SKKN Một số biện pháp trong công tác tổ chức bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay cho học sinh giỏi Lớp 8; Lớp 9 đạt hiệu quả
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp trong công tác tổ chức bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay cho học sinh giỏi Lớp 8; Lớp 9 đạt hiệu quả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_trong_cong_tac_to_chuc_boi_duong_ve_gi.docx
SKKN Một số biện pháp trong công tác tổ chức bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay cho học si.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp trong công tác tổ chức bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay cho học sinh giỏi Lớp 8; Lớp 9 đạt hiệu quả
- 3 Như vây, nếu mỗi giáo viên dạy bồi dưỡng đều chuẩn bị chu đáo nội dung chuyên đề mình đảm trách thì chắc chắn sẽ hấp dẫn được người học - học sinh dễ dàng nắm bắt được mạch kiến thức, lập luận chặt chẽ, trình bày logic hơn và chắc chắn đem lại kết quả cao sau thời gian các em tham gia học bồi dưỡng. Xác định tầm quan trọng của vấn đề và những thực trạng liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, tôi đã cố gắng thu thập tài liệu, nghiên cứu, viết một số chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi về thực hành giải toán bằng máy tính Casio và xin được chia sẻ một chút kinh nghiệm trong công tác tổ chức bồi dưỡng về giải toán trên máy tính casio cho học sinh giỏi lớp 8; 9 cùng với các thầy cô giáo trong tổ chuyên môn nhà trường, trong Phòng giáo dục nhằm phục vụ cho công tác dạy bồi dưỡng cho các em đạt hiệu quả và mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào phong trào mũi nhọn của Ngành. 4. Giới hạn nghiên cứu và phạm vi áp dụng của đề tài: Đề tài được thực hiện trong phạm vi bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay cho học sinh giỏi lớp 8; lớp 9 trường THCS Lý Thường Kiệt và đội tuyển casio lớp 8, lớp 9 của PGD Tam Kỳ dự thi cấp Tỉnh. Đề tài có thể áp dụng cho học sinh giỏi các lớp 6; 7 tham gia bồi dưỡng về giải toán bằng máy tính cầm tay dự thi cấp thành phố do Phòng giáo dục tổ chức và cũng có thể vận dụng để dạy bồi dưỡng môn toán bậc Trung học cơ sở. III. CƠ SỞ LÝ LUẬN: Bộ giáo dục và đào tạo hướng dẫn và yêu cầu các Sở giáo dục và đào tạo; các Phòng giáo dục chỉ đạo các trường phổ thông bậc Trung học cơ sở sử dụng máy tính cầm tay thực hành toán học trong dạy và học như sau: - Sử dụng máy tính cầm tay làm phương tiện thực hành toán học nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học rèn luyện kỹ năng thực hành tính toán. - Các trường bậc Trung học cơ sở đảm bảo thực hiện sử dụng máy tính cầm tay đúng yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa đề ra và theo quy định trong phân phối chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo. - Tổ chức cuộc thi "Giải toán trên máy tính cầm tay" cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp quốc gia. Mục tiêu của giáo dục là "Nâng cao dân trí, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước..." Theo đó, Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Tam Kỳ đã tích cực tổ chức chỉ đạo công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hằng năm một cách thường xuyên và đều đặn. Các trường Trung học cơ sở trong thành phố lấy đó là một trong những yếu tố cấu thành thương hiệu của nhà trường. Kinh nghiệm giảng dạy cho thấy để chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8; lớp 9 về giải toán trên máy tính cầm tay đạt kết quả cao thì người thầy phải hệ thống được các kiến thức cơ bản về toán học liên quan đến các chuyên đề về giải toán trên máy tính cầm tay ở lớp 8; lớp 9 chuẩn bị nội dung phù hợp cho từng buổi lên lớp, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, sáng tạo trong soạn giảng, tìm cách tối ưu nhất tạo cho lớp học vui vẻ, sinh động mới khơi dậy được trong các em sự ham thích, say mê tự tìm tòi thêm kiến thức mới. Khuyến khích tinh thần cho các em tự nghiên cứu, tự rèn luyện để lĩnh hội thêm kiến thức. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Thuận lợi: Hằng năm, Phòng giáo dục và đào tạo thành phố Tam Kỳ tổ chức thi học sinh giỏi cấp thành phố về thí nghiệm thực hành Lý, Hoá, Sinh 8 và giải toán bằng máy tính Casio lớp 8; lớp 9 cùng với kỳ thi học sinh giỏi các môn văn hóa khối lớp 6; 7; 8 kèm theo môn thi giải toán bằng máy tính Casio lớp 6;
