SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần Lớp 1
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_hieu_qua_day_hoc_v.doc
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần Lớp 1
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. a. mở đầu I. Lí do chọn đề tài: Môn Học Vần ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành 4 kĩ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Học vần là phân môn chiếm khá nhiều thời gian trong chương trình Tiếng Việt ở lớp 1. Học vần còn có nhiều lớn lao là trao cho các em chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập và tạo điều kiện cho các em học tất cả các môn học khác có trong chương trình. Thực tế việc dạy học vần lớp 1 ở trường Tiểu học cũng đã có nhiều kết quả đáng kể. Song nếu xét theo mục tiêu giáo dục đề ra xem việc dạy Học vần có giúp phát triển tư duy, năng lực của học sinh, có để học sinh chủ động, tích cực lĩnh hội tri thức hay không thì thấy cách tổ chức dạy Học vần còn bộc lộ nhiều hạn chế. Nguyên nhân do phần lớn giáo viên dạy theo kiểu dập khuôn sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy. Cũng có thể do chương trình dạy học có sự thay đổi, giáo viên chưa bắt kịp với cách dạy học mới. Học sinh gặp nhiều khó khăn trong học tập, thụ động, ít hứng thú, sáng tạo. Vì thế mà nhu cầu nâng cao chất lượng dạy Học vần lớp 1 trên cơ sở tôn trọng sách giáo khoa mới, nhằm giúp học sinh sau mỗi bài học vừa biết đọc đúng các chữ ghi âm, vần mới học, đọc đúng các chữ ghi từ, tiếng khóa, tiếng mới, vừa tùy theo khả năng, hứng thú có thể đọc thêm tiếng có âm, vần mới trong các câu, đoạn, bài đọc thêm là rất cần thiết. Đó cũng là lí do mà tôi chọn đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Để nhằm giúp cho giáo viên dễ dàng hơn khi dạy học, học sinh tiếp nhận kiến thức nhẹ nhàng, thuận lợi hơn góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo. II. những khó khăn. Giai đoạn tuổi thơ của con người có nhiều mốc cực kỳ quan trọng: biết đi, biết nói, đi học phổ thông và đi làm. Mỗi cá thể trẻ em đi qua một phần duy nhất của những mốc đó trên một đoạn đường thời gian. Tròn 6 tuổi tạm biệt ông bà, 2/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. cha mẹ bé đến trường phổ thông với thầy cô giáo, với bạn bè đồng lứa tuổi để tiếp thu nền văn minh nhân loại đã được tinh chế bằng phương pháp nhà trường. Vào lớp 1, trẻ trở thành “học sinh Tiểu học” hoạt động vui chơi không còn là chủ đạo nữa, thay vào đó là hoạt động học tập để lĩnh tri thức hoàn toàn khác trước. Sự chuyển đổi có tính chất bước ngoặt này có tác động rất lớn đến đời sông tâm lý của trẻ. Vì thế người giáo viên phải nắm chắc được điểm này để giúp trẻ “chuyển giai đoạn” một cách tự nhiên, không quá khó khăn. