SKKN Nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập trong môn Địa lí thông qua một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở trường THPT

doc 38 trang Chăm Nguyễn 27/11/2025 70
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập trong môn Địa lí thông qua một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở trường THPT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_nang_cao_hieu_qua_day_tiet_on_tap_trong_mon_dia_li_thon.doc
  • docBìa.doc
  • docxDanh mục chữ viết tắt.docx
  • docxMục lục.docx
  • docxTài liệu tham khảo.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập trong môn Địa lí thông qua một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở trường THPT

  1. - Cách 1: Giáo viên sẽ lần lượt thống kê lại các nội dung chính theo từng bài dưới dạng đề mục hoặc dưới dạng câu hỏi ngay tại lớp. Học sinh ghi chép lại các nội dung này theo sự hướng dẫn của giáo viên. - Cách 2: Giáo viên sẽ chuẩn bị hệ thống câu hỏi ôn tập và giao cho học sinh tự làm đề cương ở nhà theo hệ thống câu hỏi ôn tập. Đến tiết ôn tập giáo viên sẽ kiểm tra kết quả làm đề cương của học sinh. Sau đó giáo viên và học sinh sẽ thảo luận các câu hỏi, các nội dung mà học sinh chưa làm được. b. Ưu điểm: - Dạy tiết ôn tập dạy theo phương pháp cũ giáo viên có thể truyền thụ, ôn tập lại kiến thức đã học cho học sinh một cách khoa học và hệ thống. - Học sinh có thể vận dụng lí thuyết để làm các câu hỏi và bài tập trong đề cương của giáo viên. c. Tồn tại: - Tiết ôn tập trong chương trình Địa lí phổ thông là dạng bài khái quát, hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức các bài đã học ở các tiết trước. Do khối lượng kiến thức nhiều nên học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc phải ghi nhớ toàn bộ kiến thức các bài. Học sinh thường không học hết được khối lượng kiến thức cần thiết. - Trong các tiết ôn tập Địa lí, học sinh thiếu sự năng động, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo. Vì tiết ôn tập là tiết nhắc lại, củng cố lại các nội dung đã học nên khi giáo viên thuyết giảng rất dễ rơi vào tình trạng “biết rồi nói mãi”, học sinh rất dễ nhàm chán, hứng thú học tập của học sinh với bộ môn Địa lí không cao, thậm chí nhiều học sinh cảm thấy căng thẳng mệt mỏi với tiết ôn tập. - Giờ dạy đơn điệu, buồn tẻ. - Việc kiểm tra tình hình học tập của học sinh chủ yếu dựa vào khả năng tái hiện tri thức thông qua các câu hỏi vấn – đáp mà ít quan tâm đến các kĩ năng, năng lực khác như năng lực hợp tác, quản lí, khả năng giao tiếp, giải quyết vấn đề vì vậy sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và thiếu sự năng động. d. Vấn đề cần khắc phục: - Vấn đề 1: Giáo viên cần lựa chọn kiến thức, cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức đầy đủ nhưng phải cơ bản, dễ hiểu giúp cho quá trình ghi nhớ kiến thức của học sinh thuận lợi. - Vấn đề 2: Giáo viên cần tạo động lực, tạo niềm say mê học tập cho học sinh, giáo viên cần làm cho không khí lớp học trở nên sôi nổi. Đồng thời giúp học sinh phát huy tính tự giác, chủ động, sáng tạo trong các tiết ôn tập Địa lí. Làm sao để mỗi tiết địa lý là một tiết học vui vẻ, bổ ích với các em. Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của học sinh. Học sinh có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạt 3
