SKKN Một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học môn Ngữ Văn 6 đáp ứng các yêu cầu cần đạt trong CTGDPT mới

docx 118 trang Chăm Nguyễn 23/01/2026 301
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học môn Ngữ Văn 6 đáp ứng các yêu cầu cần đạt trong CTGDPT mới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_kinh_nghiem_trong_viec_xay_dung_va_to_chuc_thuc.docx
  • pdfSKKN Một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học môn Ngữ Văn 6 đáp.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học môn Ngữ Văn 6 đáp ứng các yêu cầu cần đạt trong CTGDPT mới

  1. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Giải pháp 1. Lựa chọn và sử dụng phương pháp/ kỹ thuật dạy học truyền thống để xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bài dạy môn Ngữ văn 1.1.1. Mô tả Chương trình Ngữ văn 2018 chú ý đến tính chất công cụ và thẩm mĩ - nhân văn; chú trọng mục tiêu và giải pháp giúp HS phát triển toàn diện các phẩm chất và năng lực; kết hợp phát triển các năng lực chung (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) với phát triển các năng lực đặc thù (năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, ); kết hợp phát triển năng lực với phát triển phẩm chất. Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các tác phẩm văn học, bằng hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp và các năng lực cốt lõi để học tập tốt các môn học khác, để sống và làm việc hiệu quả, và để học suốt đời. Các kĩ năng được phát triển trong môn Ngữ văn, với chức năng của môn học công cụ, giúp HS học các môn khác thuận lợi, hiệu quả hơn; ngược lại nội dung giáo dục của các môn học khác cũng cung cấp thêm dữ liệu để môn Ngữ văn khai thác. Tuy nhiên, trong quá trình dạy học của giáo viên vẫn còn thiên về truyền thụ kiến hàn lâm, vẫn thiên về trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng, thái độ, học sinh ra sức học ghi nhớ kiến thức, thậm chí là học thuộc theo mẫu Các GV đa phần đều công tác tương đối lâu năm nên chủ yếu vẫn quen với phương pháp dạy học truyền thống. Các lớp bồi dưỡng tập trung do Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT tổ chức hàng năm về cơ bản mới chỉ bồi dưỡng lý thuyết về các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và về việc xây dựng ma trận đề kiểm tra đánh giá; do thời gian tập huấn ngắn nên việc thực hành, phân tích ưu điểm, nhược điểm, điều kiện, thời gian áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học để giáo viên hiểu rõ còn hạn chế. Đa phần các GV khi cần thiết mới tự tìm hiểu thông qua các thông tin trên mạng và trao đổi với đồng nghiệp. Giáo viên thiết kế giáo án và xây dựng bài giảng dựa trên nội dung chủ yếu là sách giáo khoa, sách giáo viên với các yêu cầu cần đạt của mỗi bài về: kiến thức thuần túy ít gắn với thực tiễn, thiên về phân tích văn bản mà chưa chú ý đến đặc trưng thể loại, thậm chí nhiều giáo viên khi đưa ra mục tiêu bài học còn chưa đúng với các yêu cầu cần đạt được nêu trong thông tư 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26/12/2018 về Chương trình giáo dục phổ thông. Thực hiện đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của HS đã được áp dụng rất rộng rãi nhưng việc dạy học phát triển năng lực HS đối với GV còn nhiều bỡ ngỡ và hầu như chưa có khái niệm đánh giá năng lực theo các thành tố của năng lực. Trong quá trình xây dựng kế hoạch dạy học giáo viên chưa biết cách 7
  2. lựa chọn các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp để phát triển các năng lực Ngữ văn. Một số GV đã thực hiện dạy học liên kết các chủ đề, theo đặc trưng thể loại, tuy nhiên do hạn chế trong việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, các GV mới chỉ tập trung vào việc khai thác nội dung kiến thức theo kiểu truyền thống (phân tích chi tiết nội dung một văn bản cụ thể chứ chưa chú trọng vào đặc trưng thể loại, vẫn nặng về cung cấp văn mẫu cho HS mà chưa hướng dẫn tỉ mỉ cách làm, chưa chú trọng cho HS tự thực hành, chưa chú trọng rèn kỹ năng nghe – nói cho HS ) và sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực để tăng tính tích cực, chủ động của HS chứ chưa tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề, có liên hệ với thực