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng ở trẻ 6, 7 tuổi khối lượng bộ não đạt tới 90% khối lượng bộ não người lớn. Sự chín muồi về mặt sinh lý cùng sự phát triển của quá trình tâm lý (như cảm giác, tri giác, trí nhớ) tạo điều kiện để các em có thể thực hiện hoạt động mới: hoạt động học tập. Nhưng cũng chính do hoạt động có ý thức này còn mới mẻ nên có ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, đôi khi làm giảm hiệu quả học tập. Chẳng hạn khi đến lớp các em phải học thuộc bài, phải kiểm tra bài, ngồi đúng vị trí thật ngay ngắn. Bởi thế nhiều học sinh lớp 1 vẫn hay rụt rè, sợ học, thậm chí không dám đọc to, đọc lạc cả giọng, làm cho hiệu quả của giờ Học vần không được cao. Thêm vào đó, học sinh Tiểu học rất hăng hái và ham thích vận động. Tính hiếu động này kèm theo việc học sinh chưa biết điều khiển hoàn toàn hành vi của mình, dẫn đến hiện tượng dễ bị kích động, không kiềm chế được hành vi của mình, vô tổ chức. Nhưng không phải vì thế mà ta cấm trẻ vận động, ngược lại cần làm cho tính hiếu động được biểu hiện dưới những hình thức đúng đắn. Các trò chơi vận động để rèn luyện thân thể, phát triển tư duy được vận động đứng thời điểm là rất thích hợp. ở lứa tuổi này năng lực vận động của trẻ cũng đạt được những bước phát triển đáng kể. Các em có thể chủ động điều khiển các hoạt động của cơ thể như tay, mắt, đầu, cổ, phối hợp thành nhiều động tác khác nhau. Đây là điều kiện để các em có thể học đọc, học viết, hoạt động đòi hỏi sự chủ động của cánh tay cùng với mắt nhìn, tai nghe, tay viết. Đồng thời ý thức về cấu trúc không gian của trẻ cũng đã hình thành, sự phân biệt bên phải, bên trái, bên trên, bên dưới, không còn là điều khó khăn. Dựa vào đặc trưng này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh định hướng nét bút trên trnag giấy và tập viết các kiểu 3/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. chữ cái khác nhau. Cũng cần lưu ý ở học sinh lớp 1, các khớp xương chưa hoàn thiện, đa phần là sụn nên cần uốn nắn các em tư thế ngồi, cách cầm bút ngay từ đầu nếu không sẽ trở thành cố tật rất khó sửa. Và không nên bắt các em tập viết quá nhiều sẽ gây sự mệt mỏi, chán nản, làm giảm hiệu quả của giờ học. Người giáo viên Tiểu học cần hiểu rõ những đặc điểm này để giúp những trẻ em lần đầu tiên cắp sách tới trường làm quen với kiến thức mới một cách thoải mái, không quá khó khăn. Nếu có phương pháp dạy phù hợp, chắc chắn với học sinh lớp 1 mỗi ngày đi học sẽ là “một ngày vui” theo đúng nghĩa của nó. 4/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. b. nội dung I. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 1. Trước khi đến trường, trẻ đã có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh đầy bí ẩn, đó là nhu cầu nhận thức. Nhu cầu này được cụ thể hóa và hình thành mạnh mẽ hơn ở trẻ đầu lớp 1. Đây là để thỏa mãn chính nhu cầu hiểu biết của mình. ở trẻ 6, 7 tuổi nhận thức cảm tính chuyển dần từ không chủ động sang chủ động. Tri thức của trẻ bắt đầu mang tính chất phân tích. Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất của học sinh lứa tuổi này chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan hình tượng phát triển hơn trí nhớ logic. Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những học sinh lớp 1 chưa tốt và thiếu bền vững bởi quá trình ức chế ở bộ não của các em còn yếu. Vì vậy các em dễ quên điều cô giáo dặn cuối buổi học, bỏ sót chữ cái trong từ, bỏ sót từ trong câu. Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định học sinh tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì được sự chú ý liên tục khoảng 30 – 35 phút, chế độ này tùy thuộc vào nhịp độ học tập cũng như nội dung dạy học của giáo viên. Trên cơ sở ý thức đã hình thành, khả năng tư duy bằng tín hiệu ở trẻ cũng phát triển. Đây là cơ sở để các em lĩnh hội chữ viết, những tín hiệu thay thế ngữ âm. Trẻ đã thực sự bắt tay vào việc lĩnh hội nền văn hóa với tư cách là sản phảm của cả loài người, nhờ đó mà trẻ dần dần vượt khỏi phạm vi kinh nghiệm trực tiếp của mình. Các chức năng của não được kích thích phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện để kiểu tư duy trực quan hình tượng chuyển dần sang tư duy trìu tượng. Tuy nhiên đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học không có ý nghĩa tuyệt đối mà mang một ý nghĩa tương đối. Ở đây vai trò của nội dung dạy học và phương pháp dạy học mới là đặc biệt quan trọng. Người giáo viên tiểu học cần hiểu rõ về Học vần, phân môn nhằm tạo kỹ năng và thói quen mới tích cực cho học sinh, nó không thể có được nếu không lặp đi lặp lại các hành động cần thiết. Do đó trong quá trình dạy vần giáo viên 5/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. cần cho học sinh đọc nhiều, viết nhiều ở mức có thể. Đồng thời phải thay đổi thường xuyên nội dung đọc – viết để việc học trở nên sinh động, hứng thú, thu hút trẻ một cách tự nhiên, thoải mái. Cũng bởi Học vần là hoạt động có ý thức, nên trong dạy vẫn cần đảm bảo cho học sinh hiểu được những gì mà các em đã học, đã viết. Nếu đánh vần từng chữ một cách máy móc mà không cần biết đến ý nghĩa của câu chữ thì sẽ làm hạn chế kết quả học tập. Người giáo viên cần có biện pháp hướng dẫn các em nắm được nghĩa của những câu từ mình đã đánh vần, đã tô nháp qua các hình thức trò chơi, kể chuyện, tạo được các tình huống ngôn ngữ làm cho hoạt động đọc – viết có ý nghĩa, nâng cao chất lượng môn Học vần. ii. đề xuất một số biện pháp giúp nâng cao hiệu quả dạy Học vần lớp 1. 1. Chuẩn bị cho học sinh học vần. Lần đầu tiên bước chân vào trường Tiểu học trẻ còn rất nhiều bỡ ngỡ, còn mải chơi, chưa chú tâm học hành và cũng chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học. Điều quan trọng là giáo viên phải uốn nắn dần dần, từng bước giúp trẻ làm quen với các quy định cần thiết của học sinh Tiểu học nhưng không gò ép mà phải tiếp nhận thật thoải mái và hào hứng. Mỗi môn học đều có phương pháp riêng đặc trưng, cụ thể ở phân môn Học vần lớp 1, để giúp học sinh tốt cần lưu ý một số điều sau: Ngay từ đầu năm học, giáo viên có thể dạy trẻ làm theo các hiệu lệnh của mình. Ví dụ như gõ thước một nhịp thì mở sách, gõ hai nhịp thì giơ bảng con lên, gõ ba nhịp thì lấy bộ chữ cái.Hay đặt thước ở đầu dòng thì phân tích vần, đặt ở dưới thì đọc trơn, đặt ở trên cùng thì đánh vần. Ngoài ra, học sinh còn phải được chuẩn bị tư thế mỗi khi đọc bài. Nếu ngồi đọc phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng 30 đến 35 cm, cổ và đầu phải thẳng, phải thở chậm và sâu để lấy hơi. Khi cô giáo gọi đọc phải bình