SKKN Một số giải pháp chỉ đạo dạy học môn Khoa học Lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh ở Trường Tiểu học Nga Thiện

docx 29 trang Chăm Nguyễn 29/09/2025 360
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp chỉ đạo dạy học môn Khoa học Lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh ở Trường Tiểu học Nga Thiện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_giai_phap_chi_dao_day_hoc_mon_khoa_hoc_lop_4_the.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp chỉ đạo dạy học môn Khoa học Lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh ở Trường Tiểu học Nga Thiện

  1. nhận định rằng: học sinh Tiểu học là lứa tuổi “chóng nhớ, mau quên”. Muốn học sinh nhớ một vấn đề nào đó thì cần thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhớ. Để các em dễ nhớ và nhớ lâu hơn thì cần tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ. Đồng thời lứa tuổi các em mang đặc điểm nhận thức và tư duy trực quan cụ thể. Các em không những hứng thú nhận thức với các vấn đề mang tính cụ thể mà còn hứng thú khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, trực quan sinh động. Đó là các sự vật hiện tượng mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng và mang tính bắt mắt. 2.1.2. Phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực. Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động và ứng xử của giáo viên tạo nên các hoạt động và giao lưu của học sinh nhằm đạt mục tiêu đã định. Phương pháp dạy học bao gồm hai mặt hoạt động: hoạt động của thầy và hoạt động của trò. Hai hoạt động này tồn tại và được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng.Trong đó hoạt động dạy học giữ vai trò chủ đạo (tổ chức, điều khiển), hoạt động học đóng vai trò tích cực, chủ động (tự tổ chức, điều khiển). Phương pháp dạy học luôn đặt trong mối quan hệ với mục tiêu, phương tiện và những điều kiện khác. Phương pháp dạy học Khoa học là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt mục tiêu dạy học Khoa học. Hay nói cách khác đó là sự vận dụng một cách hợp lý các phương pháp dạy học theo đặc trưng của môn Khoa học. Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học mà ở đó giáo viên tổ chức các hoạt động học tập để phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Nghĩa là trong quá trình giảng dạy giáo viên không cung cấp cho học sinh những kiến thức dưới dạng đã “chuẩn bị sẵn” mà phải tổ chức, hướng dẫn học sinh huy động những vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự khám phá chiếm lĩnh tri thức mới, rồi vận dụng các tri thức mới trong thực hành và vào cuộc sống. Phương pháp dạy học Khoa học tích cực là phương pháp dạy học ở đó giáo viên không cung cấp tri thức Khoa học một cách hoàn chỉnh mà phải hướng dẫn học sinh tự khám phá, tự tìm tòi phát hiện và chiếm lĩnh tri thức đó và vận dụng tri thức đó.
  2. 2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Qua thực tế 11 năm giảng dạy; 16 năm quản lý ở trường Tiểu học, trong quá trình dự giờ đồng nghiệp, khảo sát chất lượng học sinh, tôi thấy: Việc sử dụng phương pháp dạy học Khoa học lớp 4 đến nay có nhiều đổi mới tạo ra cho giáo viên và học sinh nhiều thuận lợi: Có khá đầy đủ trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết học, có sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của các cấp trong việc thực hiện đổi mới giáo dục mà đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học. Học sinh Tiểu học rất thích học Khoa học: Thích quan sát và tìm hiểu xung quanh, ham học hỏi và năng động. Chương trình Khoa học lớp 4 phong phú về nội dung, Dẫn đến chất lượng học sinh hoàn thành và hoàn thành tốt được nâng lên rõ rệt, học sinh chưa hoàn thành môn học được hạn chế ở mức thấp nhất. Tuy nhiên khi dạy - học Khoa học vẫn còn những hạn chế sau: * Đối với giáo viên: Việc dạy học theo tích cực chưa thực sự được giáo viên chú trọng. Trong quá trình dự giờ và chỉ đạo chuyên môn tôi nhận thấy giáo viên có phần coi nhẹ bộ môn này, vì thế việc tổ chức học tập chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy - học; không lôi cuốn, khích lệ học sinh tham gia vào quá trình tìm tòi và phát hiện cũng như lĩnh hội kiến thức. Cụ thể: - Khi dạy học bằng phương pháp quan sát giáo viên chưa chú ý hướng dẫn các em quan sát hoặc hướng dẫn sơ sài nên dẫn đến học sinh chưa nắm được nội dung, đối tượng cần quan sát. Một số học sinh chưa trình bày được kết quả quan sát bằng lời, chưa phát huy tính tích cực trong học tập của các em. - Khi thực hành thí nghiệm giáo viên chưa chú trọng hướng dẫn quy trình, chưa chú ý đảm bảo sự an toàn cho học sinh làm thí nghiệm. Chưa tạo ra tình huống có vấn đề để lôi cuốn và gây tò mò cho các em.