- 4 lớp 7 nên các em bước đầu tiếp cận được một số kiến thức về giải toán trên máy tính Casio mức nâng cao theo các chuyên đề bồi dưỡng. Ngành công nghệ thông tin phát triển đã góp phần hỗ trợ rất lớn cho giáo viên trong công tác giảng dạy và việc học tập của học sinh. Cả thầy và trò đều có thể truy cập vào nhiều địa chỉ khác nhau để tìm tài liệu khi cần thiết. Khó khăn: - Sự chênh lệch về khả năng tiếp thu các chuyên đề cũng như khả năng tự nghiên cứu của các học sinh trong một đội tuyển khá cao. - Các em trong đội tuyển không sử dụng cùng một loại máy tính nên việc thực hiện qui trình ấn phím theo yêu cầu của đề toán cũng khác nhau. - Điều kiện học tập của các em ở vùng nông thôn có nhiều hạn chế, như gia đình không có máy tính, chưa nối mạng Internet nên việc tiếp cận với công nghệ thông tin phục vụ cho việc sưu tầm tài liệu trên mạng để học bồi dưỡng là điều khó khăn. - Có sự nhầm lẫn giữa sơ lược cách giải với qui trình ấn phím, trình bày lời giải của bàn toán hình học quá dài dòng,... - Cũng bài toán đó, một số đề thi có đáp án cho phép học sinh áp dụng các công thức (không qua chứng minh) nhưng cũng có đáp án không công nhận kết quả đúng khi các em áp dụng công thức. Xuất phát từ thực tế nêu trên, từ khi nhận nhiệm vụ bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn giải toán bằng máy tính casio (năm học 2004 - 2005 đến nay), bản thân đã cố gắng thu thập tài liệu, đầu tư biên soạn một số chuyên đề với mong mỏi giúp học sinh giỏi có thêm kinh nghiệm để tham gia học bồi dưỡng môn giải toán trên máy tính cầm tay và cố gắng tìm những biện pháp tối ưu nhằm phục vụ tốt nhất việc học bồi dưỡng của đội tuyển học sinh giỏi môn Casio lớp 8; lớp 9 trường THCS Lý Thường Kiệt, đội tuyển Casio lớp 8, lớp 9 của Phòng giáo dục thành phố Tam Kỳ dự thi cấp Tỉnh và có năm thực hiện bồi dưỡng cho học sinh lớp 9 dự thi cấp quốc gia. V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Gồm ba phần: * PHẦN THỨ NHẤT: Một số biện pháp trong công tác tổ chức, bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay cho học sinh giỏi lớp 8; lớp 9 đạt hiệu quả. * PHẦN THỨ HAI: Giới thiệu một số công thức toán học để các em áp dụng trong quá trình học bồi dưỡng về giải toán trên máy tính cầm tay và nếu có thể chứng minh để bổ sung, nâng cao kiến thức môn Toán. * PHẦN THỨ BA: Giới thiệu các sách tham khảo, các địa chỉ truy cập trên mạng Internet để học sinh sưu tầm tài liệu tự học. Sau đây là nội dung minh họa cụ thể cho từng phần. PHẦN THỨ NHẤT: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG CÔNG TÁC TỔ CHỨC, BỒI DƯỠNG VỀ GIẢI TOÁN TRÊN MÁY TÍNH CẦM TAY CHO HỌC SINH GIỎI LỚP 8, LỚP 9 ĐẠT HIỆU QUẢ: V.1/ Biện pháp 1: Tổ chức phát hiện và tuyển chọn đội tuyển. Bước 1: Căn cứ vào điểm và kết quả của năm học trước, nhất là điểm qua các kỳ thi mà nhà trường tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc và trung thực. Tất nhiên điểm số không phải là cơ sở và căn cứ chủ yếu, càng không phải là
- 5 điều kiện quyết định để lựa chọn học sinh có năng khiếu nhưng nó vẫn là kết quả trực quan ban đầu để đánh giá và đưa các em vào danh sách tuyển chọn. Bước 2: Xem xét kết quả của quá trình học tập ở nhà trường. Một học sinh liên tục nhiều năm đạt học sinh giỏi và có kết quả trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp thành phố thì đó chính là một căn cứ tin cậy và nó cũng thể hiện đầy đủ những khả năng phẩm chất đáng quí của một học sinh có năng khiếu. + Tìm hiểu thông tin từ giáo viên đã từng giảng dạy ở các lớp. + Dựa vào thực tế quá trình học tập bồi dưỡng. Đây là những cơ sở thực tiễn có chiều