tĩnh, không hấp tấp đọc ngay. Còn nếu đứng phải đàng hoàng, thoải mái, sách phải mở rộng và cầm bằng hai tay. 6/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Điều quan trọng là học sinh phải được đảm bảo về cơ sở vật chất. Cụ thể là: Phòng học: phải thoáng mát và có đủ ánh sáng theo quy định của y tế học đường. Ví dụ phải có tối thiểu là 4 bóng đèn nêông hoặc bóng đèn đỏ. Bảng lớp: treo vừa tầm mắt của học sinh, có màu sẫm. Bảng kẻ ô vuông 4,5cm, bảng gỗ hoặc bằng kim loại được phủ sơn chống lóa. Bàn ghế học sinh: phải phù hợp với độ cao của học sinh lớp 1. Tỉ lệ chiều cao của bàn ghế phải cân xứng, khi ngồi khuỷu tay học sinh ngang với mặt bàn để tạo dáng ngồi thẳng, tránh cận thị và cong vẹo cột sống. Bảng con, phấn, giẻ lau: đây là phương tiện ưu việt của học sinh nên cần lưu ý. Loại bảng hiện nay tương đối dễ viết và có kẻ ô phù hợp là loại bảng Hồng Hà, một mặt bảng có kẻ ô vuông khoảng 4cm, còn mặt kia có dòng kẻ ngang. Như thế sẽ thuận lợi cho học sinh tập viết. Trên đây là một số điều cần thiết lưu ý giúp học sinh làm quen dần với môI trường học tập mới. Có đảm bảo được như vậy mới có thể đề cập đến chuyện dạy tốt, học tốt môn Học vần lớp 1. 2.Áp dụng cụng nghệ thụng tin vào giờ dạy học vần. Trong sỏch Tiếng Việt ,học sinh tiếp thu kiến thức bằng kờnh hỡnh và kờnh chữ.Do đú nếu khụng thay đổi thỡ học sinh sẽ khụng được cập nhật với kiến thức mới thường xuyờn.Lớp tụi đó thu thập cỏc bài ỏp dụng cụng nghệ thụng tin để đổi mới phương phỏp cũng như giỳp học sinh học tập sụi nổi hơn. Vớ dụ: Khi học sinh học bài học vần ụi – ơi -Sau khi học sinh ghộp vần , tiếng trờn bộ thực hành.Tụi cho học sinh xem video về mụn bơi. -Khi giảng từ mới tụi cho học sinh xem hỡnh ảnh trờn thực tế như: hỡnh ảnh đồ chơi và hỡnh ảnh ngúi mới. Khi hướng dẫn học sinh viết tụi cho học sinh quan sỏt video cỏch viết chữ ụi,ơi, ổi,bơi. Phần củng cố tụi cho học sinh chơi trũ chơi đuổi hỡnh bắt chữ 7/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. 3. Sử dụng phiếu bài tập trong giờ dạy học vần. Đây là một trong những phương pháp đổi mới, nó giúp học sinh lĩnh hội tốt kiến thức và tạo được không khí học tập sôi nổi. Ví dụ như khi dạy bài âm “tr”, trước khi dạy bài mới, giáo viên kiểm tra kiến thức của học sinh thông qua phiếu học tập. Âm trước các em học là âm “ng – ngh”. Để kiểm tra học sinh có nắm bài, học bài ở nhà tốt không, giáo viên đọc cho học sinh viết vào phần kiểm tra bài cũ ở phiếu. Viết: ng, cá ngừ ngh, củ nghệ Vào bài mới, sau khi cho học sinh viết chữ “tr”, cho các em lấy phiếu học tập và viết trong phiếu một dòng “tr”. Trong khi học sinh dưới lớp viết, giáo viên có thể gọi hai học sinh lên bảng viết “tr” và cho học sinh nhận xét bạn viết. Phương pháp vừa giúp học sinh nhớ âm, viết đẹp, viết đúng, vừa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ học. Ngoài ra, viết vào phiếu học tập cũng giúp các em hạn chế dùng phấn viết bảng con, biện pháp vừa lâu, vừa bụi, vừa mất trật tự bởi đây là học sinh lớp 1. Một loại bài tập nữa cũng được sử dụng trong phiếu học tập là bài tập điền âm. Nó giúp học sinh biết tư