SKKN Một số biện pháp nhằm năng cao hiệu quả dạy và học văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại trong chương trình trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nhằm năng cao hiệu quả dạy và học văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại trong chương trình trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_nham_nang_cao_hieu_qua_day_va_hoc_van.docx
Phiếu đánh giá.doc
Biên bản đánh giá và xét duyệt.doc
Bìa.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nhằm năng cao hiệu quả dạy và học văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại trong chương trình trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực
- DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nội dung GDNN - GDTX Giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên GDTX Giáo dục thường xuyên GV Giáo viên HS Học sinh PPDH Phương pháp dạy học SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông VXTS Văn xuôi tự sự
- BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN I. LỜI GIỚI THIỆU Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp trong dạy học là một yêu cầu thiết yếu, đặc biệt là đổi mới phương pháp theo hướng phát triển năng lực. Theo nghị quyết 88/2014/QH13 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Quốc hội yêu cầu ngành giáo dục Việt Nam phải “chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực”. Với nghị quyết trên, có thể nói đổi mới PPDH là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Hơn hết, thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽ về giáo dục, cho nên nền giáo dục Việt Nam cũng cần tiếp thu và nâng cao những cách dạy và cách học mới. Và dạy học theo hướng phát triển năng lực hiện đang là hướng đi đúng đắn để cho Việt Nam có thể theo kịp với xu thế của toàn cầu, khẳng định con người Việt Nam đáp ứng được mọi nhu cầu của thời đại. Ngữ Văn là môn học bắt buộc trong chương trình THPT. Đây là môn học hình thành và phát triển nhân cách, tư tưởng, tình cảm và tính thẩm mỹ cho HS. Theo tiến trình văn học sử, có thể nói văn học trung đại là một giai đoạn dài nhất và đạt được thành tựu vô cùng rực rỡ cho văn học nước nhà. Gần 10 thập kỷ, văn học trung đại đã để lại cho chúng ta rất nhiều tác phẩm hay, giá trị, đặc biệt là văn xuôi tự sự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông không gây được nhiều hứng thú cho các em học sinh. Các văn bản văn xuôi tự sự do khoảng cách thời gian khá xa, dung lượng dài, hơn nữa các văn bản văn xuôi tự sự thời trung đại có nội dung khá khó và sâu sắc. Hơn nữa, phần lớn đối tượng học sinh ở các Trung tâm GDNN- GDTX nhận thức còn hạn chế. Vì thế, đối với giáo viên việc đổi mới phương pháp là điều cần thiết, đem đến những bài học mới sinh động hơn, tạo sự hứng thú, sáng tạo hơn cho học sinh, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn như trên, tôi lựa chọn vấn đề “Một số biện pháp nhằm năng cao hiệu quả dạy và học văn xuôi tự sự Việt Nam 1
- thời trung đại trong chương trình trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực” làm đề tài nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm, hy vọng sẽ góp phần cùng đồng nghiệp từng bước nâng cao chất lượng dạy học và tạo hứng thú cho học sinh ở Trung tâm GDNN- GDTX Yên Lạc nói riêng và khối GDTX trong toàn tỉnh nói chung. II. TÊN SÁNG KIẾN “Một số biện pháp nhằm năng cao hiệu quả dạy và học văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại trong chương trình trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực” III. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN -Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Oanh - Địa chỉ: Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc -Số điện thoại: 0984 852 456 - Email: [email protected] IV. CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN Tác giả sáng kiến đồng thời là chủ đầu tư của sáng kiến kinh nghiệm. V. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Sáng kiến được áp dụng trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 10,11 tại Trung tâm GDNN - GDTX Yên Lạc. VI. NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU HOẶC DÙNG THỬ Từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020 VII. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN 2
- CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận 1.1. Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại 1.1.1. Khái niệm văn xuôi tự sự Nhóm nghiên cứu văn học trung đại, gồm các nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Trần Đình Sử, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, Lã Nhâm Thìn, Nguyễn Thanh Tùng...Nhóm bài nghiên cứu về văn học trung đại chưa nhiều nhưng đã có đóng góp nhất định trong việc phát hiện và khẳng định thêm những giá trị mới của các tác phẩm cổ điển mà trước nay còn khuất lấp bởi cái nhìn xơ cứng của lý luận đóng băng một thời. Từ cơ sở khái niệm lý thuyết về tương quan giữa cốt truyện tự nhiên (fabula) và sự trình bày nghệ thuật (siuzhet) của trường phái hình thức Nga, điểm nhìn và vị trí người trần thuật trong việc tạo thành câu chuyện của các nhà lý luận Mỹ, quan điểm của nhà tự sự học Pháp G.Genete về tiêu chí quan trọng trong tự sự học là tiêu cự, Trần Đình Sử tìm hiểu Về mô hình tự sự Truyện Kiều và cho thấy đây là: “Một trong những vấn đề then chốt xác nhận tính sáng tạo của Nguyễn Du trong lĩnh vực nghệ thuật tự sự, tạo thành truyền thống tự sự Việt Nam”. Nếu các nghiên cứu đi trước về Truyện Kiều nghiêng về nội dung tự sự thì Trần Đình Sử bổ khuyết tiếp bằng cách đi sâu cắt nghĩa bản thân hình thức tự sự. Từ nghiên cứu mô hình tự sự tác giả cho thấy trong nghệ thuật tự sự cái quyết định là mô hình, phương thức tự sự, cách cảm nhận và biểu hiện sự kiện ấy như là một chất liệu chứ không phải là sự kiện, mặc dù sự kiện cũng quan trọng. Sự phát hiện việc chuyển đổi mô hình tự sự của Truyện Kiều đã chứng tỏ sức sáng tạo lớn của Nguyễn Du. Đây có thể coi là một cái nhìn sâu sắc, độc đáo của nhà nghiên cứu, góp phần làm rõ và khẳng định thêm giá trị, chất lượng mới của một kiệt tác trong nền văn học dân tộc. Dưới ánh sáng của lý thuyết tự sự, Nguyễn Hữu Sơn trong Thiền uyển tập anh - tác phẩm mở đầu loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại đã đi sâu tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật cơ bản nằm trong phương thức tự sự của tác phẩm để chỉ rõ trên thực tế đây là một tác phẩm “hỗn dung thể loại”. Ông cho 3
- rằng tác phẩm này ngoài giá trị văn học còn đồng thời có giá trị văn hóa hết sức to lớn. Việc nghiên cứu bộ sách như một tác phẩm văn xuôi tự sự “sẽ bao quát được tất cả các nội dung văn - sử - triết, giải thích được đầy đủ tính chất hỗn dung thể loại, sự đan xen lời đối thoại, văn xuôi và thơ ca cùng một cấu trúc văn bản tự sự, việc ghi chép tiểu sử cuộc đời thiền sư với khả năng tích hợp các yếu tố folklore”. Từ góc độ tự sự học để nghiên cứu Thiền uyển tập anh Nguyễn Hữu Sơn đã góp phần xác định Thiền uyển tập anh là một trong những tác phẩm khởi đầu và có ý nghĩa điển hình cho loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Vũ Thanh trong nghiên cứu Những biến đổi trong nguyên tắc tự sự của truyện truyền kỳ Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX đã phát hiện sự thay đổi của mối quan hệ giữa hai yếu tố kỳ và thực, nhà nghiên cứu cho rằng cái thực dường như trở thành mục đích duy nhất của sáng tác thể loại truyền kỳ trong giai đoạn này. Xét trên một số phương diện nghệ thuật như quan hệ giữa bút pháp kỳ và thực, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tính lãng mạn của hình tượng nhân