  2. kết quả cao được. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải thay đổi phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học để thức tỉnh niềm đam mê học tập địa lí trong mỗi học sinh. 2. Giải pháp mới. a. Mô tả bản chất của biện pháp mới. Đứng trước 2 vấn đề tồn tại cần khắc phục như đã nêu ở trên chúng tôi xin đề xuất biện pháp “Nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập trong môn Địa lí thông qua một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở trường THPT”. Cụ thể khi dạy tiết ôn tập này chúng tôi đã áp dụng kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy và phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo thông qua trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia”. - Để giải quyết vấn đề 1 chúng tôi chọn kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy Địa lí. - Để giải quyết vấn đề 2 chúng tôi đã tổ chức cho học sinh trải nghiệm sáng tạo thông qua trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia”. * Kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy: - Sơ đồ tư duy là một phương pháp lưu trữ, sắp xếp thông tin và xác định thông tin theo thứ tự ưu tiên bằng cách sử dụng từ khoá, hình ảnh chủ đạo. Mỗi từ khoá hoặc hình ảnh chủ đạo trong sơ đồ tư duy sẽ kích hoạt những ký ức cụ thể và làm nảy sinh những suy nghĩ, ý tưởng mới. Đây được xem như một hình thức để ghi nhớ chi tiết, tổng hợp, phân tích vấn đề nào đó thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Đây là một kĩ thuật giúp nâng cao cách ghi chép bằng cách sử dụng giản đồ để thể hiện tổng thể vấn đề, trong đó các đối tượng liên hệ với nhau bằng những đường nối, qua đó giúp dữ liệu được dễ dàng ghi nhớ hơn và nhanh chóng hơn. - Sơ đồ tư duy sẽ được chúng tôi thực hiện ở đầu tiết ôn tập với mục đích giúp học nắm được các kiến thức trọng tâm của từng bài, thông qua sơ đồ tư duy học sinh cũng có thể tìm ra được mối liên hệ giữa các thành phần, hiện tượng qua các bài đã học một cách dễ dàng và đơn giản nhất. Tuy nhiên ở đây chúng tôi nhận thấy, trong chương trình giáo dục địa lí THPT không có tiết nào dành cho việc giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tư duy kiến thức. Vậy nên ở đây chúng tôi đưa ra hướng là yêu cầu học sinh hoàn thiện sơ đồ tư duy mà chúng tôi đưa ra dựa trên các từ khóa gợi ý có sẵn ở một số nhánh kiến thức. Chúng tôi lựa chọn cách phát sơ đồ tư duy cho mỗi học sinh từ tiết trước và yêu cầu các em về nhà tự hoàn thiện, đến tiết ôn tập sẽ trình bày sản phẩm mà mình đã làm. - Để thực hiện hoạt động này giáo viên và học sinh đều phải có sự chuẩn bị như sau: + Giáo viên: sơ đồ tư duy gợi mở để phát cho học sinh tự làm ở nhà trước tiết ôn tập, sơ đồ tư duy hoàn chỉnh để đối chứng với phần sản phẩm tự làm của học sinh. + Học sinh: cần làm trước sơ đồ tư duy gợi mở mà cô giáo đã phát. - Tiến trình dạy - học diễn ra như sau: + Bước 1: Giáo viên kiểm tra việc hoàn thiện sơ đồ tư duy của học sinh ở nhà. 4
  3. + Bước 2: Yêu cầu một học sinh báo cáo sản phẩm của mình trước lớp. Học sinh khác lắng nghe. + Bước 3: Học sinh khác nhận xét, bổ sung. + Bước 4: Giáo viên đưa sơ đồ tư duy hoàn chỉnh của mình để học sinh đối chiếu và tự sửa chữa vào sơ đồ tư duy của mình. * Dạy học trải nghiệm sáng tạo thông qua trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia”. - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một bộ phận của chương trình giáo dục phổ thông mới. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong các trường phổ thông được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó có trò chơi học tập. Trò chơi học tập được hiểu là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiêu một vấn đề hay trải nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò chơi nào đó. Đây là loại trò chơi sử dụng để tìm hiểu, củng cố, mở rộng, kiểm tra kiến thức của học sinh. Có rất nhiều trò chơi học tập cho học sinh như: ai nhanh hơn, rung chuông vàng, lật mảnh ghép .giáo viên có thể lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung và mục đích ôn tập của mình. Trong biện pháp nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập của chúng tôi, chúng tôi chọn trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia”. Trò chơi học tập này được mô phỏng theo một gameshow truyền hình cùng tên rất nổi tiếng của đài truyền hình VTV3 Việt Nam. Tất nhiên đây là trò chơi áp dụng trong học tập nên đã được thay đổi để phù hợp với mục đích học tập. - Trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia” trong tiết ôn tập Địa lí được chia ra làm 3 vòng: vòng 1 khởi động, vòng 2 tăng tốc, vòng 3 về đích. 3 vòng này gồm 3 trò chơi nhỏ khác nhau. - Để thực hiện hoạt động này giáo viên và học sinh đều phải có sự chuẩn bị như sau: + Giáo viên: hệ thống câu hỏi của trò chơi, bài giảng powerpoint của tiết ôn tập. + Học sinh: ôn tập lại kiến thức các bài theo sự hướng dẫn của giáo viên. - Tiến trình dạy - học diễn ra như sau: + Bước 1: Giáo viên phổ biến luật chơi và phân chia nhóm, cử nhóm trưởng. + Bước 2: Học sinh tham gia các vòng thi. Giáo viên quan sát, điều chỉnh, hỗ trợ các đội. + Bước 3: Giáo viên tổng kết điểm các đội chơi. + Bước 4: Giáo viên nhận xét, rút kinh nghiệm cho các đội chơi. b. Mô tả minh chứng sử dụng biện pháp mới “Nâng cao hiệu quả dạy tiết ôn tập trong môn địa lí thông qua một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở trường THPT” : Chúng tôi đã tiến hành dạy theo biện pháp này trong tiết ôn tập học kì I Địa lí lớp 12. (Phụ lục 1) c. Tính mới tính sáng tạo của giải pháp 5
  4. Đặc điểm Dạy tiết ôn tập theo biện pháp cũ Dạy tiết ôn tập theo biện pháp mới Kế hoạch - Giáo viên : - Giáo viên: và tài liệu + Hệ thống câu hỏi đề cương và đáp + Sơ đồ tư duy gợi mở và sơ đồ tư duy dạy – học án. hoàn chỉnh. + Giáo án, SGK + Giáo án, SGK, các học liệu cần thiết (bảng phụ học tập các nhóm, một số hình ảnh, hệ thống câu hỏi trò chơi ..) + Chia nhóm học sinh. - Học sinh: - Học sinh: + Làm hệ thống câu hỏi đề cương + Hoàn thiện sơ đồ tư duy theo sự theo sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn của giáo viên. + SGK, vở ghi, bút viết. + SGK, vở ghi, bút viết. + Thực hiện nhiệm vụ do nhóm trưởng phân công. + Kê bàn ghế thành 4 nhóm. Tổ chức - Trong tiết ôn tập giáo viên hướng - Trong tiết ôn tập: hoạt động dẫn học sinh chữa các câu hỏi và + Đầu tiết ôn tập giáo viên chữa phần dạy – học bài tập trong đề cương. bài tập về sơ đồ kiến thức cho học sinh. + Tiếp theo giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi “Đường lên đỉnh Olympia”. - Giáo viên chủ yếu sử dụng - Sử dụng phương pháp và kĩ thuật phương pháp truyền thống: vấn – dạy –học tiến bộ: đáp, thuyết trình. + Kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy + Phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo thông qua việc tổ chức trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia”. Hoạt động dạy – học đơn điệu. Hoạt động dạy – học đa dạng, sử dụng linh hoạt nhiều kĩ thuật, phương pháp. - Giáo viên đóng vai trò “trung - Giáo viên chỉ là người tổ chức, tâm” trong quá trình dạy – học. quan sát, phát hiện kịp thời những khó khăn của học sinh để giúp đỡ. học sinh chủ động tham gia các hoạt 6