duy, sáng tạo và nhất thiết phải hiểu, nắm chắc bài mới làm tốt được. Chẳng hạn bài tập điền âm “k, c” vào chỗ chấm. ẻ, ô, ì, á. Học sinh phải hiểu và thuộc âm “k, c” mới làm bài được, và phải nhớ âm “k” chỉ ghép được với ba âm: e, ê, i; âm “c” không ghép với ba âm đó thì sẽ làm tốt bài. Hay ở bài âm “tr” giáo viên cho học sinh làm bài tập điền “tr” hay “ch” vào chỗ chấm: ở về che ở a mẹ 8/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. Bài này yêu cầu học sinh phải biết phân biệt so sánh cách phát âm của hai âm. Muốn học sinh làm tốt bài, giáo viên nên cho các em so sánh âm “tr”, “ch” từ đó áp dụng vào bài làm. Thêm vào đó học sinh phải hiểu được nghĩa của từ mà mình cần điền. Giáo viên có thể là người giúp các em hiểu nghĩa của các từ đó, khi đã hiểu nghĩa của các từ, học sinh sẽ hứng thú và tự tin khi làm bài. Loại bài này với học sinh khá giỏi thì làm tốt song với học sinh trung bình và yếu thì giáo viên nên có sự gợi mở, dẫn dắt cho các em, tránh tình trạng học sinh ngại khó, bỏ bài không làm. Một loại bài cũng có thể thường sử dụng trong phiếu là tìm âm, tiếng mới trong các câu ứng dụng. Loại bài tập này rất rộng, giáo viên có thể viết những câu gồm nhiều tiếng mà các em đã được học sau đó yêu cầu học sinh đọc trơn, to các câu đó rồi gạch chân vào phiếu các tiếng có chứa âm mới mà các em vừa được học. Giáo viên cũng có thể viết câu mà các em chưa đọc được hết vì văn bản ấy có chứa tiếng, âm vần mà học sinh chưa được học. ở kiểu bài này chỉ yêu cầu học sinh gạch chân âm mới, không cần phải đọc. Loại bài tập này giúp phát huy trí lực cho học sinh, gây sự tò mò, kích thích hứng thú học tập của học sinh, giúp tiết học không còn nhàm chán. Loại bài tập mà học sinh rất thích đó là nghe đọc viết. Hình thức: Giáo viên là người đọc các âm, từ mới cho học sinh viết vào phiếu. Loại bài tập này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh tạo cho học sinh thói quen thi đua học tập. Với loại bài tập này, giáo viên có thể cho học sinh tham gia trò chơi thi viết nhanh lên bảng giúp các em có phản xạ nhanh, nhạy bén, thực tế hơn. Đồng thời loại bài tập này cũng giúp giáo viên đánh giá đúng sự hiểu bài và sức học của từng học sinh. Trên đây là một số loại hình bài tập mà giáo viên lớp 1 có thể áp dụng với hình thức phiếu bài tập để hướng dẫn truyền đạt kiến thức cho học sinh trong giờ dạy học vần. Tất nhiên không thể áp dụng tất các loại bài tập trên vào phiếu học tập trong một học, vì như vậy không đủ thời gian. Cần có sự lựa chọn cho phù hợp và cũng cần lưu ý đến đủ thời gian. Cần có sự lựa chọn cho phù hợp và cũng cần lưu ý đến từng đối tượng học sinh. Có như vậy giờ Học vần mới đem lại kết quả như mong muốn. 9/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. 