vật thì tác phẩm truyền kỳ giai đoạn này lâu nay bị coi là “một bước lùi”, là sự “tha hóa” so với truyền thống, so với đỉnh cao Truyền kỳ mạn lục, nhưng về một số mặt khác (như tính thực tiễn, khả năng tiếp cận hiện thực, kết cấu truyện ) lại có thể coi là một bước tiến. Văn học nói chung và văn xuôi nghệ thuật nói riêng đang nghiêng dần về phía cuộc đời. Những kết luận của nhà nghiên cứu cho thấy nghiên cứu thể loại truyền kỳ từ lý thuyết tự sự học hiện đại có thể đánh giá đúng hơn những thành tựu nghệ thuật của thể loại truyền kỳ, cho thấy tính chất phức tạp và đa dạng, phong phú của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX. Như vậy, có thể tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể thể hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tat tính cách nhận vật, chi tiết...có đầu có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó” Văn xuôi tự sự là một loại văn học có phương thức trình bày một chuỗi sự việc,từ sự việc này đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự giúp người đọc và gười nghe có thể hiểu rõ sự việc, con người, hiểu rõ vấn đề, từ đó bày tỏ thái độ khen chê. Tự sự rất cần thiết trong cuộc sống, trong giao tiếp, trong văn chương. 1.1.2. Đặc trưng thể văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại 4
- Sự da dạng về đề tài và hình thức thể loại: Đối tượng và phạm vi lĩnh vực đời sống mà văn xuôi tự sự giai đoạn này miêu tả, phản ánh có sự thay đổi và mở rộng, trở nên đa dạng, phong phú hơn trước. Đề tài quốc gia dân tộc tiếp tục phát triển với cách tiếp cận mới. Đề tài ca ngợi đạo đức, đạo lý theo lý tưởng thời đại cũng được quan tâm. Viết về các tăng ni, đạo sĩ nhưng không nhằm vào mục đích tuyên truyền tôn giáo như thời kỳ trước, vì vậy sự phân hóa cũng khá phức tạp. Tình yêu nam nữ, một phương diện nhân văn của con người thế tục, cũng được các tác giả đề cập. Cảm hứng thế sự, phản ánh hiện thực, phơi bày những mặt xấu là đề tài mới, được Nguyễn Dữ khai thác tinh tế, nhưng đặc sắc hơn cả là mảng đề tài về thân phận con người, nhất là người phụ nữ. Sự "hỗn dung" thể loại trong văn xuôi tự sự thế kỷ XV - XVII cũng là một đặc trưng độc đáo. Trước hết, đó là sự không "thuần nhất" về mặt thể loại giữa các "thiên" trong từng tập sách. Tình trạng "hỗn dung" hình thức thể loại còn thể hiện ngay cả trong mỗi thiên. Ở đó vừa có văn xuôi vừa có văn vần; vừa có tự sự vừa có chính 8 luận. Trong tác phẩm văn chương có bút pháp chép sử, phê bình thơ văn, bình luận việc đời... Tinh thần "ký sự", "thực lục" cũng thể hiện rõ nét... Sự kế thừa truyền thống văn học dân gian và bác học: Trước hết là sự kế thừa, học tập từ những mô típ và "kỹ thuật" tự sự của truyện kể dân gian. Tuy típ truyện lấy từ dân gian nhưng sự sáng tạo, biến hóa ở truyện của các tác giả hết sức linh hoạt, mà ý nghĩa xã hội, giá trị thẩm mỹ cũng khác hẳn. Về "kĩ thuật" tự sự, "Đối thoại tranh luận là một hình thức truyện cực kỳ phổ biến của văn học trung đại, có cội nguồn trong biểu diễn nghi lễ dân gian". Ngoài sự tranh luận mang màu sắc chính luận về các vấn đề chính trị, đạo đức mà chỉ đạo là những tư tưởng chính thống đương thời, còn có những cuộc "cãi vã" rất đời thường, mang đậm tính chất dân gian. Thậm chí có những phát ngôn trên lập trường "phi chính thống". Yếu tố kỳ ảo, hoang đường được vận dụng với tần số hợp lý. Nguồn bác học được tiếp thu rộng rãi cả trong và ngoài nước, đặc biệt là từ Trung Hoa. Đó là sự kế thừa truyền thống làm sử, nhất là sử truyện. Nhân vật lịch sử, "kĩ thuật" "lập hồ sơ nhân vật", trình tự thời gian tuyến tính, sự kiện được thuật kể theo lối biên niên, tinh thần "thực lục"... Tuy nhiên, cần thấy rằng, văn xuôi tự sự thời kỳ này đã thoát khỏi "những ảnh hưởng thụ động của văn xuôi lịch sử". Cốt truyện của tự sự giai đoạn này thường đơn giản, ngắn gọn, "trọng việc hơn là chú trọng vào người, lấy việc mà biểu hiện người, răn người". Điều đó có lẽ xuất phát mục đích giáo huấn. Kiểu 5