  5. động học tập. Học sinh đóng vai trò “trung tâm” trong quá trình dạy - học - Học sinh hoạt động cá nhân/ cả - Học sinh có nhiều hoạt động: cá lớp là chủ yếu. nhân/ cả lớp, theo nhóm, theo cặp. - Ít sử dụng công nghệ thông tin - Tăng cường ứng dụng công nghệ trong dạy – học. thông tin vào dạy học. - Giờ dạy đơn điệu, buồn tẻ, không - Không khí lớp học nhẹ nhàng, vui vẻ, gây hứng thú cho học sinh. học sinh hứng thú, phấn khởi. Tăng cường tính đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong lớp. Sản phẩm - Về kiến thức : - Về kiến thức : giáo dục + Học sinh tiếp thu được kiến thức + Học tập bằng sơ đồ tư duy giúp: một cách đầy đủ, hệ thống. ❖ Học sinh tiếp thu được kiến thức đầy đủ, hệ thống theo cách đơn giản, dễ hiểu nên ghi nhớ tốt hơn, giúp nhớ lâu, nhớ sâu. + Học sinh rất khó nhìn thấy mối ❖ Học sinh nhìn thấy bức tranh quan hệ giữa các nội dung. tổng thể, thấy được mối quan hệ giữa các nội dung, các bài đã học. + Học sinh mất nhiều thời gian ghi ❖ Học sinh tiết kiệm được thời chép. gian ghi chép, tăng sự linh hoạt trong việc học. ❖ Ngoài phát huy năng lực tư + Học sinh chỉ phát huy được năng duy logic và phân tích, còn phát triển lực tư duy logic và phân tích. năng lực tư duy tưởng tượng về không gian về cấu trúc. + Thông qua trò chơi học sinh tiếp thu, củng cố lại kiến thức một cách tự nhiên, sâu sắc nhất. - Về kĩ năng, năng lực và phẩm - Về kĩ năng, năng lực và phẩm chất: chất: + Người học có phần thụ động, ít + Học sinh tích cực, chủ động, sáng phản biện, thiếu sự năng động, sáng tạo, hợp tác trong thực hiện các nhiệm tạo. vụ học tập. + Ít/ khó hình thành những kĩ năng + Hình thành cho học sinh các năng và định hướng năng lực cho học lực cần thiết cho cuộc sống như năng 7
  6. sinh lực hợp tác, quản lí, khả năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, + Học sinh phát huy được sự tự tin, mạnh dạn. Như vậy, dạy tiết ôn tập theo cách này sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện về: Đức, trí, thể, mĩ. Vì vậy sản phẩm giáo dục là những con người tự tin năng động, có khả năng sáng tạo cao. III. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC 1. Hiệu quả kinh tế Đây là sáng kiến kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục, sản phẩm là tri thức của con người nên rất khó để xác định số tiền làm lợi bằng Việt Nam đồng. 2. Hiệu quả xã hội a. Đối với lớp: - Khi bắt đầu dạy thử chúng tôi thấy so với các tiết học trước thì học sinh hăng hái, sôi nổi hơn. Lớp học của chúng tôi thoải mái hơn. Thời gian của tiết học trôi qua rất nhanh. - Sử dụng các trò chơi trong dạy học Địa lý không chỉ giúp học sinh thoải mái, vui vẻ trong tiết học mà còn tạo nên sự gắn bó thân thiết giữa các thành viên trong lớp thông qua hoạt động hợp tác. Qua tiết ôn tập chúng tôi thấy học sinh cởi mở với nhau hơn, sự đoàn kết giữa các em học sinh trong lớp học tăng lên. b. Đối với học sinh: Trong tiết ôn tập này, đặc biệt là khi học sinh tham gia vào trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia” chúng tôi nhận thấy học sinh đã phát huy được nhiều năng lực như tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực tự giải quyết vấn đề, năng lực quan sát, phân tích...Vì vậy học sinh phát triển toàn diện hơn. * Kết quả định tính (thang đo thái độ/cảm xúc) Trước hết chúng tôi đã dùng phiếu điều tra để đánh giá thái độ/ cảm xúc với tiết học và môn học. Kết quả như sau: - Phiếu điều tra thái độ/cảm xúc ở lớp 12b10 trước và sau thực nghiệm Trước thực nghiệm Sau thực nghiệm Thái độ Số học sinh Tỉ lệ (%) Số học sinh Tỉ lệ (%) Rất thích 6 16,7 15 41,7 8
