SKKN Một vài kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 cho học sinh Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc

docx 46 trang Chăm Nguyễn 27/11/2025 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một vài kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 cho học sinh Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_vai_kinh_nghiem_nham_nang_cao_hieu_qua_su_dung_so_d.docx
  • docBìa.doc
  • pdfBìa.pdf
  • pdfSKKN Một vài kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các tác phẩ.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một vài kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 cho học sinh Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc

  1. DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung BT THPT Bổ túc trung học phổ thông CNTT Công nghệ thông tin GDNN-GDTX Giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên GDTX Giáo dục thường xuyên GV Giáo viên HS Học sinh PPDH Phương pháp dạy học SĐTD Sơ đồ tư duy SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông THPTQG Trung học phổ thông quốc gia 1
  2. BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sơ đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (thế kỷ 20) bởi Tony Buzan, giúp ghi lại bài giảng mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh. Cách ghi chép này nhanh, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn. Phương pháp này khai thác khả năng ghi nhớ và liên hệ các dữ kiện lại với nhau bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ các quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu. Với một sơ đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ. Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chế hoạt động tự nhiên của não chúng ta. Việc nhớ và gợi lại thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kỹ thuật ghi chép truyền thống. Vì những ưu điểm ấy, sơ đồ tư duy được ứng dụng nhiều trong dạy học, đặc biệt là trong môn Ngữ Văn. Nhắc đến bộ môn Ngữ Văn, phân môn chiếm số tiết nhiều nhất là phân môn Văn học. Trong chương trình Ngữ Văn THPT lớp 12, phân môn Văn học chủ yếu chia thành hai phần: thơ và văn xuôi. Trong đó, theo đánh giá của bản thân, tôi cho rằng phần văn xuôi gây ra nhiều trở ngại hơn cho học sinh Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc bởi hệ thống kiến thức khá dài và khó ghi nhớ. Hơn nữa, một đặc trưng riêng biệt của học sinh ở các Trung tâm GDNN – GDTX là khả năng ghi nhớ kiến thức kém. Bởi vậy, nếu người giáo viên hệ thống hóa kiến thức qua sơ đồ tư duy sẽ giúp các em dễ thuộc, dễ nhớ, dễ hiểu. Vì vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy là vô cùng cần thiết. Sơ đồ tư duy, với những ưu điểm của nó, sẽ giúp học sinh nắm bắt nhanh và nhớ lâu những hệ thống kiến thức cơ bản của tác phẩm phục vụ cho kỳ thi THPTQG 2019. II. TÊN SÁNG KIẾN “Một vài kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học các tác phẩm văn xuôi trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 cho học sinh Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc”. 2
  3. III. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN - Họ và tên: Đường Thị Huệ - Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc - Số điện thoại: 0915 257 427. Email: [email protected] IV. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN Tác giả sáng kiến đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến V. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Sáng kiến được áp dụng trong dạy học nội khóa phần các tác phẩm văn xuôi lớp 12 chương trình BT THPT, có thể áp dụng mở rộng đối với dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung. Với việc thực hiện đề tài này tôi tham vọng sẽ: - Tự tạo ra hững thú và đam mê cho bản thân trong quá trình dạy học. - Tạo ra hứng thú cho học sinh trong những tiết học văn bản văn xuôi. - Học sinh sẽ nắm bắt được hệ thống kiến thức cơ bản cần thiết phục vụ cho kỳ thi THPTQG sắp tới. VI. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC ÁP DỤNG THỬ Sáng kiến được áp dụng lần đầu trong học kì I, năm học 2017 – 2018 khi tôi được phân công giảng dạy Ngữ văn khối 12, cụ thể bắt đầu từ ngày 25/09/2017. VII. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái quát về sơ đồ tư duy Sơ đồ tư duy (mindmap) là một phương pháp được sử dụng để phát huy tối đa khả năng của bộ não con người trong việc ghi nhớ các hình ảnh, chi tiết, để liên hệ các nội dung của một vấn đề nào đó theo một hệ thống rành mạch. Các nội dung của vấn đề được liên kết với nhau bằng một đường nối để làm cho các dữ kiện của một nội dung cần nhớ, phân tích sẽ được nhìn nhận dễ dàng, nhanh chóng và chính xác hơn. 3