sâu chính xác và sác xuất cao vì qua đó các em được bộc lộ và thể hiện đầy đủ những khả năng của mình . Bước 3: Tuyển chọn bằng cách trực tiếp phỏng vấn trao đổi đối với từng cá nhân học sinh. Qua thực tế thì cách này mang lại hiệu quả khá cao bởi vì người dạy sẽ phát hiện được những học trò thích và ham muốn bộ môn của mình bởi trong quá trình học tập và giảng dạy giữa thầy và trò bao giờ cũng có sự đồng cảm và ăn ý với nhau. (Những câu hỏi tôi đã đạt ra với học sinh là: Điều mà em cảm thấy lý thú và hấp dẫn khi tham gia học bồi dưỡng về thực hành giải toán trên máy tính cầm tay là gì? Em có thực sự thích học bồi dưỡng về thực hành giải toán trên máy tính cầm tay không? Vì sao? ... ) Bước 4: Kiểm tra đánh giá sau thời gian bồi dưỡng và tổ chức điều chỉnh thành lớp đội tuyển. V.2/ Biện pháp 2: Công tác tổ chức bồi dưỡng. 2.1. Phân công giáo viên giảng dạy: a) Đối với phạm vi tổ Toán trường THCS Lý Thường Kiệt: Sau khi tuyển chọn học sinh, nhà trường chỉ đạo tổ Toán chúng tôi trực tiếp phân công giáo viên dạy. Đây là khâu hết sức quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả các lớp đội tuyển vì phải có thầy giỏi thì mới có trò giỏi. Chính vì vậy, tổ Toán trường THCS Lý Thường Kiệt chúng tôi luôn chú ý đến những giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ năng lực chuyên môn giỏi - có kiến thức và hiểu biết sâu rộng về thực hành trên giải toán bằng máy tính cầm tay, có tinh thần cầu tiến, trách nhiệm cao, nhiệt tình say mê với công việc; có kinh nghiệm và phương pháp dạy phù hợp - biết hướng cho các em động cơ thái độ học tập đúng đắn tạo niềm say mê yêu thích môn học này và niềm hứng thú trong học tập cho các em. Cụ thể, tại trường THCS Lý Thường Kiệt bản thân tôi đảm trách bôi dưỡng cả hai khối lớp 8 và 9. b) Đối với phạm vi Phòng giáo dục Tam Kỳ: Sau khi tổ chức khảo sát chọn học sinh giỏi cấp thành phố về giải toán bằng máy tính Casio lớp 8, lớp 9; Phòng giáo dục Tam Kỳ trực tiếp chọn giáo viên tham gia dạy bồi dưỡng và phân công cho bản thân tôi làm nhóm trưởng. Ở các năm học: 2010 - 2011; 2011 - 2012: Phòng giáo dục chọn 2 giáo viên đã có nhiều kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng thực hiện. Ở các năm học 2012 – 2013; 2013 - 2014 và 2014 – 2015: Ngoài 2 giáo viên đã tham gia bồi dưỡng ở các năm học trước, Phòng giáo dục chọn thêm - 2 giáo viên tham gia bồi dưỡng. (trong đó có 2 giáo viên trẻ để kế cận các giáo viên lớn tuổi).
- 6 Năm học Giáo viên bồi dưỡng Đơn vị công tác Nhiệm vụ 2010 - 2011 1/ Phan Thị Bích Liễu Lý Thường Kiệt Dạy Casio 8; 9 2/ Nguyễn Thị Thu Trâm Nguyễn Du Dạy Casio 8; 9 2011 - 2012 1/ Phan Thị Bích Liễu Lý Thường Kiệt Dạy Casio 8; 9 2/ Nguyễn Thị Thu Trâm Nguyễn Du Dạy Casio 8; 9 1/ Phan Thị Bích Liễu Lý Thường Kiệt Dạy Casio 8; 9 2012 – 2013 2/ Nguyễn Thị Thu Trâm Nguyễn Du Dạy Casio 8; 9 3/ Nguyễn Thị Thu Hồng Nguyễn Du Dạy Casio 8 4/ Mai Thị Ngọc Huỳnh Thúc Kháng Dạy Casio 8 1/ Phan Thị Bích Liễu Lý Thường Kiệt Dạy Casio 8; 9 2/ Nguyễn Thị Thu Trâm Nguyễn Du Dạy Casio 8; 9 2013 - 2014 3/ Nguyễn Thị Thu Hồng Nguyễn Du Dạy Casio 8 4/ Mai Thị Ngọc Huỳnh Thúc Kháng Dạy Casio 8 1/ Phan Thị Bích Liễu Lý Thường Kiệt Dạy Casio 8; 9 2/ Nguyễn Thị Thu Trâm Nguyễn Du Dạy Casio 8; 9 2014 - 2015 3/ Mai Thị Ngọc Huỳnh Thúc Kháng Dạy Casio 8; 9 4/ Ngô Thị Mỹ Thủy Lý Tự Trọng Dạy Casio 8 Với trách nhiệm là một nhóm trưởng, tôi luôn cố gắng tạo điều kiện: - Phân công cho các thầy cô giáo nhận các chuyên đề phù hợp với khả năng, sở trường của từng người để phục vụ tốt nhất cho công tác bồi dưỡng. - Tham gia góp ý một số chuyên đề cho giáo viên trẻ mới vừa được Phòng giáo dục phân công bồi dưỡng. 