  7. Thích 8 22,2 17 47,2 Bình thường 16 44,4 4 11,1 Căng thẳng, mệt mỏi 6 16,7 0 0.0 Tổng 36 100 36 100 Kết quả trên cho thấy sau khi tổ chức dạy thực nghiệm, số lượng học sinh yêu thích môn Địa lý tăng lên đáng kể. Học sinh có thái độ bình thường với môn học giảm mạnh. Đặc biệt học sinh cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi sau thực nghiệm đã không còn. - Phiếu điều tra thái độ/ cảm xúc của học sinh sau thực nghiệm ở lớp 12B10 (lớp thực nghiệm) và ở lớp 12B7 (lớp đối chứng) Lớp thực nghiệm (12B10) Lớp đối chứng (12B7) Thái độ Số học sinh Tỉ lệ (%) Số học sinh Tỉ lệ (%) Rất thích 15 41,7 5 15,6 Thích 17 47,2 8 25.0 Bình thường 4 11,1 14 43,8 Căng thẳng, mệt mỏi 0 0.0 5 15,6 Tổng 36 100 32 100 Qua bảng số liệu trên cho thấy với sĩ số gần tương đương nhau, thái độ, tình cảm của học sinh ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng đối với môn Địa lý có sự khác biệt. Ở lớp thực nghiệm (12B10): Sau khi học xong tiết ôn tập, học sinh thích và rất thích môn Địa chiếm tỉ lệ rất cao. Học sinh có thái độ bình thường với môn địa lí chỉ có 4 em chiếm 11,1 %. Trong khi đó ở lớp đối chứng 12B7 tỉ lệ học sinh thích và rất thích môn địa thấp hơn nhiều so với lớp 12b10. Tỉ lệ học sinh có thái độ bình thường với môn địa lí lại cao hơn rất nhiều so với lớp 12B10 lên tới 14 em chiếm 43,8 %. Đặc biệt ở lớp 12B7 vẫn còn 5 học sinh ( chiếm 15,6% ) cảm thấy căng thẳng mệt mỏi với môn địa lí. Từ việc phân tích số liệu ta thấy ở các lớp ta thấy các em rất hứng thú, mong đợi những giờ học Địa lý như thế này. * Kết quả định lượng Lớp 12B7(đối chứng) và 12B1011B9 (thực nghiệm) là các lớp được chúng tôi lựa chọn nghiên cứu có chất lượng tương đương nhau. Sau khi thực hiện xong tiết ôn tập ở 2 lớp chúng tôi tiến hành cho HS các lớp làm bài kiểm tra học kì I. Sau khi chấm bài kiểm tra học 9
  8. kì I xong, chúng tôi nhận thấy kết quả của lớp thực nghiệm là 12B10 cao hơn hẳn so với lớp đối chứng 12B7. Kết quả cụ thể như sau: Sĩ số Điểm trung Điểm giỏi Điểm khá Điểm yếu bình ( 9-10) ( 7-8) ( dưới 5) Lớp ( 5-6) Số Tỉ lệ Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số HS HS (%) (%) HS (%) HS (%) 12B7 32 4 12,5 16 50 9 28,1 3 9,4 12B10 36 11 30,6 22 61,1 3 8,3 0 0 Qua số liệu trên ta thấy sau khi dạy thực nghiệm ở lớp 12B10, kết quả học tập của học sinh đã thay đổi theo hướng tích cực. Tỉ lệ học sinh khá, giỏi ở lớp thực nghiệm (12B10) cao hơn rất nhiều so với lớp đối chứng 12B7. Tỉ lệ học sinh trung bình ít hơn và đặc biệt ở lớp 12B10 bài kiểm tra học kì 1 không còn điểm yếu. Như vậy cho thấy hiệu quả học tập của lớp 12b10 đã được nâng cao đáng kể. c. Đối với giáo viên: - Giáo viên sẽ nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, đáp ứng được những yêu cầu để thực hiện chương tình giáo dục tổng thể 2018. - Giáo viên chỉ mất thời gian công sức để thiết kế sơ đồ tư duy và soạn giáo án powpoint trong lần đầu còn các lần sau khi giáo viên