  3. - Khi tổ chức học sinh học nhóm chỉ mang tính hình thức chưa quan tâm đến tất cả đối tượng học sinh mà chỉ một số học sinh làm việc còn một số học sinh còn ngồi không,.... * Đối với học sinh: - Do việc tổ chức hướng dẫn của giáo viên chưa tốt nên dẫn đến nhiều học sinh trong lớp chưa tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Khi tiến hành làm việc nhóm, các em cho rằng đó là việc của nhóm trưởng, mình không có vai trò gì, hoặc các em ngồi chơi, làm việc riêng - Do tâm lý lứa tuổi, các em mau quên vì thế khi giao nhiệm vụ thí nghiệm, các em thường quên hoặc các em ngại trình bày ý kiến trước tập thể, một số em thiếu tự tin, e dè khi tham gia các hoạt động học tập, * Kết quả của thực trạng Năm học 2023-2024, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát một số kĩ năng sống của học sinh ở tiết khoa học đầu năm của 2 lớp Bốn. Cụ thể kết quả như sau: Tổng số học sinh Điểm 9- 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm dưới 5 82 TS % TS % TS % TS % 35 42,7 24 29,3 17 20,7 6 7,3 Từ thực trạng trên tôi đã trăn trở là làm thế nào để tạo hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh khi học Khoa học ở lớp 4. Để giải quyết vấn đề này cần phải đổi mới phương pháp dạy học và tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, mạnh dạn thực nghiệm và đã đạt kết quả khả quan. Từ thực nghiệm của bản thân tôi rút ra được: Một số giải pháp chỉ đạo dạy học môn khoa học lớp 4 theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh ở Trường Tiểu học Nga Thiện. 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
  4. 2.3.1. Chỉ đạo giáo viên nghiên cứu để nắm vững mục tiêu, yêu cầu cần đạt khi dạy học môn Khoa học (lớp 4, 5): a. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Khoa học (lớp 4, 5) Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Khoa học (lớp 4, 5) được quy định tạiThông tư 32/2018/TT-BGDĐT. Trên cơ sở kế thừa và phát triển môn Tự nhiên và Xã hội (ở các lớp 1, 2, 3), môn Khoa học (ở các lớp 4, 5) được xây dựng dựa trên nền tảng cơ bản, ban đầu của khoa học tự nhiên và các lĩnh vực nghiên cứu về giáo dục sức khoẻ, giáo dục môi trường. Môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh học tập môn Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở và các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học ở cấp trung học phổ thông. Môn học chú trọng khơi dậy trí tò mò khoa học, bước đầu tạo cho học sinh cơ hội tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn, học cách giữ gìn sức khoẻ và ứng xử phù hợp với môi trường sống xung quanh. b. Quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Khoa học (lớp 4, 5) - Chương trình môn Khoa học quán triệt các quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, kế hoạch giáo dục và các định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục được nêu trong Chương trình tổng thể. Đồng thời, xuất phát từ đặc thù của môn học, những quan điểm sau được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình: - Dạy học tích hợp: Chương trình môn Khoa học được xây dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp nhằm bước đầu hình thành cho học sinh phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu thế giới tự nhiên; nhận thức cơ bản, ban đầu về môi trường tự nhiên, về con người, sức khoẻ và an toàn; khả năng vận dụng kiến thức khoa học vào thực tiễn. Môn học cũng chú trọng đến việc tích hợp giáo dục giá trị và kĩ năng sống ở mức độ đơn giản, phù hợp. - Dạy học theo chủ đề: Chương trình môn Khoa học tổ chức nội dung giáo dục theo các chủ đề: chất; năng lượng; thực vật và động vật; nấm, vi khuẩn; con người và sức khoẻ; sinh vật và môi trường. Những chủ đề này được phát triển từ lớp 4 đến lớp 5. Tuỳ theo