  4. Ngày nay, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy đã trở nên rất phổ biến trên toàn thế giới, thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, được ứng dụng rộng rãi chứ không chỉ trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay, nó được hơn 250 triệu người trên thế giới sử dụng, được xem là “công cụ vạn năng cho bộ não”. Cấu tạo của một sơ đồ tư duy thường bao gồm: - Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề. - Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ đề. - Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính. - Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức nào đó. Các bước thiết kế một SĐTD: Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy..., hay trên phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây: Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được) Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ đề, thì ta đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm. Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới liên kết chặt chẽ. Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo tác động trực quan, dễ nhớ. *Lưu ý: - Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh con. 4
  5. - Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn. - Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn. - Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ. - Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn. - Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề. - Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp. - Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu... - Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài. - Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình Sau đây, chúng tôi sẽ áp dụng sơ đồ tư duy để chỉ ra các ứng dụng cơ bản của nó mà ngày nay nhiều người trên thế giới thường hay ứng dụng: Chúng tôi cũng trình bày những ưu điểm của phương pháp sơ đồ tư duy bằng sơ đồ như sau: 5
  6. 1.2. Ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học Phương pháp vận dụng sơ đồ tư duy vào dạy học được du nhập vào Việt Nam từ nửa sau thế kỉ XX. Ban đầu, những nhà nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đã sử dụng thử nghiệm trên một số bài dạy và các hoạt động ngoại khóa. Thành công của nó đã vẫy gọi nhiều nhà giáo đến với sơ đồ tư duy, và ngày nay, sơ đồ tư duy có thể được vận dụng vào bất cứ môn học nào, thậm chí là mọi tiết học và mọi hoạt động dạy học. Việc ứng dụng sơ đồ tư duy vào dạy học, hiện nay được xem là một việc làm khả thi và phù hợp với sự nghiệp đổi mới giáo dục mà ngành đang đẩy mạnh. Đây là việc làm cần thiết do ở sơ đồ tư duy có những ưu điểm lớn trong việc dạy học môn Ngữ Văn: Dạy học bằng SĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả. Chúng ta biết rằng việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ đơn thuần là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc theo thói quen học vẹt, các em chưa có ý thức hoặc chưa biết rèn luyện kỹ năng tư duy. Học sinh chỉ học bài nào biết bài ấy, nắm kiến thức một cách đơn lẻ, rời rạc, chưa biết tích hợp, liên hệ kiến thức vớd4i nhau giữa các bài học, giữa các phân môn, vì vậy mà chưa phát triển được tư duy lô-gic và tư duy hệ thống. Do đó, dù các em học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém. Vì học phần sau đã quên phần trước, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Lại có nhiều học sinh khi đọc sách 6
  7. hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, hay kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Bởi vậy, rèn luyện cho các em có thói quen và kĩ năng sử dụng thành thạo SĐTD trong quá trình dạy học sẽ gúp học sinh có được phương pháp học tốt, phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy. - SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình. Vì vậy, sử dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Việc học sinh trực tiếp vẽ SĐTD vừa lôi cuốn, hấp dẫn các em, đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa” do chính các em tự làm ra, lại vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rập khuôn một cách máy móc như khi lập các bảng biểu, sơ đồ, vì các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ý tưởng riêng của mình. Vì thế, tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong học tập. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang triển khai thực hiện. - Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh). Do đó, chúng ta có thể vận dụng Sơ đồ tư duy vào tất cả các khâu trong quá trình dạy học. Từ khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay khâu củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút. - Sơ đồ tư duy, một công cụ có tính khả thi cao. Ta có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay nói chung. Bởi vì ta có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên giấy, bìa, tờ lịch cũ, bảng phụ, bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu, tẩy hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm Sơ đồ tư duy (Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật chất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần mềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng CNTT. Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS: 1. Tăng sự hứng thú trong học tập. 2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em. 7
  8. 3. Tiết kiệm thời gian rất nhiều. 4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể. 5. Ghi nhớ tốt hơn. 6. Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em. Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay là, nhiều giáo viên vẫn còn e ngại, chưa tận dụng tối đa phương pháp dạy học này, cho rằng nó không thể là phương pháp phù hợp với hệ hình tư duy của các nước phương Đông. Ngược lại, cũng có một số giáo viên vận dụng thái quá theo kiểu cho nó là phương pháp vạn năng, biến nó thành độc tôn trong dạy học nên gây ra những hệ quả không tốt, bởi vì bất kì một phương pháp giáo dục, giảng dạy nào cũng có điểm khả thủ và bất khả thủ. Chối từ nó đồng nghĩa với việc đóng lại một cánh cửa truyền thụ tri thức, nhưng vận dụng thái quá cũng sẽ làm nó tự bộc lộ hạn chế của mình. Do vậy, trong đề tài của mình, chúng tôi sẽ cố gắng không mắc vào hai thái cực cực đoan đó. 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN Văn xuôi là một dạng ngôn ngữ thể hiện một cấu trúc ngữ pháp và mô phỏng văn nói tự nhiên, không tuân theo các lề luật như thi ca. Mặc dù có nhiều tranh luận xung quanh cấu trúc của văn xuôi, tính đơn giản và cấu trúc lỏng lẻo của nó đã đưa đến việc con người áp dụng văn xuôi vào phần lớn văn nói, để trình bày sự kiện cũng như viết về các chủ đề thực tế cũng như hư cấu. Văn xuôi chủ yếu dựa vào năng lực trí tuệ cộng với tình cảm và trí tưởng tượng. Văn xuôi hoàn toàn không có cấu trúc vần mà hầu hết thơ ca đều có. Thơ ca bao giờ cũng có nhịp, vần và độ dài quy định. Ngược lại, văn xuôi chứa trọn bộ các câu đầy đủ và có ngữ pháp chặt chẽ, tạo ra các đoạn văn và bỏ qua tính mỹ thuật của thơ ca. Một số tác phẩm văn xuôi cũng chứa các đoạn văn mang tính đối xứng và có chất thơ, và việc kết hợp một cách có chủ ý giữa văn xuôi và thơ ca được gọi là văn xuôi có vần. Vần điệu được coi là mang tính hệ thống và công thức, trong khi văn xuôi được coi là mang tính ngôn ngữ nói hay giao tiếp nhiều hơn. Văn xuôi có nhiều thể loại: văn diễn giảng, văn lịch sử, văn nghị luận, văn tự sự. Văn xuôi văn học có tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút, ký... Khi các tác phẩm triết học, lịch sử, giáo dục... có chứa các giá trị thẩm mỹ nó sẽ cũng được xem là văn xuôi. 8
  9. Như vậy, văn xuôi hoàn toàn khác biệt với thơ ca. Nếu như thơ ca được tạo nên từ những câu thơ có vần có nhịp thì văn xuôi lại được tạo nên từ những câu văn. Với những đặc trưng đó, trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có các tác phẩm văn xuôi: - Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh - Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Phạm Văn Đồng - Người lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân - Ai đã đặt tên cho dòng sông - Hoàng Phủ Ngọc Tường - Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài - Vợ nhặt - Kim Lân - Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành - Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Thi - Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu - Thuốc - Lỗ Tấn - Số phận con người - Sô-lô-khốp - Ông già và biển cả - Hê-ming-uê Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài, với mục đích tập trung kiến thức cho học sinh trong kỳ thi THPTQG 2019, chúng tôi chỉ áp dụng trong các tác phẩm thuộc cấu trúc đề thi THPTQG 2019. 9