4. Một số biện pháp rèn chữ viết đẹp cho Học sinh lớp 1. ở phân môn Học vần, Tập đọc giúp học sinh đọc thông còn Tập viết giúp các em viết thạo. Đọc và viết có liên quan mật thiết với nhau, giúp trẻ đọc và hiểu được những điều mình viết. Viết đúng mẫu, rõ ràng, nhanh và đẹp, học sinh sẽ có điều kiện học tốt trong cả quá trình học tập sau này. Ngược lại nếu không chú ý quan tâm đến tư thế ngồi viết, cách cầm bút và viết chữ không đúng cơ bản từ ban đầu thì sẽ rất khó sửa, có thể tạo thành thói quen xấu sau này. Trên thực tế nhiều giáo viên đã bỏ sức nghiên cứu cách dạy, phương pháp dạy tập viết song kết quả vẫn chưa khả quan lắm. Cần chú ý đối tượng học sinh phần lớn có yếu tố thể chất tốt, số đông được học ở Mẫu giáo và ở nhà ít nhiều trước khi đến lớp. Hơn nữa trẻ sẵn có khí chất hoạt bát, biến động, kèm theo biểu hiện tâm lý ganh đua. Đó là những cơ sở khách quan vô cùng thuận lợi cần được khai thác triệt để. Muốn viết đúng, viết đẹp cần lưu ý một số điểm sau: Rèn luyện cho học sinh tư thế ngồi viết: Khi ngồi viết phải ngay ngắn, tinh thần thoải mái, không tì ngực vào cạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở từ 25 đến 30cm. Tay trái dặt bên trái vở và giữ vở không xê dịch khi viết. Cánh tay phải có thể dịch chuyển thuận lợi, mềm mại. Hai tay đặt đúng điểm tựa quy định mới có thể điều khiển được cây bút theo sự chỉ huy của não. Tư thế ngồi viết không được gò bó vì dễ gây tê mỏi. Tuyệt đối không được quỳ, nằm, ngồi viết tùy tiện. Cột sống luôn ở tư thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghế ngồi, không được ngồi vặn vẹo, lâu dần sẽ thành cố tật khó sửa. Hai chân duỗi thoải mái, không để chân co chân duỗi khiến cột sống vặn vẹo chữ viết cũng sẽ xiên lệch theo. Để học sinh ngồi viết đúng tư thế, giáo viên phải hết sức kiên nhẫn, phải nhắc đi nhắc lại liên tục nhiều lần trong ngày, nhiều ngày trong cả học kỳ và cứ thế tạo thành một phản xạ không điều kiện. Ngay từ buổi đầu vào lớp 1, giáo viên có thể ngồi mẫu để học sinh quan sát. Bên cạnh đó giáo viên có thể treo 10/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. tranh vẽ bạn nhỏ đang ngồi viết để học sinh luôn được nhìn tư thế ngồi đúng và học theo. Với học sinh lớp 1, việc xác định khoảng cách là tương đối khó nên từ đầu năm học giáo viên hãy kêu mẫu bàn ghế rồi hướng dẫn, nhắc nhở các em khi ngồi học phải ngồi sâu vào ghế, không ngồi mớm cạnh sẽ gây mỏi, không để cặp sau lưng. Để giúp các em có thói quen này thì giáo viên phải thường xuyên bao quát, nhắc nhở, uốn nắn kịp thời. Và nếu muốn tránh việc gây sự chú ý không cần thiết giáo viên có thể quy định một số tín hiệu với lớp. Ví dụ như nghe tiếng gõ nhẹ trên mặt bàn thì học sinh phải sửa ngay tư thế ngồi. Rèn cho học sinh cách cầm bút và chuẩn bị trước khi viết: Trẻ lớp 1 tay còn vụng về do cấu tạo của hệ cơ và xương chưa hoàn thiện. Cách cầm bút phải được hướng dẫn tỉ mỉ và chính xác. Tay phải cầm bút bằng ba ngón tay: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Đầu ngón tay cái giữ bên trái, thân bút dựa vào ngón tay giữa hay ngón tay giữa đỡ bên dưới, ngón tay trỏ bên trên. Ba điểm tựa này giữ đầu bút khoảng 2,5cm. Ngoài ra động tác viết cần sự phối hợp của cổ tay, khuỷu tay và cả cánh tay. Không thể ngửa bàn tay quá tạo nên trọng lượng tì xuống ngón tay đeo nhẫn. Ngược lại không úp quá nghiêng bàn tay về bên trái rất khó điều khiển bút. Từ buổi đầu, giáo viên phải làm mẫu để học sinh quan sát