chỉ cần chỉnh sửa bổ sung trên cơ sở giáo án đã có. - Sau khi dạy thực nghiệm tiết ôn tập bằng biện pháp này chúng tôi thấy thêm yêu nghề hơn, yêu học sinh của mình hơn và thấy được tình yêu của học sinh dành cho môn Địa Lý và cho bản thân chúng tôi. Từ đó chúng tôi thấy mình gần gũi hơn với các em hơn không chỉ trong học tập mà trong cuộc sống rất nhiều học sinh đã mạnh dạn chia sẻ cuộc sống riêng tư với chúng tôi. - Ngoài ra chúng tôi cũng thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm sử dụng trò chơi trong dạy học của bản thân cho các đồng nghiệp và học hỏi được rất nhiều điều từ các đồng nghiệp khác để hoàn thiện bài dạy của mình. Vì thế mối quan hệ giữa các thày cô ngày càng gắn bó hơn. IV. ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 1. Điều kiện áp dụng. - Người giáo viên vững vàng về chuyên môn. - Học sinh cần có sự chuẩn bị chu đáo, cần hăng hái, tích cực thì tiết học mới đem lại hiệu quả hữu hiệu. 10
  9. - Nếu lớp học hoặc nhà trường có phòng máy chiếu thì tiết học đạt hiệu quả cao hơn, tuy nhiên với những trường, lớp không có máy chiếu thì giáo viên vẫn áp dụng được. Khi đó để tổ chức trò chơi “Đường lên đỉnh Olympia”, giáo viên sẽ ghi các gói câu hỏi ra giấy cho các đội bốc thăm ngẫu nhiên. * Hạn chế: Việc sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy trong tiết ôn tập chỉ áp dụng được với các tiết ôn tập mà nội dung các bài đã học có liên quan với nhau. Những tiết ôn tập các bài có nội dung riêng biệt thì không áp dụng được. 2. Khả năng áp dụng. - Biện pháp này áp dụng được với các tiết ôn tập Địa lí mà nội dung các bài đã học có liên quan với nhau. Theo chúng tôi nghĩ, với các cấp học khác, các môn học khác, nếu bài ôn tập gồm các bài có nội dung liên quan với nhau, có thể sử dụng sơ đồ tư duy để khái quát hóa kiến thức thì đều áp dụng được. Trong trường hợp tiết ôn tập gồm các bài có nội dung riêng biệt thì vẫn có thể áp dụng phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo thông qua tổ chức trò chơi “ Đường lên đỉnh Olympia”. - Như đã phân tích ở phần điều kiện áp dụng, dù trường không có phòng máy chiếu thì giáo viên vẫn có thể áp dụng được, do vậy chúng tôi thiết nghĩ tất cả các trường đều có thể triển khai, áp dụng kể cả ở thành phố hay nông thôn, đồng bằng hay miền núi. Chúng tôi cam kết biện pháp này lần đầu được dùng để đăng ký tham dự Hội thi và chưa được dùng để xét duyệt thành tích khen thưởng cá nhân chúng tôi trước đây. Ninh Bình, ngày 8 tháng 4 năm 2021 XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ Nhóm thực hiện sáng kiến CƠ SỞ Trần Thanh Hải Lê Thị Duyến Lê Thị Kim Dung 11
  10. PHỤ LỤC 1 Giáo án tiết ôn tập học kì I địa lí tự nhiên 12 THPT ÔN TẬP HỌC KÌ I – ĐỊA LÍ 12 I. MỤC TIÊU BÀI HỌC Sau tiết học, yêu cầu học sinh cần đạt được. 1. Về kiến thức Củng cố kiến thức đã trong học kì 1 địa lí lớp 12 THPT. Cụ thể: - Trình bày được vị trí địa lí, giới hạn, phạm vi lãnh thổ nước ta. - Phân tích được ảnh hưởng của vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ đối với tự nhiên, kinh tế- xã hội và quốc phòng. - Trình bày được đặc điểm chung của địa hình Việt Nam. - So sánh được sự khác nhau cơ bản của 4 khu vực đồi núi. - Trình bày được đặc điểm nổi bật của các khu vực đồng bằng. - So sánh được đặc điểm của các đồng bằng. - Trình bày được các đặc điểm tự nhiên cơ bản của Biển Đông. - Đánh giá được ảnh hưởng của Biển Đông đối với