tế, kết quả học tập nâng cao nhưng với các bài tập liên hệ thực tiễn ở mức vận dụng, vận dụng cao, kĩ năng nghe nói của HS lại vẫn gặp nhiều khó khăn do chưa được luyện tập nhiều các thao tác, kỹ năng giải quyết vấn đề. 1.1.2. Ưu điểm - Với việc thực hiện giải pháp trên đã đảm bảo về nội dung: việc lựa chọn nội dung dễ dàng, không tốn nhiều thời gian của giáo viên. - Có sự đổi mới về phương pháp dạy học, bên cạnh việc trang bị kiến thức đã chú ý rèn luyện một số kỹ năng cho học sinh. - Trong quá trình thực hiện kế hoạch dạy học, giáo viên đã có phần vận dụng, liên hệ thực tế. 1.1.3. Nhược điểm - Khả năng vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn của học sinh còn hạn chế. - Giờ học thiếu hấp dẫn, gây nhàm chán. - Học sinh tiếp thu kiến thức một các thụ động, nắm kiến thức không sâu, chưa chú trọng rèn kĩ năng nghe nói, nhiều học sinh vẫn chưa biết cách đọc hiểu mở rộng văn bản theo đặc trưng thể loại và không rèn các kỹ năng làm việc với các nguồn tri thức (kỹ năng tìm kiếm thông tin với sách giáo khoa, phương tiện trực quan, với máy vi tính, với băng hình, với internet, ). Do đó chưa thực sự rèn được đầy đủ các kỹ năng đọc – hiểu, kỹ năng nghe - nói cho học sinh. - Giờ dạy chủ yếu là kiến thức lí thuyết, thiên về hỏi – đáp, phân tích từng phần văn bản mà chưa chú trọng vào việc giúp học sinh nhận ra đặc trưng thể loại qua từng văn bản; mang tính chất đọc chép chưa đáp ứng được mục tiêu căn bản là hình thành và phát triển năng lực Ngữ văn cho học sinh. 1.2. Giải pháp 2: Lựa chọn và sử dụng phương pháp, công cụ đánh giá truyền thống 1.2.1. Mô tả 8
  3. - Hiện nay đa phần giáo viên vẫn đánh giá học sinh qua các bài kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, học sinh phải thực hiện các bài kiểm tra, dùng điểm số ở các bài kiểm tra để đánh giá học sinh về mặt học tập. - Công cụ đánh giá chủ yếu được giáo viên sử dụng là các câu hỏi, bài tập. Câu hỏi, bài tập có hai hình thức tự luận và trắc nghiệm, nội dung các câu hỏi, bài tập chủ yếu xoay quanh kiến thức học sinh đã học, có một phần ít vận dụng kiến thức vào một số tình huống hoặc ứng dụng cụ thể. Thông qua các bài tập và câu hỏi học sinh ghi nhớ được kiến thức và hình thành kỹ năng giải bài tập. 1.2.2. Ưu điểm: - Sử dụng các bài kiểm tra truyền thống có thể đánh giá được các mức độ về kiến thức và kỹ năng, thái độ của học sinh trong môn học. - Câu hỏi, bài tập có thể giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và rèn luyện các kỹ năng giải quyết bài tập, kỹ năng đọc văn bản và trả lời các câu hỏi, kỹ năng trình bày, thuyết trình, vận dụng kiến thức từ đó góp phần hình thành nên tư duy logic đối với từng bộ môn. - Giáo viên dễ dàng biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập. 1.2.3. Nhược điểm: - Với phương pháp, công cụ đánh giá truyền thống chưa đánh giá được kỹ năng nghe – nói, chưa đánh giá được đầy đủ năng lực, phẩm chất của người học. - Nặng tính hàn lâm, câu hỏi đôi khi vu vơ, chưa bám sát đặc trưng thể loại, chưa có kết nối hợp lí giữa vấn đề đặt ra trong văn bản đọc với thực tiễn cuộc sống, ít liên hệ thực tiễn, tình huống thực tế vì vậy hạn chế trong việc hình thành các năng lực, phẩm chất của học sinh. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1. Vấn đề cần giải quyết Khi CTGDPT mới được áp dụng từ năm học 2021-2022 đối với cấp THCS, không ít giáo viên gặp khó khăn trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học phù hợp nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Làm thế nào để lựa chọn, sử dụng các phương pháp/kỹ thuật dạy học phù hợp nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh THCS môn Ngữ văn trong CTGDPT 2018? Làm thế nào để lựa chọn, sử dụng các phương pháp/công cụ đánh giá kết quả học tập, giáo dục nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh một cách phù hợp và hiệu quả? Đây chính là những vấn đề chúng tôi sẽ chia sẻ trong sáng kiến này giúp giáo viên có thêm tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện CTGDPT mới. 2.2. Các bước thực hiện giải pháp 2.2.1. Nghiên cứu chương trình giáo dục tổng thể, chương trình môn Ngữ văn. 9