và thực hành theo. Các tư thế cầm bút không đúng sẽ gây căng cứng, mỏi cơ gân bàn tay, viết chóng mỏi tay, ra nhiều mồ hôi, không thể viết lâu, viết nhanh được. Trước khi viết phải chuẩn bị bút viết. Nếu viết bút chì thì đầu nét chì phải hơi nhọn, đúng tầm. Quá nhọn sẽ dẫn đến nét chữ quá mảnh, có khi còn chọc thủng cả giấy. Còn đầu bút chì quá tù nét chữ sẽ quá to, chữ viết ra xấu. Hiện nay không đòi hỏi học sinh viết chữ nét thanh nét đậm do vậy ở đầu giai đoạn lớp 1 có thể sử dụng bút chì. Khi viết bút mực cũng nên lưu ý ngòi bút phải nhọn nét, không quá nhỏ cũng không quá đậm. Kích thước thân bút phải tương ứng với kích thước bàn tay để học sinh có thể cầm và điều khiển bút dễ dàng. Khi dùng bút mực khó nhất là giữ được vở sạch. Trước tiên giáo viên nên hướng dẫn học sinh cách bơm mực vào quản bút. Thời gian đầu giáo viên có thể bơm mực 11/27
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng hiệu quả dạy Học vần lớp 1. hộ các em, mỗi lần bơm lại hướng dẫn cách bơm mực, khi xoáy bút vào phải xoáy vừa phải, không xoáy quá chặt. Khi học sinh đã quen có thể để các em bơm mực nhưng vẫn không quên nhắc cách bơm mực cho các em. Các em luôn có một chiếc khăn nhỏ để lau mực ở bút. Khi viết không được ấn mạnh bút, ngòi bút bao giờ cũng úp xuống, không tô đi tô lại chữ. Tốt nhất không nên cho học sinh dùng tẩy, yêu cầu các em phải viết đúng, nếu chữ nào sai thì để lại, viết chữ khác sang bên cạnh chứ không được tẩy cũng như gạch xóa. Còn việc sử dụng bút khi viết cũng nên lưu ý. Hướng dẫn học sinh cầm bút xuồi chiều ngồi. Góc độ đặt bút so với mặt giấy khoảng 45 độ. Tuyệt đối không đặt bút dựng đứng 90 độ. Khi viết bút đưa từ trái sang phải, từ trên xuống dưới. Các nét đưa lên hoặc đưa sang ngang phải thật nhẹ tay, không ấn mạnh đầu bút vào mặt giấy. Sau khi viết xong cần xem xét nét nào viết được, nét nào hỏng và tìm nguyên nhân vì sao hỏng: tại tư thế cầm bút, tại tay đặt bút hay tại chỗ ngồi quá chật. Tóm lại có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến chữ viết chưa đạt yêu cầu, quan trọng là giáo viên cần chỉ ra để trẻ rút kinh nghiệm, tránh phạm phải sai lầm tương tự vào lần sau. Có thể dành một ít phút để hướng dẫn và sửa một số lỗi viết chữ cho học sinh vào mỗi giờ Học vần, có như vậy học sinh mới nhớ lâu. Muốn viết đúng và đẹp còn chú ý cả cách để vở. Giáo viên hướng dẫn các em đặt vở hơi nghiêng khoảng 30 độ, tay trái giữ vở, tay phải cầm bút viết, đặt tay xuôi theo chiều vở và bên dưới dòng kẻ để dịch chuyển tay thuận lợi và nhìn rõ dòng kẻ để viết. Với những em đặt tay ngang thì giáo viên phải luôn nhắc nhở và sửa thường xuyên. Muốn đạt kết quả như mong muốn thì giáo viên luôn phải làm mẫu cho học sinh học tập. Những lúc viết mẫu giáo viên nên viết chậm và để học sinh nhìn thấy tay mình khi viết. Có như vậy thì học sinh mới làm theo được vì đặc điểm nổi bật của học sinh Tiểu học là hay bắt chước. Cũng có nghĩa là giáo viên cũng phải luyện chữ hàng ngày cùng với học sinh. Chữ viết ở vở học sinh, trên bảng lớp, dù viết to hay nhỏ bao giờ cũng phải thật đúng, thật đẹp. Điểm đặt bút, 12/27