2.2. Điều kiện phục vụ cho công tác bồi dưỡng a) Thời gian: Căn cứ vào thời khóa biểu bồi dưỡng của Ban giám hiệu nhà trường, của Phòng giáo dục Tam Kỳ chúng tôi thực hiện nghiêm túc. Ngoài ra, tôi luôn tận dụng thời gian rãnh rỗi để bồi dưỡng, hỗ trợ cho các em với một mong mỏi là mong các em có thêm kiến thức. b) Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy – học bồi dưỡng: + Phòng học bồi dưỡng: Nhà trường bố trí phòng học bồi dưỡng. + Các loại máy tính: Nhà trường (giáo viên bồi dưỡng) chuẩn bị các loại máy tính phù hợp để phục vụ quá trình giảng dạy. Học sinh: Phụ huynh trang bị cho các em máy tính, vở, viết, sách tham khảo (nếu có) cần thiết để học bồi dưỡng. Với đội tuyển học sinh giỏi về giải toán bằng máy tính casio lớp 8; lớp 9 ở trường THCS Lý Thường Kiệt - xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ với điều kiện còn nhiều khó khăn nên các em dùng các loại máy tính khác nhau và có những máy tính đã quá cũ so với một số máy mới hiện đại vừa được sản xuất. Điều này, gây không ít khó khăn cho giáo viên trong quá trình dạy bồi dưỡng. Chính vì thế, để đạt được một số kết quả nhất định thì bản thân chúng tôi phải mày mò tìm hiểu kỹ chức năng và công dụng của mỗi loại máy tính, từ đó tìm qui trình ấn phím phù hợp nhằm giúp các em tự tin trong khi học bồi dưỡng. c) Tài liệu bồi dưỡng: Giáo viên tự biên soạn nội dung bồi dưỡng theo từng chủ đề. Thường thì mỗi chủ đề tôi soạn theo 3 phần: + Cung cấp kiến thức lý thuyết hoặc công thức toán học (nếu có). + Bài tập áp dụng. + Sơ lược cách giải, qui trình ấn phím hoặc kết quả của mỗi bài tập. + Bài tập tự luyện.
- 7 Biện pháp này được minh hoạ bởi chủ đề "TÍNH GIÁ TRỊ CỦA BIỂU THỨC ĐẠI SỐ" ở phần phụ lục (IX. 1) 2.3. Phương pháp bồi dưỡng: - Trang bị cho học sinh các kiến thức, kỹ năng về nội dung cần thực hiện. - Trong quá trình giảng dạy tôi luôn lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm với mục đích nhằm phát huy tính sáng tạo, tính độc lập tự chủ,... - Sử dụng các phương pháp tích cực cụ thể như: chú trọng rèn phương pháp tự học cho học sinh, tăng cường học tập cá thể với học tập hợp tác. - Hướng dẫn tổ chức cho học sinh tự mình khám phá kiến thức mới. Luyện cho các em thói quen khai thác đề ở nhiều góc độ, phương diện khác nhau, biết đặt giả thiết và tìm được nhiều cách giải khác nhau. - Tạo cho học sinh hứng thú học tập, tinh thần ham học hỏi tìm tòi, giúp cho các em có niềm say mê trong quá trinh tham gia bồi dưỡng. Cách làm của tôi là: + Luôn tôn trọng các lời giải của học sinh, đưa lời giải đó ra trước đội tuyển để phân tích ưu điểm, nhược điểm, đề cao cái hay, cái sáng tạo của học sinh đó. + Học cùng các em: Có sổ tay riêng chuyên biên tập các lời giải hay độc đáo của học sinh coi đây là tài liệu tham khảo cho toàn đội tuyển năm đó và cả các năm sau. + Cung cấp cho học sinh trong đội tuyển biết đó là cách giải hay mà tôi vừa giới thiệu là của học sinh có tên (A, B, C,...) năm học (2010 - 2011; 2011 – 2012; 2012 - 2013;...) tạo cho các em thấy tự hào về những anh chị lớp trước và là nguồn động viên để các em cố gắng (bởi đã có học sinh phát biểu: Mình cố làm một cách khác để cô giới thiệu bài của mình với lớp sau đi kìa!) - Luôn khuyến khích động viên các em tìm tòi, nghiên cứu. Với một sáng kiến của các em có thể là rất nhỏ nhưng mình biết khuyến khích thì sẽ nhen nhóm thành ngọn lửa say mê học tập, nghiên cứu. Trong quá trình dạy bồi dưỡng, poto tài liệu gửi trước đến cho từng học sinh và yêu cầu học sinh thực hiện theo trình tự: - Trước hết bản thân các em tự nghiên cứu thực hiện. - Hợp tác làm việc theo nhóm ở nhà (hoặc ở trường) sau khi tự nghiên cứu. - Đến lớp học bồi dưỡng, học sinh kiểm tra lại kết quả làm bài ở nhà của nhau, tự điều chỉnh những sai sót (nếu có) - Nêu lên những vướng mắc trong chuyên đề để các bạn trong lớp cùng giáo viên bồi dưỡng giải đáp. Chẳng hạn: Khi thực hiện nội dung: "Tính giá trị của biểu thức đại số" tôi nhận thấy: - Tất cả học sinh tự giải quyết tốt một số dạng tính toán đơn giản. - Phần lớn thực hiện tương đối tốt dạng tính giá trị biểu thức có qui luật: + Tìm công thức tổng quát của số hạng của biểu thức. + Sử dụng công thức tính tổng và thực hiện trên máy nhờ các phím: ... SHIFT ... ... ... ... ... (vẫn có một vài em chưa tìm được công thức tổng quát ...