thiên nhiên Việt Nam. - Trình bày được đặc điểm khí hậu nước ta và giải thích nguyên nhân hình. - Trình bày và giải thích được biểu hiện của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa qua các thành phần tự nhiên như: địa hình, sông ngòi, đất, sinh vật. - Trình bày những thuận lợi và khó khăn của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa đối với sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp; đề xuất ra giải pháp thích hợp để khắc phục. - So sánh và giải thích được sự khác nhau về khí hậu và thiên nhiên phần phía Bắc và phía Nam lãnh thổ. - Trình bày và giải thích được sự phân hoá thiên nhiên từ Đông sang Tây theo 3 vùng: vùng biển và thềm lục địa, vùng đồng bằng ven biển và vùng đồi núi. - Trình bày được đặc điểm 3 đai cao. - So sánh đặc điểm tự nhiên của 3 miền địa lí và đánh giá được những thuận lợi và khó khăn của từng miền trong sử dụng tự nhiên. - Trình bày và giải thích được sự suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh vật và tài nguyên đất ở nước ta. - Nêu được các biện pháp của nhà nước nhằm bảo vệ tài nguyên rừng và tài nguyên sinh vật và các biện pháp bảo vệ tài nguyên đất. - Biết được hai vấn đề quan trọng nhất trong bảo vệ môi trường ở nước ta. - Trình bày được hoạt động của một số thiên tai ở nước ta và các biện pháp phòng chống. - Nêu các nhiệm vụ chủ yếu của Chiến lược quốc gia về bảo vệ tài nguyên môi trường. 2. Về kỹ năng 12
  11. - Biết cách hệ thống hóa các kiến thức đã học ở học kì I địa lí 12 THPT thông qua sơ đồ tư duy địa lí. Rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ tư duy địa lí - Thiết lập mối quan hệ kiến thức giữa các phần đã học của chủ đề Địa lí tự nhiên Việt Nam. - Rèn kĩ năng khai thác Atlat để trả lời câu hỏi trắc nghiệm và kĩ năng nhận xét bảng số liệu, nhận xét biểu đồ. 3. Về thái độ - Hình thành tư duy lãnh thổ, hiểu được mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa các thành phần tự nhiên, từ đó vận dụng được kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống. - Phát huy phẩm chất yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên, làm tốt công tác tuyên truyền về việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. - Bồi dưỡng niềm đam mê học tập môn Địa lí cho học sinh. 4. Về định hướng năng lực cần đạt * Năng lực chung: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tổ chức * Năng lực chuyên biệt: - Hình thành năng lực học tập với sơ đồ tư duy - Phát triển năng lực tư duy lãnh thổ. - Sử dụng khai thác kiến thức từ Atlat Địa lí tự nhiên Việt Nam, từ tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, bảng số liệu. II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 1. Chuẩn bị của giáo viên: + Chuẩn bị hệ thống câu hỏi và soạn giáo án trên phần mềm powerpoint ( phụ lục 2) + Sơ đồ tư duy địa lí gợi mở và sơ đồ tư duy địa lí hoàn thiện ( Phụ lục 3) + Máy chiếu + Dự kiến thời gian, địa điểm tổ chức. + Chia nhóm học sinh và giao nhiệm vụ cho các nhóm 2. Chuẩn bị của học sinh: + Hoàn thiện sơ đồ tư duy Địa lí. + Tập Atlat Địa lý Việt Nam, SGK, vở ghi, bút viết. + Kê bàn ghế thành 4 nhóm. + Thực hiện các nhiệm vụ do nhóm trưởng phân công. III. TIẾN TRÌNH BÀI HỌC HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG ( 5 phút) 1. Mục tiêu: - Giúp học sinh ghi nhớ lại những nội dung đã học trong học kì I địa lí 12 THPT. - Rèn luyện kĩ năng tư duy nhanh, xử lí thông tin nhanh 13