  4. * Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh. Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó. Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là: - Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội. - Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp 10
  5. giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình. - Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học - công nghệ và yêu cầu của thực tế. * Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mựqc chung của xã hội, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kĩ năng nền tảng, có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động. Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới. *Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: - Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. - Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, 11
  6. năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất. Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh. Những yêu cầu cần đạt cụ thể về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được quy định tại mục IX Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể ( Ban hành kèm theo Thông tư số 31/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). *Chương trình môn Ngữ Văn - Mục tiêu của chương trình: Cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục phổ thông giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần; trở thành người học tích cực, tự tin, có năng lực học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. - Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu Cùng với các môn khoa học khác, môn Ngữ văn hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu đã được nêu trong CTGDPT tổng thể bao gồm: Yêu nước Trách Nhân nhiệm CÁC ái PHẨM CHẤT CHỦ YẾU Trung Chăm thực chỉ - Yêu cầu cần đạt về năng lực chung Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua các môn học bao gồm: năng lực 12
  7. tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Môn Ngữ văn có nhiều ưu thế trong việc góp phần hình thành và phát triển toàn diện các năng lực chung đã được nêu trong chương trình tổng thể. Những năng lực chung này được hình thành và phát triển không chỉ thông qua nội dung dạy học mà còn thông qua phương pháp và hình thức tổ chức dạy học mới với việc chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản. Chẳng hạn môn Ngữ văn đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành, phát triển nănglực giao tiếp. HS biết xác định mục đích giao tiếp, lựa chọn nội dung và các phương tiện giao tiếp phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng giao tiếp; biết tiếp nhận các kiểu văn bản đa dạng; chủ động, tự tin và biết kiểm soát cảm xúc, thái độ trong giao tiếp. Năng lực giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn được thể hiện ở khả năng nhận biết, nhận xét, đánh giá văn bản; biết thu thập, phân tích làm rõ thông tin, ý tưởng mới; biết quan tâm tới các chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng dưới những góc nhìn khác nhau. Qua môn Ngữ văn, HS được rèn luyện để trở thành người học tích cực độc lập, sáng tạo trong tiếp nhận và tạo lập văn bản. - Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù Môn Ngữ văn có ưu thế hình thành và phát triển cho học sinh năng lực thẩm mĩ và năng lực ngôn ngữ. Những biểu hiện cụ thể của năng lực đặc thù môn Ngữ văn được trình bày trong bảng sau: Năng lực đặc thù Biểu hiện 1. Năng lực ngôn ngữ – Đọc trôi chảy, hiểu đúng các văn bản thuộc những * Khái niệm: Năng lực kiểu, loại khác nhau với nội dung và hình thức biểu đạt ngôn ngữ là khả năng có độ phức tạp tăng dần qua từng lớp học, cấp học; sử dụng các phương nhận biết, phân tích, đánh giá được nội dung và đặc tiện ngôn ngữ (ngữ âm, điểm nổi bật về hình thức biểu đạt của văn bản; biết so từ vựng, ngữ pháp, ) sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ với những để đọc, viết, nói và trải nghiệm cuộc sống của cá nhân và bối cảnh lịch sử, nghe. Khả năng này xã hội, tư tưởng, để đọc hiểu các văn bản; có thói được hình thành và phát quen tìm tòi, mở rộng phạm vi đọc. Từ đó biết chuyển triển vừa thông qua thực hóa được những gì đã đọc thành giá trị sống. tiễn giao tiếp của học – Viết được những kiểu văn bản khác nhau với nội sinh với tư cách người dung và hình thức biểu đạt có độ phức tạp tăng dần qua bản ngữ vừa thông qua từng lớp học, cấp học; bảo đảm các yêu cầu về chính tả, việc vận dụng các kiến từ vựng, ngữ pháp, phong cách, ngữ dụng, yêu cầu về thức cơ bản về tiếng đặc điểm của kiểu văn bản ; biết thể hiện các ý tưởng, Việt để giao tiếp hiệu thông tin, quan điểm, thái độ một cách rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục. 13