- 8 của số hạng trong biểu thức, nhưng khi hoạt động nhóm xong các em hiểu và vận dụng được) - Thực hiện tốt việc kiểm tra kết quả bài làm của nhau điều chỉnh những chỗ sai, thiếu sót. Nhưng gặp khó khăn khi thực hiện tính toán các biểu thức có áp dụng thêm công thức toán học, chẳng hạn: Bài tập 1: Tính chính xác giá trị các biểu thức sau: A = 1.1 + 2.2! + 3.3! +.......+ 20.20! B = 13 + 23 + 33 +.....+ 20143. Bài tập 2: 1 1 1 1 1 1 1 1 Cho tổng: Sn 1 1 1 ... 1 22 32 32 42 42 52 n2 (n 1)2 a) Viết qui trình ấn phím để tính Sn. b) Tính: S10; S2012 (kết quả làm tròn đến chữ số thập phân thứ 4) Hướng giải quyết: * Đối với bài tập 1A: - Giáo viên xây dựng cho các em kiến thức: n! = (n + 1)! - n! (1) Thật vậy: n!.(n + 1) - n! = n! (n + 1 - 1) = n! - Áp dụng công thức (1) vào mỗi số hạng của tổng E, rút gọn ta có: 21! - 1. - Đến đây thì học sinh thực hiện được. * Đối với bài tập 1B: 3 2 2 - Cung cấp cho học sinh công thức tính tổng: 3 3 3 n (n 1) 1 2 3 ...n 4 - Áp dụng công thức trên các em dễ dàng tính chính xác giá trị biểu thức G * Đối với bài tập 2 về viết qui trình ấn phím và tính tổng Sn a) Qui trình ấn phím: * Với máy tính fx 570 MS: 1 1 Gán: 2 -> D (biến đếm) ; 1 -> A (tổng) 22 32 1 1 Nhập dòng lệnh: D = D + 1 : A = A + 1 D2 (D 1)2 Ấn liên tiếp phím cho đến khi D= n, ấn thêm 1 lần phím đọc kết quả Sn * Với máy fx 570ES (hoặc với máy VINACAL 570 ES PLUS II, ...) 1 1 Nhập công thức: D = D + 1 : A = A + 1 D 2 ( D 1)2 Dùng lệnh: CALC , máy hỏi: D? ta nhập 2 1 1 máy hỏi A? ta nhập 1 22 32 Ấn ... cho đến khi D = n, ấn thêm 1 lần phím đọc kết quả. b) Từ qui trình ấn phím ở câu a) các em dễ dàng tính được S 10 = 10,9091; nhưng để tính S2012 thì học sinh khó thể thực hiện được.
- 9 Chính vì thế việc giới thiệu sơ lược cách giải cho bài toán này thực sự cần thiết: đó là xây dựng cho học sinh chứng minh bài toán phụ: 1 1 1 1 1 1 1 1 1 `= " "Với 2 số dương a và b, ta có: a2 b2 (a b)2 a b a b a b a b Sau đó áp dụng với a = 1 và b lần lượt bằng 1; 2; 3; ... ; n, ta được: 1 1 1 1 1 1 1 1 Sn = 1 + 1 1 ... 1 1 2 2 3 3 4 n n 1 1 = n + 1 . n 1 1 Từ đó dễ dàng tính được: S = 2013 = 2012,9995 2012 2013 Hoặc khi thực hiện nội dung "Dãy truy hồi" tôi nhận thấy: - Tất cả học sinh tự giải quyết tốt dạng: Cho dãy số U1, U2, ,Un thoả: U1 = 1; U2 = 3; Un+2 = Un+1 + Un (n N) a) Lập quy trình bấm phím liên tục tính Un + 2 theo Un+1 và Un b) Tính U20, U21, U22 Nhưng gặp khó khăn với dạng bài tập: Cho dãy số:U1, U2, ,Un thoả: U8 = 2346; U9 = 4650; Un+2 = 3Un+1 -2Un * (n N ). Tính: U1 ,U2 ,U20 ,U29 . Để giải quyết khó khăn trên, tôi định hưóng cho các em như sau: - Bước 1: Từ công thức:Un+2 = 3Un+1 -2Un suy ra: Un = 1,5Un+1 - 0,5Un+2 - Bước 2: Lập qui trình ấn phím để tính Un theo Un+ 1 và Un +2 để tính U2; U1 theo yêu cầu đề toán. Với máy tínhFX 570MS: * Để tính U2; U1 ta thực hiện qui trình ấn phím như sau: Gán: 8 -> D (biến đếm) 4650 -> A (u9) 2346 -> B (u8) Nhập dòng lệnh: D = D - 1: A= 1,5B - 0,5A: D = D - 1: B = 1,5A - 0,5B Ấn liên tiếp phím c ho đến khi D = 2, ấn thêm 1 lần phím , đọc kết quả U2, ấn thêm 2 lần phím nữa ta có U1. * Để tính U20; U29 ta thực hiện qui trình ấn phím như sau: Gán: 9 -> D (biến đếm) ; 2346 -> A (u8) ; 4650 -> B (u9) Nhập dòng lệnh: D = D + 1: A = 3B - 2A: D= D + 1: B = 3A - 2B Ấn liên tiếp phím cho đến khi D = 20, ấn thêm 1 lần phím , có kết quả U20, sau đó ấn tiếp phím cho đến khi D = 29, ấn thêm 2 lần phím , có kết quả U29. Với máy FX 570ES hoặc với máy VINACARD 570 ES PLUS II,...: * Để tính U2; U1 ta thực hiện qui trình ấn phím như sau: Nhập công thức: D =D - 1: B = 1,5A - 0,5B: D= D - 1: A = 1,5B - 0,5A Dùng lệnh: CALC máy hỏi: D? nhập 8 máy hỏi: B? nhập 4650 máy hỏi: A? nhập 2346 Ấn liên tiếp phím cho đến khi D = 2, ấn thêm 1 lần phím đọc kết quả U2 và ấn thêm 2 lần phím nữa ta có U1; * Để tính U20; U29: Thực hiện tương tự như trên, ta tìm được kết quả theo yêu cầu.
- 10 V.3/ Biện pháp 3: Lập kế hoạch cùng nội dung cho giáo viên dạy, cho học sinh học một cách cụ thể, chi tiết. Quá trình dạy bồi dưỡng được chia ra nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn phải cụ thể đến từng buổi của từng tuần. Cụ thể: 3.1 / Những nội dung và thời gian cụ thể bồi dưỡng cho học sinh lớp 8 ở trường THCS Lý Thường Kiệt và đội tuyển Casio Phòng giáo duc Tam Kỳ dự thi cấp Tỉnh như sau: Thời gian bồi dưỡng môn Casio lớp Thời gian bồi dưỡng cho đội Buổi 8 ở trường được qui định trong 12 tuyển Casio 8 - PGD Tam Kỳ thứ tuần, mỗi tuần 2 buổi thì tôi sẽ lập dự thi cấp Tỉnh, tôi cùng các kế hoạch cho đội tuyển như sau: GVBD lập kế hoạch như sau: 1 Tính giá trị của các biểu thức số. Dãy số có quy luật. 2 Tìm ƯCLN, BCNN, Đồng dư thức, Các bài toán số học: ƯCLN, tìm số dư của phép chia hai số. BCNN, số nguyên tố, hợp số. 3 Tìm một chữ số (hoặc một số hoặc các Dãy số truy hồi. số) thỏa mãn yêu cầu của đề toán. 4 Liên phân số. Đồng dư thức. 5 Hàm số; Đại lượng tỉ lệ thuận; Đại Tính giá trị của biểu thức đại số. lượng tỉ lệ nghịch. 6 - Thống kê. Một số bài toán hình học (Tính - Kiểm tra các dạng toán đã học từ tuần độ dài đoạn thẳng, số đo góc). 1 đến hết tuần 3 (thời gian: 60 phút). 7 Xác định đa thức, tìm phần dư trong Liên phân số phép chia đa thức. 8 Toán kinh tế, lãi suất, tăng trưởng. Diện tích đa giác. 9 Giải phương trình, tìm nghiệm gần Phương trình, hệ phương trình. đúng của phương trình. 10 Giải hệ phương trình. Hàm số, đồ thị, đại lượng tỉ lệ thuận, đại lượng tỉ lệ nghịch. 11 Phương trình nghiệm nguyên. Một số bài toán về ứng dụng tam giác đồng dạng, định lý Talet. - Tính giá trị của biểu thức đại số. Một số bài toán về ứng dụng 12 - Kiểm tra các dạng toán đã học từ tuần tam giác đồng dạng, định lý 4 đến hết tuần 6 (thời gian: 60 phút). Talet (tt). 13 Đồ thị hàm số y = ax + b (a khác 0). Đa thức. 14 Dãy truy hồi Phương trình nghiệm nguyên 15 Dãy số có qui luật. Toán kinh tế, dân số 16 Giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của Khảo sát cấp thành phố vòng 2. biểu thức đại số. 17 Tính độ dài đoạn thẳng, số đo góc. Ôn tập tổng hợp. 18 Tính độ dài đoạn thẳng, số đo góc(tt). Ôn tập tổng hợp.