  5. từng chủ đề, nội dung giáo dục giá trị và kĩ năng sống; giáo dục sức khoẻ, công nghệ, giáo dục môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh giảm nhẹ rủi ro thiên tai,... được thể hiện ở mức độ đơn giản và phù hợp. - Tích cực hoá hoạt động của học sinh: Chương trình môn Khoa học tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập. Học sinh học khoa học qua tìm hiểu, khám phá, qua quan sát, thí nghiệm, thực hành, làm việc theo nhóm. Từ đó hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa học tự nhiên. c. Mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Khoa học (lớp 4, 5) Môn Khoa học góp phần hình thành, phát triển ở học sinh tình yêu con người, thiên nhiên; trí tưởng tượng khoa học, hứng thú tìm hiểu thế giới tự nhiên; ý thức bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống. Môn học góp phần hình thành và phát triển ở học sinh năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Đặc biệt, môn học góp phần hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa học tự nhiên, giúp các em có những hiểu biết ban đầu về thế giới tự nhiên, bước đầu có kĩ năng tìm hiểu môi trường tự nhiên xung quanh và khả năng vận dụng kiến thức để giải thích các sự vật, hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên, giải quyết các vấn đề đơn giản trong cuộc sống, ứng xử phù hợp bảo vệ sức khoẻ của bản thân và những người khác, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường xung quanh. Vì vậy việc tạo hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh khi học môn Khoa học ở lớp 4 là hết sức cần thiết. 2.3.2 Chỉ đạo giáo viên đổi mới phương pháp dạy học một cách triệt để khi dạy Khoa học lớp 4 theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh: - Nhà trường thường xuyên tổ chức sinh hoạt chuyên môn thảo luận về đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt là phương pháp dạy học theo hướng tích cực.
  6. - Xây dựng các chuyên đề, các tiết dạy thử, dạy mẫu, tự làm và sưu tầm, bổ sung đồ dùng dạy học. - Tổ chức sinh hoạt chuyên môn cụm trường để trao đổi với các đồng nghiệp về đổi mới phương pháp dạy học, trang trí lớp học, cách tổ chức lớp học... - Yêu cầu giáo viên phải nắm vững chương trình môn Khoa học lớp 4 để chuẩn bị tốt cho từng bài giảng, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp. - Trước hết bằng việc thay đổi cách soạn giảng: Giáo viên phải nỗ lực trong công việc soạn giảng, nghiên cứa, tìm tòi để có được tiết dạy theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. - Giáo viên phải chuẩn bị tốt các trang thiết bị, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài học như: Phiếu học tập, bảng phụ, tranh ảnh, Giáo án điện tử, dụng cụ thí nghiệm, mẫu vật - Giáo viên biết tổ chức lớp học phát huy tối đa tính tích cực của học sinh. - Giáo viên phải kích thích sự ham muốn học tập của học sinh đó là: Giáo viên tổ chức dạy học theo hướng tập trung vào người học, học sinh phải tự giác tìm hiểu, nghiên cứu, nắm bắt kiến thức mới và vận dụng kiến thức mới vào thực tiễn từ đó giúp các em yêu quý thiên nhiên, yêu Khoa học và muốn khám phá Khoa học. Vai trò của giáo viên lúc này là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển, định hướng và điều chỉnh giúp học sinh học tập tốt . - Giáo viên phải linh hoạt vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để tổ chức cho học sinh hoạt động học tập theo kiểu mới (hoạt động theo nhóm, trò chơi học tập, tiến hành thí nghiệm...) tạo điều kiện cho từng học sinh được tham gia giải quyết vấn đề. Từ đó mà thu nhận tri thức mới và rèn luyện kỹ năng mới. 2.3.3. Chỉ đạo giáo viên sử dụng phương pháp quan sát nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh khi tìm hiểu kiến thức mới.