  8. quả trong các tình – Nói rõ ràng, mạch lạc, thể hiện rõ các ý tưởng, thông huống cụ thể. tin, quan điểm, thái độ; biết bảo vệ quan điểm của cá nhân một cách thuyết phục, có tính đến quan điểm của người khác; tự tin khi nói trước nhiều người; có thái độ cầu thị và văn hoá thảo luận, tranh luận phù hợp; thể hiện được chủ kiến, cá tính trong thảo luận, tranh luận. – Hiểu được ý kiến người khác trong giao tiếp thông thường; nắm bắt được những thông tin quan trọng từ các bài thuyết trình, các cuộc đối thoại, thảo luận, tranh luận, có phản hồi linh hoạt và phù hợp; nhận biết, phân tích, đánh giá được cách mà người nói biểu đạt ý tưởng, cảm xúc và thuyết phục người nghe. 2. Năng lực văn học – Phân biệt được các văn bản văn học và phi văn học; * Khái niệm: Năng lực nhận biết được một số thể loại văn học tiêu biểu, các văn học, một biểu hiện thành tố tạo nên tác phẩm văn học và tác dụng của chúng của năng lực thẩm mĩ, là trong việc thể hiện nội dung. khả năng tiếp nhận và – Biết đọc hiểu ngôn từ nghệ thuật; nhận biết, lý giải, tạo lập văn bản văn học. phân tích và đánh giá những đặc sắc về hình thức biểu Khả năng tiếp nhận văn đạt, trên cơ sở đó tiếp nhận một cách hợp lí và sáng tạo bản văn học được thể nội dung (nghĩa, ý nghĩa, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng), hiện qua việc vận dụng những giá trị thẩm mĩ thể hiện trong văn bản (cái đẹp, cái kiến thức văn học và bi, cái hài, cái cao cả,...). kinh nghiệm cá nhân – Trình bày (viết và nói) được kết quả cảm nhận và lí vào việc đọc, giải mã, giải giá trị của tác phẩm văn học, tác động của tác phẩm kiến tạo nghĩa và đánh văn học đối với người đọc; bước đầu tạo ra được một giá văn bản văn học. số sản phẩm có tính văn học Khả năng tạo lập văn – Có khả năng tưởng tượng và liên tưởng, có cảm xúc bản văn học được thể trước những hình ảnh cao đẹp về thiên nhiên, con người, hiện qua khả năng biểu cuộc sống trong văn học; làm chủ được tình cảm, có đạt cảm xúc và ý tưởng hành vi ứng xử phù hợp trước các tình huống trong đời bằng hình thức ngôn từ sống; vận dụng những điều đã học để hoàn thiện về nhân mang tính thẩm mỹ cao, cách và sống một cuộc sống có ý nghĩa. có thể sáng tác văn học. Chương trình môn Ngữ văn sử dụng một số động từ để thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về năng lực của người học 14
  9. Yêu cầu cần đạt = Động từ chỉ hoạt động + «được» + Nội dung/kiến thức Ví dụ 1: Nhận ra (nhận biết) được chi tiết tiêu biểu, nhân vật, đề tài, cốt truyện, lời người kể chuyện và lời nhân vật. Nhận ra (chỉ ra, nhận được chi tiết tiêu biểu, nhân vật, đề tài, cốt truyện, biết) lời người kể chuyện và lời nhân vật. (Ví dụ: (Nhận biết về hình thức, Chỉ ra lời nhân vật trong văn bản trên ) nội dung văn bản) Ví dụ 2: Phân tích được đặc điểm nhân vật thể hiện qua ngoại hình, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của nhân vật. Phân tích (nêu, nhận được đặc điểm nhân vật thể hiện qua ngoại hình, cử xét, giải thích) chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của nhân vật. (Tìm hiểu nội dung, (Ví dụ: nhận xét gì về nhân vật Kiều Phương hình thức văn bản) qua những chi tiết trên ) Ví dụ 3: Vận dụng những kiến thức đã học về nội dung văn bản để trình bày được bài học về cách nghĩ, cách ứng xử do văn bản gợi ra. Trình bày được bài học về cách nghĩ, cách ứng xử do văn bản (Vận dụng kiến thức- kĩ gợi ra. (Ví dụ: Em rút ra bài học nào cho bản năng đã học) thân từ văn bản trên ) Các động từ được sử dụng ở các mức độ khác nhau nhưng trong mỗi trường hợp thể hiện một hành động có đối tượng và yêu cầu cụ thể. Trong bảng tổng hợp dưới đây, đối tượng, yêu cầu cụ thể của mỗi hành động được chỉ dẫn bằng một số từ ngữ. Trong quá trình dạy học, đặc biệt là khi đặt câu hỏi thảo luận, ra đề kiểm tra đánh giá, giáo viên cần dựa vào yêu cầu cần đạt để thiết kế kế hoạch bài dạy và tổ chức các hoạt động, vận dụng phương pháp phù hợp với tình huống sư phạm và nhiệm vụ cụ thể giao cho học sinh. Mức Động từ mô tả mức độ độ Biết I. Đọc hiểu 1. Văn bản truyện (truyện ngắn, truyện đồng thoại, truyện cổ tích - truyền thuyết - Nhận biết được chi tiết tiêu biểu, nhân vật, đề tài, cốt truyện, lời người kể chuyện và lời nhân vật. - Nhận biết được người kể chuyện ngôi thứ nhất và người kể chuyện ngôi thứ ba. 15