- 11 19 Tính diện tích đa giác. Ôn tập tổng hợp. Tính diện tích đa giác (t) 20 Kiểm tra các dạng toán đã học từ tuần Ôn tập tổng hợp. 7 đến hết tuần 10 (thời gian: 60 phút). 21 Ôn tập tổng hợp. Ôn tập tổng hợp. 22 Ôn tập tổng hợp. Ôn tập tổng hợp. 23 Ôn tập tổng hợp.. Ôn tập tổng hợp. Kiểm tra tổng hợp chọn học sinh dự 24 Ôn tập tổng hợp. thi cấp thành phố (thời gian 120 phút). 25 Ôn tập tổng hợp. 3.2/ Những nội dung và thời gian cụ thể bồi dưỡng cho học sinh lớp 9: Căn cứ vào kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 của Phòng giáo dục: học sinh lớp 9 được tham gia học bồi dưỡng mỗi tuần 3 buổi để chuẩn bị dự thi cấp Tỉnh, ngoài ra các em còn phải học thể dục, sinh hoạt tập thể ở trường, nên quỹ thời gian còn lại rất ít. Do đó, phần lớn chúng tôi cho các em: • Ôn lại những chuyên đề đã được học trong năm lớp 8. • Cung cấp thêm một vài chuyên đề như: - Đồ thị hàm số y = a.x + b; y = a.x2 (a khác 0) - Hệ thức lượng trong tam giác vuông. - Một số bài toán về góc với đường tròn. - Một số bài toán về hình học không gian như: hình hộp chữ nhật, hình chóp, hình trụ, hình nón, hình cầu. • Giới thiệu cho các em một số đề thi cấp thành phố, cấp Tỉnh, cấp quốc gia các năm qua để các em tham khảo, làm bài. Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi do thời lượng lên lớp với đội tuyển không nhiều nên việc hướng dẫn cho học sinh biết cách sử dụng quỹ thời gian của mình một cách hợp lý và hiệu quả, tránh lãng phí thời gian nhưng phải đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, giải trí cho đầu óc sáng suốt. Thực tế cho thấy, học sinh nào có kế hoạch cụ thể về thời gian học và phương pháp tự học tốt sẽ thành công hơn. V.4/ Biện pháp 4:Kiểm tra định kỳ trong quá trình dạy bồi dưỡng. Nhằm đánh giá kiến thức, rèn kỹ năng trình bày bài làm cho học sinh và cũng từ đó khắc sâu nội dung cần thiết đã học, chúng tôi thường thực hiện: Sau khi chọn đội tuyển chính thức và tiến hành dạy bồi dưỡng, chúng tôi thường: - Định kỳ sau khoảng 2 - 3 tuần học cho các em làm bài kiểm tra với nội dung đã học hoặc đã ôn trước, phần này được kiểm tra trong thời gian 60 phút. - Trước khi kết thúc phần ôn tập chung cho các em làm bài khảo sát với đề tổng hợp trong thời gian 120 phút. - Dù là hình thức kiểm tra nào, tôi vẫn luôn tranh thủ thời gian để: + Chấm bài. + Trả bài. + Nhận xét những ưu điểm, tồn tại sau mỗi bài kiểm tra. + Sửa bài để các em biết rõ hơn nội dung đã nắm vững, nội dung nào chưa đạt được giúp cá nhân mỗi em, hoặc nhóm định hướng cố ôn luyện thêm.
