao đổi, thảo luận trong nhóm. - Giáo viên quan sát, giúp đỡ các nhóm. - Đại diện các nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- 8 Cô và trò cùng trao đổi về phân số bằng nhau Học sinh chia sẻ kết quả: - Như vậy 1 băng giấy bằng 2 băng giấy tức là 1 = 2 2 4 2 4 Từ đó học sinh biết 1 và 2 là hai phân số bằng nhau. Lúc này, ta lại đặt ra câu 2 4 hỏi: Học sinh nói: 1 x 2 = 2 ; 2 x 2 = 4 và ngược lại 2 : 2 = 1 ; 4 : 2 = 2. * Học sinh rút ra được nhận xét: Khi nhân (hay chia) cả tử số và mẫu số của một phân số với một số tự nhiên khác 0, ta được một phân số mới bằng phân số đã cho. + Cho học sinh lấy ví dụ về phân số và tự tìm phân số bằng nhau với phân số đó. * Kinh nghiệm: - Băng giấy giáo viên đưa ra có độ chính xác cao và có màu sắc đẹp.
- 9 - Gv và học sinh cùng chuẩn bị băng giấy và cho học sinh cùng làm theo các bước trên. * Rút gọn phân số và quy đồng mẫu số các phân số: - Khi dạy phần này giáo viên vận dụng dấu hiệu chia hết cho 2; 5; 3; 9 đã học để phát hiện các số chia hết cho 2; 3 hay nhiều số tự nhiên đã cho. - Khi rút gọn hay quy đồng mẫu số nhiều phân số, học sinh cần hiểu rõ thế nào là “Rút gọn phân số”, “phân số tối giản”, “Thế nào là quy đồng mẫu số và mẫu số chung của nhiều phân số”. 10 VD1: GV nêu vấn đề: Từ phân số hãy tìm phân số bằng phân số đó 15 nhưng có tử số và mẫu số nhỏ hơn. 10 = 10:5 = 2 15 15:5 3 - Cho học sinh nhận xét hai phân số 10 và 2. Phân số 10 đã rút gọn thành 15 3 15 phân số 2. Phân số 2 có còn rút gọn được nữa không? Vì sao? (Vì 2 và 3 không 3 3 cùng chia hết cho số tự nhiên nào lớn hơn 1, ta gọi 2 là phân số tối giản). 3 VD2: Quy đồng mẫu số hai phân số 1 và 2 . 3 5 GV gợi ý học sinh: Làm thế nào để tìm ra hai phân số có cùng mẫu số, trong đó một phân số bằng phân số 1 và một phân số bằng phân số 2. 3 5 - Dựa vào cách tìm phân số bằng nhau em hãy tìm hai phân số có chung mẫu số mà có một phân số bằng với phân số 1 và một phân số bằng với phân số 2 . 3 5 - Học sinh trao đổi với bạn để thấy được phải nhân cả tử số và mẫu số của phân số này với mẫu số của phân số kia.
- 10 1 = 1×5 = 5 ; 2 = 2×3 = 6 ; ( Hai phân số đều có mẫu số là 15) 3 3×5 15 5 5×3 15 * Kinh nghiệm : - GV giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề. GV tạo điều kiện cho học sinh trao đổi ý kiến với bạn. * So sánh phân số. Trường hợp 1: So sánh hai phân số cùng mẫu số. - Phương pháp hình ảnh trực quan (dùng đoạn thẳng hay hình tròn để diễn tả hai phân số) - Cho đoạn thẳng AB, chia đoạn thẳng AB thành 5 phần bằng nhau. 2 - Học sinh quan sát nhận xét độ dài đoạn thẳng AC bằng độ dài đoạn 5 3 thẳng AB. Độ dài đoạn thẳng AD bằng độ dài đoạn thắng AB. Cho học sinh so 5 sánh độ dài đoạn thẳng AC và độ dài đoạn thẳng AD. - Từ đó nhận biết được 2 2 5 5 5 5 -Học sinh nhận xét mẫu số đó để nêu được cách so sánh hai phân số cùng mẫu số. Trường hợp 2: So sánh hai phân số khác mẫu số. - GV giúp học sinh tự phát hiện ra vấn đề của bài học. VD: So sánh hai phân số 2 và 3 3 4 GV gợi ý: Khi so sánh hai phân số có thể xảy ra 1 trong 3 trường hợp: + Hai phân số đó bằng nhau. + Phân số này bé hơn phân số kia. + Phân số này lớn hơn phân số kia.