  10. - Nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản - Nhận ra từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy); từ đa nghĩa và từ đồng âm, các thành phần của câu trong văn bản. 2. Văn bản thơ (thơ lục bát, thơ có yếu tố tự sự và miêu tả) - Nêu được ấn tượng chung về văn bản. - Nhận biết được số tiếng, số dòng, vần, nhịp của bài thơ lục bát. - Nhận diện được các yếu tố tự sự và miêu tả trong thơ. - Chỉ ra được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản. - Nhận ra từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy); từ đa nghĩa và từ đồng âm; các biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ. 3. Văn bản kí (hồi kí và du kí) - Chỉ ra được hình thức ghi chép, cách kể sự việc, dựng chân dung con người trong kí. - Nhận biết được người kể chuyện ngôi thứ nhất trong kí. - Nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản. - Nhận ra từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy); từ đa nghĩa và từ đồng âm, các thành phần của câu. 4. Văn bản nghị luận: - Nhận biết được các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản. - Nhận biết được đặc điểm nổi bật của văn bản nghị luận. - Nhận ra từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy); từ đa nghĩa và từ đồng âm, các thành phần của câu. 5. Văn bản thông tin: - Nhận biết được các chi tiết trong văn bản. - Nhận biết được cách thức mô tả vấn đề, tường thuật lại sự kiện trong văn bản thông tin. - Nhận biết được cách triển khai văn bản thông tin theo trật tự thời gian và theo quan hệ nhân quả. - Nhận ra từ đơn và từ phức (từ ghép và từ láy); từ đa nghĩa và từ đồng âm, các thành phần của câu. II. Viết 1. Kể lại một trải nghiệm của bản thân - Xác định được kiểu bài tự sự, trải nghiệm cần kể. - Xác định được bố cục bài văn và các sự việc chính trong trải nghiệm. 2. Kể lại một truyện truyền thuyết hoặc cổ tích - Xác định được kiểu bài tự sự, câu chuyện cần kể. 16
  11. - Xác định được bố cục bài văn và các sự việc chính cần kể. 3. Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt - Xác định được kiểu bài miêu tả và đối tượng miêu tả: cảnh sinh hoạt. - Xác định được bố cục bài văn và trình tự miêu tả. 4. Trình bày ý kiến về một hiện tượng xã hội mà mình quan tâm - Xác định được kiểu bài nghị luận và vấn đề xã hội được bàn luận. - Xác định được yêu cầu của đề, nêu được vấn đề của đời sống. 5. Thuyết minh thuật lại một sự kiện - Xác định được kiểu bài và sự kiện cần thuyết minh. - Xác định được bố cục bài văn và sự kiện sẽ thuật lại. Hiểu I. Đọc hiểu 1. Văn bản truyện (truyện ngắn, truyện đồng thoại, truyện cổ tích - truyền thuyết - Tóm tắt được cốt truyện. - Nêu được chủ đề của văn bản. - Phân tích được tình cảm, thái độ của người kể chuyện thể hiện qua ngôn ngữ, giọng điệu. - Hiểu và phân tích được tác dụng của việc lựa chọn ngôi kể, cách kể chuyện. - Phân tích được đặc điểm nhân vật thể hiện qua hình dáng, cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, ý nghĩ của nhân vật. - Giải thích được nghĩa thành ngữ thông dụng, yếu tố Hán Việt thông dụng; nêu được tác dụng của các biện pháp tu từ (ẩn dụ, hoán dụ), công dụng của dấu chấm phẩy, dấu ngoặc kép được sử dụng trong văn bản. 2. Văn bản thơ (thơ lục bát, thơ có yếu tố tự sự và miêu tả) - Nêu được chủ đề của bài thơ, cảm xúc chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ. - Nhận xét được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ. - Chỉ ra tác dụng của các yếu tố tự sự và miêu tả trong thơ. 3. Văn bản kí (hồi kí và du kí) - Nêu được chủ đề của văn bản. - Phân tích được tác dụng của giọng kể, ngôi kể, cách ghi chép về con người, sự việc. - Phân tích, lí giải được vai trò của cái người kể chuyện, người quan sát ghi chép trong hồi kí hoặc du kí. 17