- bố cục phần đầu giới thiệu lai lịch, phẩm hạnh nhân vật, phần chính kể chuyện "kỳ ngộ lạ lùng" của truyền kỳ đời Đường, Tống đã để lại dấu vết đậm nét trong các truyện của Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông. Ngay cả sự dung chứa nhiều thể loại cũng bắt nguồn từ truyền thống truyền kỳ Trung Quốc. Tuy nhiên "ở đây chủ yếu là vay mượn mô típ rồi biến đổi đi, nhưng cấp cho nội dung mới, Việt Nam hóa câu chuyện". Hiện tượng tiếp thu, vay mượn ấy là đặc trưng của văn học trung đại trên thế giới, nó chứng tỏ quy luật sáng tạo nghệ thuật của một thời đại chứ không hề làm giảm giá trị tác phẩm ra đời sau. Sử dụng nguồn văn liệu bác học, nhất là điển cố, điển tích có xuất xứ từ Trung Quốc cũng là điểm nổi bật. Thế kỷ XV - XVII nằm ở khoảng giữa dòng chảy chung của tự sự trung đại, đã gánh vác sứ mệnh tiếp nối và tạo đà một cách xuất sắc, đồng thời cũng để lại dấu ấn chói lọi trên sắc phục riêng của thời đại mình. Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống khách quan thông qua các sự kiện, hệ thống sự kiện: thể hiện một bức tranh khách quan về thế giới, về những gì tồn tại bên ngoài người trần thuật, không phụ thuộc và ý muốn và tình cảm của họ. Tất cả những sự việc, sự kiện, biến cố bên ngoài hay những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ bên trong được nhà văn xem như đối tượng để phân tích. Tác phẩm tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách rộng lớn, bao quát: trong tác phẩm tự sự, không gian và thời gian không bị hạn chế. Nhân vật tự sự được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt, triển khai sâu rộng trong nhiều mối quan hệ đa dạng và phong phú. Nhân vật được khắc họa từ ngoại hình đến nội tâm, cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Tác phẩm tự sự luôn luôn có hình tượng người trần thuật: làm nhiệm vụ tường thuật, kể chuyện để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi, bình luận, cắt nghĩa những quan hệ phức tạp giữa nhân vật và nhân vật, giữa nhân vật và hoàn cảnh Trong tác phẩm tự sự, hình tượng người trần thuật giữ một vai trò hết sức quan trọng và luôn luôn muốn hướng dẫn, gợi ý cho người đọc nên hiểu nhân vật, hoàn cảnh như thế nào. Lời văn trong tác phẩm tự sự: chủ yếu là lời văn kể chuyện, miêu tả Đặc trưng về các yếu tố cấu thành: 6
- Nhân vật: Nhân vật trong văn tự sự là kẻ thực hiện các sự việc và là kẻ được thể hiện trong văn bản. Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng của văn bản, nhân vật phụ chỉ giúp nhân vật chính hoạt động. Nhân vật được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm, Sự việc: Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể: sự việc xảy ra trong thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả, Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt. Chủ đề: Mỗi câu chuyện đều mang một ý nghĩa xã hội nhất định. Ý nghĩa đó được toát lên từ những sự việc, cốt truyện. Mỗi văn bản tự sự thường có một chủ đề; cũng có văn bản có nhiều chủ đề, trong đó có một chủ đề chính. Lời văn tự sự : chủ yếu là kể người, kể việc. Khi kể người thì có thể giới thiệu tên, lai lịch, tính tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật. Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại. Đoạn trong văn tự sự thường là đoạn diễn dịch. Thứ tự kể: Khi kể chuyện, có thể kể các sự việc liên tiếp nhau theo thứ tứ tự nhiên, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, cho đến hết. Nhưng để gây bất ngờ, gây chú ý, hoặc thể hiện tình cảm nhân vật, người ta có thể đem kết quả hoặc sự việc hiện tại kể ra trước, sau đó mới dùng cách kể bổ sung hoặc để nhân vật nhớ lại mà kể tiếp các việc đã xảy ra trước đó. Ngôi kể: Người đứng ra kể chuyện có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, với những ngôi kể khác nhau. Ngôi kể trong văn tự sự có thể là ngôi thứ nhất, bộc lộ được những tâm tư tình cảm, suy nghĩ trực tiếp của nhân vật một cách sâu sắc; có thể được kể theo ngôi thứ ba, thể hiện được sự khách quan với câu chuyện được kể, phạm vi câu chuyện được kể trong không gian lớn hơn và có thể cùng lúc. Người kể giấu mình nhưng lại có mặt khắp nơi trong văn bản. Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện, như giới thiệu nhân vật tình huống, tả người, tả cảnh, đưa ra các nhận xét, đánh giá hay bộc lộ thái độ, cảm xúc trước những điều được kể. Mỗi ngôi kể đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, nên cần lựa chọn ngôi kể cho phù hợp và có thể chuyển đổi ngôi kể trong câu chuyện. 7
- Sự đan xen yếu tố của các phương thức biểu đạt khác: Văn tự sự nếu chỉ kể sự việc không sẽ khô khan, không hấp dẫn nên có sự kết hợp các yếu tố của các phương thức biểu đạt khác. Miêu tả trong văn tự sự: Miêu tả bên ngoài: miêu tả ngoại hình nhân vật, làm cho các nhân vật có hình dáng riêng, cụ thể; miêu tả cảnh vật làm cho sự việc thêm cụ thể, chi tiết chân thực, sinh động, gợi cảm. Miêu tả nội tâm nhân vật: diễn tả tâm tư tình cảm, cảm xúc, những trạng thái tình cảm của nhân vật, khiến cho nhân vật đước thể hiện đầy đủ, sâu sắc hơn. Miêu tả nội tâm là biện pháp quan trọng để xây dựng nhân vật, thể hiện tính cách nhân vật, từ đó thể hiện tư tưởng nhà văn về cuộc đời, nhân vật tạo nên sức hấp dẫn và ấn tượng đối với người đọc. Miêu tả nội tâm trực tiếp bằng cách diễn đạt những ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm của nhân vật. Miêu tả nội tâm gián tiếp bằng cách miêu tả cảnh vật, cử chỉ, nét mặt, trang phục của nhân vật. Biểu cảm trong văn tự sự: Biểu cảm trực tiếp hoặc gián tiếp đều giúp cho nhân vật thể hiện được thế giới nội tâm của mình, thể hiện cảm xúc chân thực, có khi là cảm xúc của chính tác giả, người kể chuyện trong quá trình kể chuyện. Lập luận trong văn tự sự: Lập luận thể hiện thông qua đối thoại; đối thoại giữa các nhân vật, đối thoại với chính mình, trong đó người kể chuyện hoặc nhân vật nêu lên những nhận xét, suy luận, phán đoán, lí lẽ, dẫn chứng, nhằm bày tỏ quan điểm, thuyết phục người nghe (đọc) về một vấn đề nào đó. Hình thức lập luận làm cho câu chuyện thêm phần triết lí sâu sắc. 1.2. Năng lực và dạy học theo hướng phát triển năng lực 1.2.1. Năng lực Năng lực là khái niệm cần được hiểu không chỉ thuần tuý bao hàm kiến thức và kỹ năng. Năng lực bao gồm khả năng đáp ứng được những đòi hỏi/yêu cầu phức tạp qua việc nỗ lực sử dụng tốt các kiến thức, kỹ năng và huy động được các nguồn thích hợp nhất trong từng hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, khả năng giao tiếp hiệu quả có 8
- thể được huy động từ kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng thực hành công nghệ thông tin và thái độ phù hợp với đối tượng giao tiếp. Có nhiều quan niệm về năng lực. Chương trình giáo dục phổ thông mới quan niệm về năng lực như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. *Cấu trúc năng lực Có nhiều loại năng lực khác nhau và việc mô tả cấu trúc năng lực cũng có những điểm khác nhau: - Theo Bend Meier và Nguyễn Văn Cường (2005) [14, tr26] thì cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần:1) Năng lực chuyên môn; 2) Năng lực phương pháp; 3) Năng lực xã hội; 4) Năng lực cá thể [6, tr.45]. (1) Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. (2) Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề. (3) Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. 9
- (4) Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Có thể mô tả cấu trúc năng lực theo mô hình bốn thành phần dưới đây: 10