  10. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 1. Giới thiệu về Trung tâm GDNN – GDTX Yên Lạc Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc được thành lập năm 1996. Nằm trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng thuộc địa bàn xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, Trung tâm đã xây dựng, phấn đấu, trưởng thành và khẳng định được vị trí, chức năng, nhiệm vụ của một Trung tâm GDNN - GDTX cấp huyện. Ở địa bàn nông thôn, tình hình kinh tế – xã hội còn chưa phát triển, đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy học và giáo dục của Trung tâm, đôi khi sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường chưa được quan tâm đúng mức, nhận thức của người dân về việc học tập còn chưa được đầy đủ, sâu sắc. Trải qua bao khó khăn, vất vả và thiếu thốn, nhưng nhờ phát huy truyền thống quê hương cách mạng, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cấp trên và nhất là tạo dựng được niềm tin của nhân dân trong huyện, cho đến nay, qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc đã trở thành cơ sở giáo dục tin cậy của nhân dân không chỉ trên địa bàn huyện Yên Lạc mà còn ở cả các huyện khác trong tỉnh. Hai mươi năm qua, Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc đã có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp trồng người của tỉnh nhà nói riêng và sự nghiệp giáo dục của cả nước nói chung. Từ mái trường này, hàng vạn học sinh đã được dạy dỗ, để trở thành những công dân tốt của đất nước, nhiều người đã có những đóng góp xứng đáng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trở thành những tấm gương cho các em học sinh hôm nay noi theo. Năm học 2018-2019, trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc đã thu hút được một số lượng học sinh tương đối lớn với 4 lớp khối 10, 4 lớp khối 11 và 4 lớp khối 12, đội ngũ giáo viên của trung tâm tương đối ổn định. Với tinh thần “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và luôn ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dù khó khăn đến đâu, cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt”, trong những năm vừa qua, Trung tâm luôn triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như tăng cường cơ sở vật chất; đổi mới phương pháp dạy học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học; xây dựng, 10
  11. bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên; đẩy mạnh công tác dạy nghề gắn với việc làm... và đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào. Song song với nhiệm vụ dạy học văn hóa, Trung tâm còn có thêm một nhiệm vụ nữa cũng hết sức quan trọng là hướng nghiệp và dạy nghề. Sau nhiều năm phấn đấu, những nỗ lực vượt khó vươn lên của tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc đã được ghi nhận. Trung tâm đã được Sở Giáo dục - Đào tạo tặng danh hiệu đơn vị tiên tiến xuất sắc nhiều năm liền, được UBND tỉnh tặng Bằng khen, Bộ Giáo dục tặng danh hiệu Đơn vị Lá cờ đầu khối GDTX, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và mới đây nhất, trong năm học 2013-2014, đơn vị vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Huân chương Lao động hạng Ba. Những thành tích mà Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc đã đạt được không chỉ là niềm tự hào mà đó còn là nguồn động lực to lớn để thầy và trò của trung tâm cố gắng, nỗ lực, phấn đấu nhiều hơn nữa, xứng đáng là địa chỉ giáo dục tin cậy của tỉnh nhà. 2. Thực trạng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn nói chung Lâu nay, trong quá trình dạy học, chúng ta vẫn thường sử dụng các mô hình, sơ đồ, biểu đồ... để cô đọng, khái quát kiến thức cho học sinh, nhất là ở những bài tổng kết các chương, các phần của môn học hay các bài ôn tập. Cách làm này có thể nói đã đem lại những hiệu quả thiết thực nhất định trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho học sinh bởi cách trình bày gọn, rõ, lô-gic. Thế nhưng, bên cạnh những ưu điểm ấy, cách làm này vẫn còn những hạn chế nhất định, bởi trước hết là cả lớp cùng có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình. Các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét. Cách làm này chưa thật sự phát huy được tư duy sáng tạo, chưa thật sự kích thích, lôi cuốn được các em trong việc tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức của bài học. Hơn nữa, phạm vi sử dụng hẹp vì chúng ta chỉ sử dụng chúng trong một số tiết dạy có tính chất tổng kết các chương, các phần, các mảng kiến thức của môn học hay các bài ôn tập mà thôi 11