SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy hiểm thường gặp hằng ngày ở trường Mầm Non
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy hiểm thường gặp hằng ngày ở trường Mầm Non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_giup_tre_5_6_tuoi_nhan_biet_va_phong_t.docx
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy hiểm thường gặp hằng ngày ở trường Mầm Non
- 2. Mục đích đề tài: Nghiên cứu tìm kiếm đưa ra các biện pháp phòng tránh nguy hiểm thường gặp hàng ngày ở trường mầm non. 3. Đối tượng nghiên cứu: - Phạm vi nghiên cứu: Trẻ trong độ tuổi 5- 6 tuổi trong trường mầm non - Thời gian thực hiện: Từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021 2 / 18
- II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Theo tiến sĩ Nguyễn Thu Cúc, chuyên gia tư vấn của ABS Training cho biết “Kỹ năng sống không phải là những gì quá cao siêu, phức tạp.Việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ bao gồm những nội dung hết sức đơn giản, gần gũi với trẻ em, là kiến thức để trẻ có khả năng tự lập được”. Giáo dục kỹ năng nhận biết và phòng tránh nguy cơ không an toàn là giáo dục trẻ nhận thức những việc nên làm và không nên làm trước những nguy cơ có thể gây nguy hiểm, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực giúp trẻ có được những nhận thức, kiến thức, hành vi, thái độ, kỹ năng thích hợp. Những gì mà trẻ lĩnh hội được trong những năm tháng đầu đời sẽ theo trẻ suốt cuộc đời, vì thế nên xây dựng thói quen tốt, kỹ năng cơ bản cho trẻ từ sớm. Chính vì vậy Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động rất nhiều phong trào, trong đó phải kể đến một phong trào tiêu biểu, đem lại hiệu quả thiết thực phù hợp với đặc thù của ngành. Đó là phong trào: “Xây dựng trường học an toàn phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ” đối với các bậc học từ mầm non đến phổ thông. Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động, với những kế hoạch nhằm phát triển toàn diện cho trẻ mầm non, Phòng Giáo dục - Đào tạo cũng đã có kế hoạch từng năm học với những biện pháp cụ thể để rèn kỹ năng sống cho trẻ mầm non một cách chung nhất cho các bậc học, đây chính là những định hướng giúp giáo viên thực hiện như: Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác; rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội. 2. Cơ sở thực tiễn: Mặc dù được bồi dưỡng về phương pháp dạy kĩ năng cho trẻ nhưng giáo viên còn chưa chú ý nhiều đến việc những kỹ năng cho trẻ và chưa thường xuyên trò chuyện với từng trẻ để phát triển các kỹ năng sống trong thực tế. Do chương trình dạy trẻ kỹ năng sống lồng ghép trong các hoạt động khác nên trẻ chưa có nhiều cơ hội để thực hành tình huống còn chưa có kỹ năng nhận biết và phòng tránh nguy cơ không an toàn. Khả năng phòng tránh những nguy hiểm với xung quanh còn hạn chế. Trẻ còn thiếu kỹ năng vẫn còn thụ động, không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách bảo vệ cũng như tìm kiếm sự giúp đỡ. Trong quá trình thực hiện đề tài tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau: 3 / 18
- a. Thuận lợi: - Được sự quan tâm của ban giám hiệu, luôn chỉ đạo sát sao với công tác chuyên môn, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học cho giáo viên và học sinh. - Khung cảnh nhà trường khang trang, mang tính sư phạm, môi trường cảnh quan sạch đẹp có nhiều thuận lợi để tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ. - Bản thân tôi luôn có ý thức học tập, tham gia các buổi tập huấn cho giáo viên mầm non, yêu nghề mến trẻ, nhiệt tình trong công việc, chịu khó tìm tòi học hỏi qua đồng nghiệp và công nghệ thông tin để nâng cao kiến thức cũng như nghệ thuật lên lớp. - Trẻ mạnh dạn, tự tin, ham học hỏi và thích khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh trẻ. b. Khó khăn: - Trong những năm qua, đội ngũ giáo viên đã từng bước khẳng định về chuyên môn nghiệp vụ song việc rèn kỹ năng nhận biết và phòng tránh nguy hiểm cho trẻ còn nhiều lúng túng, chưa linh hoạt. Khả năng tuyên truyền của giáo viên chưa đồng đều, hình thức tổ chức của giáo viên chưa tạo cho trẻ cơ hội thực hành, trải nghiệm nhiều. - Nhận thức của đông đảo phụ huynh về việc giáo dục kĩ năng nhận biết và phòng tránh nguy hiểm của trẻ còn nhiều hạn