  7. Như chúng ta đã biết muốn học tập có kết quả, giáo viên cần giúp học sinh sử dụng tối đa các giác quan khác nhau, đặc biệt là thị giác và thính giác đóng vai trò quan trọng trong việc học Khoa học cũng như trong học tập và sinh hoạt hằng ngày. Xưa nay, người ta thường hay nói: “Tôi nghe và tôi quên, tôi nhìn và tôi nhớ, tôi làm và tôi hiểu”. Thật vậy nếu chỉ được nghe thì chỉ trong thoáng chốc là quên ngay vấn đề được nghe nếu ta ghi nhớ không chủ định. Còn nếu ta quan sát sự vật hiện tượng ta sẽ nhớ và nhớ lâu hơn. Do vậy, trong giáo dục học sinh, đặc biệt là học sinh Tiểu học đang phát triển về thể chất, tâm sinh lý, đặc điểm của các em là chóng nhớ mau quên. Vì vậy, trong quá trình chỉ đạo chuyên môn tôi đã hướng dẫn giáo viên thiết kế bài dạy, thiết kế hoạt động nhận thức của các em theo quan điểm tích cực hoạt động học của học sinh - Tức là tôi đã chỉ đạo giáo viên dạy học sinh cách học, dạy học sinh cách tự học. Khi dạy học sinh học tập bằng phương pháp quan sát trong các giờ Khoa học tôi đã chỉ đạo thực hiện theo quy trình sau: Bước 1: Xác định mục tiêu quan sát: Trước khi tiến hành quan sát, giáo viên cần giúp học sinh nắm được mục đích của của việc quan sát: quan sát để làm gì, quan sát phải nắm được những thông tin nào, rút ra được những kiến thức thức nào? Tránh được tình trạng học sinh quan sát chung chung không cụ thể. Ví dụ: Bài 5- Vai trò của không khí và bảo vệ bầu không khí trong lành - Qua quan sát tranh học sinh: Nêu được + Vai trò của không khí đối với sự cháy. + Vai trò của không khí đối với sự sống. + Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí. + Những việc nên làm để bảo vệ bầu không khí trong lành. Bước 2: Lựa chọn đối tượng quan sát:
  8. Đối tượng quan sát trong Khoa học không chỉ là các sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên mà còn là các hiện tượng, sự vật ngoài xã hội. Do đó để dạy học phát huy tính tích cực ở học sinh, giáo viên luôn phải có sự chuẩn bị lựa chọn đồ dùng phù hợp. Đó là đồ dùng luôn đảm bảo khoa học và chứa đựng nội dung dạy học như: Đồ dùng dạy học phải to, rõ ràng, có màu sắc đẹp để thu hút sự chú ý của học sinh. Ví dụ: Bài 20: Nấm ăn và nấm trong chế biến thực phẩm - Đối tượng quan sát của học sinh trong bài này là các lại nấm ăn và nấm trong chế biến thực phẩm,.. Giáo viên cần cho học sinh nhận biết đặc điểm từng lại năm trong khi thực hành. Giáo viên cho học sinh chuẩn bị và mang đến lớp để các em cùng quan sát, làm thí nghiệm giúp các em quan sát đạt hiệu quả hơn là đọc thông tin sách giáo khoa. Bước 3: Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát. - Để việc quan sát có hiệu quả, giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát đúng đối tượng và biết quan sát, biết kết hợp với các sự vật có liên quan qua lại với nhau. Các em phải quan sát liên tục, sâu, rộng, chặt chẽ vào từng bộ phận của sự vật hiện tượng mà các em quan sát và nghiên cứu Để đạt được mục đích quan sát mà các em đã nắm được trước khi học sinh quan sát đó là mục đích quan