- 11 2 3 GV cho học sinh nhận xét đặc điểm của hai phân số và để học sinh nhận 3 4 ra đó là hai phân số khác mẫu số, học sinh có thể trao đổi nhóm để giải quyết vấn đề. - Học sinh có thể dùng hình ảnh trực quan để so sánh hai phân số 2 và 3. 3 4 - Học sinh thấy được 2 băng giấy ngắn hơn 3 băng giấy. 3 4 - Hoặc học sinh có thể quy đồng mẫu số hai phân số 2 và 3. Rồi so sánh 2 3 4 phân số có cùng mẫu số. - Giáo viên nên gợi ý cách dùng kiến thức đã học để giải quyết bài toán không nên sử dụng mô hình sẽ gây khó khăn khi ta phải giải quyết nhiều bài toán khác nhau dạng như trên. * Kinh nghiệm : - GV nên đặt câu hỏi để học sinh tự tư duy giải quyết vấn đề và học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết vấn đề nêu ra. HS biết lựa chọn phương pháp hợp lí. * Dạy cộng hai phân số: - Cộng hai phân số cùng mẫu số: + VD : 3 + 2 = ? 8 8 Về kĩ thuật làm như sau: Tường minh phân số 3 và 2 trên đồ vật (băng giấy) 8 8 3 2 8 8 + Dựa vào mô hình băng giấy thực hiện cộng hai phân số có cùng mẫu số.
- 12 3 + 2 = 3+2 = 5 8 8 8 8 + Rút ra qui tắc cộng hai phân số có cùng mẫu số. Kết luận: Nêu được cách cộng hai phân số có mẫu số bằng nhau bằng cách lấy tử số cộng với nhau và giữ nguyên mẫu số. - Khi dạy thực hành luyện tập GV cần lưu ý giúp mọi học sinh đều tham gia vào hoạt động thực hành, luyện tập theo khả năng của mình, bằng cách: - Cho các em làm các bài theo thứ tự trong sách giáo khoa, không bỏ bài nào, kể cả bài dễ, bài khó. - Không bắt học sinh chờ đợi nhau trong khi làm bài. Làm xong chuyển sang bài tiếp theo. - Học sinh này có thể làm nhiều bài hơn học sinh khác. - Ví dụ: Khi dạy bài Ví dụ trong bài: “Phép cộng phân số ” (tiếp theo). 1 1 Bài toán: “Có một băng giấp màu, bạn Hà lấy băng giấy, Bạn An lấy 2 3 băng giấy. Hỏi cả 2 bạn lấy bao nhiêu phấn băng giấy màu? ” (Toán 4 trang 127). * Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 4. - Học sinh trao đổi, thảo luận trong nhóm. - Giáo viên quan sát, giúp đỡ các nhóm. - Đại diện các nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
- 13 Học sinh chia sẻ kiến thức bài học Sau khi học xong học sinh biết cách cộng hai phân số khác mẫu số và rèn luyện kỹ năng tính toán cho học sinh. Học sinh nêu được như sau: + Muốn tìm số phần băng giấy của 2 bạn Hà và An đã lấy, cần thực hiện 1 1 phép cộng: + . 2 3 Như vậy, việc yêu cầu học sinh tính tổng hai phân số khác mẫu số là một tình huống gợi vấn đề, là một yêu cầu nhận thức mà học sinh chưa thể giải quyết được bằng vốn kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình (học sinh chỉ mới biết tính tổng hai phân số có cùng mẫu số). Tuy nhiên nếu học sinh chịu khó suy nghĩ hoặc được giáo viên hướng dẫn tìm cách biến đổi để đưa hai phân số đã cho thành hai phân số có cùng mẫu số (Quy đồng mẫu số) thì học sinh có thể giải quyết vấn đề kết hợp với phương pháp dạy học vấn đáp để tổ chức hoạt động dạy học hình thành phép cộng 2 phân số khác mẫu số. 3.2. Dạy phép nhân, phép chia phân số