- 12 Một số đề kiểm tra đã thực hiện trong quá trình bồi dưỡng Casio lớp 8, lớp 9 tại trường THCS Lý Thường Kiệt - thành phố Tam Kỳ được minh hoạ ở phần phụ lục (IX. 2) V. 5/ Biện pháp 5: Tổ chức cho các em tự học: 5.1/ Cho các em trao đổi về kinh nghiệm tự học, tự rèn luyện: Qua việc trao đổi về kinh nghiệm tự học tự rèn luyện, các em biết cách: - Lập kế hoạch học tập: Khi lập kế hoạch, ta phải biết thực trạng mình đang có thuận lợi gì? khó khăn gì? Từ đó xây dựng cho bản thân kế hoạch tự học phù hợp. - Thực hiện theo kế hoạch đó một cách khoa học. Tuy nhiên, không nhất thiết phụ thuộc vào thời gian biểu tự lập. Nếu tranh thủ được thời gian, các em nên tận dụng để hoàn thành sớm hơn kế hoạch dự định. 5.2/ Các cách tổ chức cho học sinh học: + Học theo tài liệu giáo viên giới thiệu, hướng dẫn cho học sinh trong quá trình bồi dưỡng + Học qua các sách tham khảo, các sách nâng cao từ Thư viện, mượn các anh chị lớp trước. + Tự học để bổ sung thêm kiến thức từ tạp chí toán học, từ mạng Internet, ... 5.3/ Cách ghi nhớ kiến thức: Học sinh ghi nhớ kiến thức bằng cách hệ thống nội dung đã học trên cuốn sổ tay toán học (quyển vở) hoặc lưu lại trên file dữ liệu của mình để tích luỹ thêm nhiều vốn kiến thức. Từ đó hơn ai hết chính các em thấy được kết quả làm việc của mình, trân trọng thêm giá trị sức lao động của bản thân. 5.4/ Đánh giá lẫn nhau: Các học sinh trong đội tuyển đổi bài theo kiểu xoay vòng để kiểm tra bài làm của nhau với phương phâm "học sinh đánh giá lẫn nhau". Thông qua cách làm này học sinh học tập ở nhau những điểm tốt trong cách giải, bổ sung thêm kiến thức từ bài làm của các bạn và sửa chữa cho nhau những thiếu sót. Học sinh có bài làm chưa hoàn chỉnh hoặc chưa đùng nên chú ý những thiếu sót mà các bạn phát hiện, sửa lại thành sản phẩm hoàn chỉnh.- Sau khi học xong mỗi chuyên đề, ngoài nội dung chúng tôi gửi cho học sinh bằng văn bản, tôi thường yêu cầu các em tự ra đề, tự sưu tầm thêm bài tập để tự học, tự bồi dưỡng. Nội dung này gửi về địa chỉ Email của tôi hoặc đánh vi tính (viết tay) gửi trực tiếp về cho tôi. Khuyến khích học sinh bổ sung thêm những dạng bài tập mới chưa có trong chuyên đề. Quá trình tự học này đã giúp các em khắc sâu nội dung kiến thức của chuyên đề, tạo cho các em tinh thần trách nhiệm với công việc. Có thể nói qua đây bản thân giáo viên cũng được tích góp thêm kiến thức bổ sung vào nguồn tài liệu của mình phục vụ tốt hơn việc bồi dưỡng học sinh trong những năm học tiếp theo.
- 13 Một số bài tập mà học sinh chuyển sang Email sau khi học xong mỗi chuyên đề được minh họa ở phần phụ lục (IX. 3) V. 6/ Biện pháp 6: Phối hợp với gia đình học sinh để nắm bắt tình hình học tập ở nhà của các em: - Thông báo với phụ huynh học sinh về kết quả học tập của học sinh trong quá trình tham gia bồi dưỡng (từ kết quả kiểm tra định kỳ sau các chuyên đề) - Qua tìm hiểu từ phụ huynh, nắm bắt rõ hơn tình hình học tập, làm bài ở nhà với bộ môn này. - Tư vấn thêm cho phụ huynh mua các loại máy tính phù hợp để giúp các em học tốt hơn phân môn này. V. 7/ Biện pháp 7: Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để các em tham gia học bồi dưỡng: - Sắp xếp, bố trí thời gian phù hợp về lao động của lớp, trực cờ đỏ, sinh hoạt tập thể để các em tham gia học bồi dưỡng đầy đủ và an tâm trong khi học. V.8/ Biện pháp 8: Hướng dẫn cho học sinh làm một bài kiểm tra hoàn chỉnh: Thông thường một đề thi học sinh giỏi về giải toán trên máy tính cầm tay thường yêu cầu học sinh: 1) Tính và điền kết quả vào ô trống. Phần này các em nên chú ý để đảm bảo yêu cầu đề toán đặt ra: Tính chính xác giá trị của biểu thức hoặc viết dưới dạng phân số (hỗn số) hoặc làm tròn đến chữ số thập phân thứ mấy? 2) Nêu qui trình ấn phím theo yêu cầu của đề toán. Trong phần này tôi lưu ý với các em nhưng điểm sau: - Đọc và xem kỹ phần chú ý về kết quả qui định với bao nhiêu chữ số thập phân. Nếu em nào điền kết quả nhiều hoặc ít hơn số chữ số thập phân qui định thì sẽ không có điểm cho các kết quả đó. - Ghi tên loại máy tính cầm tay mình đang sử dụng khi viết qui trình ấn phím để giải theo yêu cầu của đề toán. - Gán chính xác giá trị: cho biến đếm, cho các số hạng cần thiết của tổng (dãy số) - Các phím chức năng cần đặt trong ô vuông. Đôi khi phải xây dựng sơ lược cách giải bài toán (nếu cần) sau đó mới đi vào phần thực hiện qui trình ấn phím. 3) Trình bày sơ lược cách xây dựng công thức tính độ dài, góc, diện tích của một hình theo một số đại lượng có trong đề toán: Lưu ý các em khi giải các bài toán hình học nên tránh sự dài dòng trong trình bày lời giải. Chẳng hạn:Với bài toán: Cho tam giác ABC có số đo góc A bằng 1200, AD là đường phân giác, biết AB = 7,25cm; AC = 9,56cm. Tính độ dài đoạn thẳng AD? A E BDC