sát để làm gì? Quan sát phải nắm được những thông tin nào, rút ra được những kiến thức thức nào? Tránh được tình trạng học sinh quan sát chung chung không cụ thể. Kết hợp quan sát giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để học sinh có cơ sở quan sát. Ngoài ra, trong quan sát giáo viên nên cho các em được đặt câu hỏi nêu những thắc mắc của mình trong khi quan sát và sau khi quan sát để hiểu rõ vấn đề và tự chủ nắm vững kiến thức. Giáo viên phải biết hướng dẫn học sinh kết hợp nhiều giác quan để quan sát như: Dùng thị giác quan sát, dùng tay sờ vào sự vật, hiện tượng, ngửi, nghe, nếm được sự vật nếu có thể đối với nhưng sự vật hiện tượng không có ảnh hưởng xấu cho sức khỏe bản thân. Xác định được mức độ quan sát: Quan sát bao quát hay cụ thể, gần hay xa, chú ý
  9. đến chi tiết nào nhất, có khi học sinh không xác định được giáo viên sẽ xác định giúp học sinh. - Trong khi dạy học quan sát giáo viên nên chọn hình thức quan sát phù hợp với nội dung dạy học chứ không phải là hình thức trưng bày. Khi học sinh tiến hành giáo viên luôn nhớ: định thời gian cho học sinh làm việc để đạt hiệu quả. - Giáo viên cần phải khéo léo gợi mở cho học sinh để mỗi em đều biết phân tích, suy nghĩ, tìm tòi, tổng hợp và xử lí thông tin sau quan sát. Vì khả năng so sánh phân tích tổng hợp của mỗi học sinh khác nhau. Đặc biệt là những họ sinh trung bình, học sinh yếu thì khả năng này rất chậm và hạn chế. Để phát huy tính tích cực theo khả năng của mỗi học sinh Giáo viên cần đến các nhóm, cá nhân giúp học sinh tự giác và quan sát thông qua các câu hỏi gợi mở khi cần thiết. - Ngoài ra, giáo viên cần phải biết tổ chức cho học sinh dự đoán kết quả quan sát theo ý riêng từng cá nhân các em, rồi quan sát, ghi chép, so sánh, đối chiếu với dự đoán và rút ra kiến thức. Trong và sau khi quan sát học sinh sẽ được trao đổi với bạn trong nhóm về vấn đề đang quan sát, có thể đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi cho nhau. Qua quá trình học tập lẫn nhau trong nhóm sẽ làm cho các em tự tin hơn, có cơ hội để các em thể hiện mình và đồng thời các em cũng được phân tích, so sánh, tổng hợp, xử lý thông tin đã thu thập để cùng tìm ra kiến thức. Ví dụ: Bài 16- Động vật cần gì để sống - Để học sinh có hứng thú giáo viên nên tìm và tổ chức cho học sinh xem một đoạn băng hình về môi trường sống của động vật. - Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm 4, kết hợp quan sát hình 1, 2 sách giáo khoa trang 59 và trả lời câu hỏi: + Các con vật trong hình cần những gì để sống? + Kể thêm những yếu tố cần thiết khác để động vật sống và phát triển bình thường. Giáo viên có thể gợi mở cho học sinh:
  10. + Để quan sát môi trường xung quanh, di chuyển, tìm kiếm thức ăn hay sưởi ấm cơ thể động vật cần những điều kiện gì? + Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng gì đến động vật không? Nó sẽ làm gì để thích nghi? Quan quan sát hình 2, liên hệ thực tế, thảo luận các câu hỏi, học sinh rút ra được: + Động vật cần đầy đủ thức ăn, nước uống để sống và phát triển. + Động vật cần ánh sáng để quan sát môi trường xung quanh, di chuyển, tìm kiếm thức ăn hay sưởi ấm cơ thể. + Khi nhiệt độ môi trường quá thấp, quá cao hoặc thay đổi đột ngột, động vật có thể bị chết nên chúng thường tìm cách trú ẩn Cũng nhờ quan sát và kết hợp với hiểu biết thực tế mà học sinh nắm bắt thức ăn của động vật, sự khác biệt giữa thức ăn của động vật so với “thức ăn” của thực vật. Học thảo luận nhóm: Trong khi học sinh làm việc giáo viên quan sát giúp đỡ các nhóm đặc biệt là đối tượng học sinh yếu, học sinh còn nhút nhát bằng cách đặt câu hỏi gợi mở cụ thể, rõ ràng cần động viên khích lệ các em để không có học sinh không làm việc. Bước 4: Trình bày kết quả quan sát. Sau khi học sinh quan sát, xử lý thông tin giáo viên gọi đại diện các nhóm báo cáo kết quả thảo luận giáo viên nên dành ưu tiên cho học sinh yếu hoặc trung bình trước và bằng những câu hỏi đơn giản hơn nhằm khích lệ các em. Tiếp đó là đại diện học sinh khá hơn các em sẽ trả lời báo cáo ý khó hơn và cuối cùng là HS khá giỏi báo cáo khái quát hoặc nêu kết luận. Với học sinh Tiểu học, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của các em rất hạn chế, đặc biệt là đối với những học sinh chậm chạp, nhút nhát thì vấn đề giao tiếp lại khó hơn nhiều. Vì thế trong quá trình học tập của học sinh giáo viên phải chú ý rèn luyện cho các em nhất là trong khi các em bày tỏ ý kiến - Báo cáo kết quả sau quan sát. Giáo viên chú ý gợi mở cho các em nói nhiều hơn, lúc đầu có thể nói câu ngắn, cấu trúc chưa rõ ràng
  11. song dần dần các em nói được câu dài hơn, rõ ràng hơn và có ngữ điệu phù hợp, tự tin mạnh dạn hơn. Mặt khác, trong giờ học Khoa học cũng như các môn học khác giáo viên phải luôn tạo không khí học tập tự nhiên, thoải mái, có sự gần gũi giữa cô và trò giúp các em tự tin có thể nói trước đám đông. Làm như thế học sinh nào cũng tự tin nêu được suy nghĩ của mình và trao đổi với mọi người kết quả quan sát. Vì vậy kĩ năng giao tiếp của các em được nâng lên. Ví dụ: Để thực nghiệm sử dụng phương pháp quan sát khi dạy bài “Tính chất của nước và nước với cuộc sống”, giáo viên đã chuẩn bị bài trao đổi cách sử dụng phương pháp này khi dạy, tôi đã góp ý và định hướng cho giáo viên như sau: Khi đã thực hiện các bước: Bước 1: Mục đích quan sát: Quan sát và làm thí nghiệm đơn giản để phát hiện ra một số tính chất của nước. Bước 2: Giáo viên cho học sinh quan sát theo nhóm, định hướng quan sát cho các em bằng một số câu hỏi gợi ý cụ thể: Chuẩn bị đồ dùng thủy tinh không màu: một cốc, 1 bát, 1 chai; nước sạch có thể uống được. Rót cùng một lượng nước vào cốc, bát và chai. Các nhóm hãy: ngửi, nếm và quan sát hình dạng của nước trong mỗi đồ vật. Qua sự định hướng bằng câu hỏi của giáo viên, học sinh nắm được đối tượng quan sát. Bước 3: Thảo luận nhóm: chia nhóm học tập. (Quan sát theo nhóm 4) - Các em tiến hành từng thí nghiệm theo yêu cầu với các dụng cụ đã chuẩn bị mang đến lớp và kết hợp quan sát hình 1a,b,c trang 5 và hình 2, 3, 4 trang 6 sách giáo khoa theo nhóm.