chế. - Khả năng nhận biết và phát hiện về những nguy hiểm thường gặp hằng ngày của trẻ còn thấp. 3. Bảng khảo sát thực trạng đầu năm Vì vậy ngay từ đầu năm tôi đã xây dựng những tiêu chí để khảo sát đánh giá khả năng phòng tránh nguy hiểm của trẻ hằng ngày và đạt được kết quả như sau. Biểu 1: Kết quả khảo sát chất lượng trẻ (Tổng số 47 trẻ) Kết quả STT Nội dung khảo sát Chưa đạt Đạt(%) (%) Nhận biết ra các địa điểm, đồ vật, con vật 1 22 = 46% 25 = 54% ngây nguy hiểm. 2 Biết tránh xa các mối nguy hiểm. 23 = 49% 24 = 51% Có khả năng đưa ra cách giải quyết khi gặp 3 22 = 46% 25 = 54% nguy hiểm Bình tĩnh tìm kiếm sự giúp đỡ của người 4 26 = 55% 21 = 45% lớn. 4 / 18
- Từ kết quả khảo sát và thực trạng của nhóm lớp mình, tôi thấy số lượng trẻ nhận biết và phòng tránh nguy hiểm còn thấp, đa số trẻ chưa biết về những nguy hiểm ở xung quanh trẻ. Vì vậy mà tôi mạnh dạn lựa chọn “Một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi nhận biết và phòng tránh nguy hiểm thường gặp hằng ngày ở trường mầm non”. 4. Các biện pháp đã tiến hành Để tháo gỡ những băn khoăn ấy và nhằm giúp cho bản thân có thêm tư liệu trong việc giáo dục trẻ, đồng thời giúp cha mẹ biết cách giáo dục trẻ một cách đúng phương pháp, theo khả năng của trẻ cũng như sự phát triển toàn diện cho trẻ sau này, tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp sau: Biện pháp 1: Lựa chọn nội dung giáo dục phòng tránh nguy hiểm cho trẻ phù hợp với độ tuổi. Việc lựa chọn nội dung dạy trẻ kỹ năng để nhận biết và phòng tránh nguy hiểm phù hợp với độ tuổi là một điều quan trọng trong quá trình thực hiện chương trình giáo dục trẻ. Bởi vì khi lựa chọn được nội dung phù hợp thì trẻ sẽ dễ tiếp thu kiến thức với nội dung làm trẻ hứng thú hơn trong hoạt động. Giáo viên thiết kế các hoạt động dễ dàng hơn. Bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu chương trình giáo dục mầm non, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 4-5 tuổi và cùng đồng nghiệp xây dựng phiên chế thì tôi thấy việc đưa các nội dung giáo dục về an toàn cần phù hợp với độ tuổi. Thời gian tổ chức của nội dung phù hợp với độ tuổi không quá dài, không quá ngắn, nó đảm bảo các yêu cầu và mức độ nhận thức của trẻ. Qua đó, trẻ biết những nguy hiểm tới tính mạng và cách phòng tránh. Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi, phiên chế chương trình, tôi đã lựa chọn những nội dung giáo dục để xây dựng kế hoạch dạy theo các tháng như sau: Kế hoạch Nội dung giáo dục Mục đích giáo dục - Trẻ nhận biết được những loại đồ Không sử dụng các dùng an toàn và những loại đồ dùng đồ dùng, vật dụng không an toàn với bản thân, không chèo Tháng 9 sắc nhọn. lên bàn, ghế, lan can. Không leo trèo bàn, - Trẻ biết không được cười đùa nói ghế, lan can. chuyện trong khi ăn, uống, hoặc khi ăn các loại quả có hạt... Không đến gần các đồ dùng có nguy cơ gây bỏng: phích - Trẻ nhận biết các vật gây bỏng như nước, bếp đang bếp đang đun, phích nước... đun Tháng 10 Chạm tay vào các ổ điện, nguồn điện. Không tự ý lấy thuốc - Trẻ biết không tự ý lấy thuốc uống. Tháng 11 uống. Trẻ biết hỏi ý kiến người lớn trong việc 5 / 18
- dùng thuốc. - Trẻ biết khi ra vườn chơi phải đi dép Bé biết tránh xa các hoặc giày, không chạm vào các con côn con vật nguy hiểm trùng đậu trên hoa... như chó, mèo, một - Trẻ biết được sự nguy hiểm khi tiếp Tháng 12 số con vật sống xúc với các con vật hung dữ trong công trong rừng khi tham viên hay với chó, mèo. Không tiến lại quan vườn bách thú gần, nếu con chó, mèo đó đang ăn, bị xích. - Nhận ra các kí hiệu - Trẻ biết được một số kí hiệu thông thông thường như thường để không sờ vào những nơi có cấm sờ ổ điện, cấm lửa như bếp ga đang đun hay sờ tay vào Tháng 1 lửa và các kí hiệu ổ điện. Trẻ đội mũ bảo hiểm không đùa đèn khi tham gia nghịch khi tham gia giao thông, biết giao thông. được ý nghĩa của tín hiệu đèn. - Khi ăn cơm, kẹo, - Trẻ biết các vật gây hóc sặc và tránh Tháng 2 các loại quả có hạt xa các vật đó. không cười, đùa. - Trẻ biết gọi người - Trẻ biết gọi người lớn khi trẻ cảm thấy giúp đỡ khi gặp khó Tháng 3 không khỏe như ốm, sốt, đau, hay chảy khăn như bị ngã, bị máu. chảy máu, bị lạc.... - Không đi, chạy nhảy vào chỗ có - Trẻ biết những chỗ chơn trượt, chánh nước trơn. những vũng nước dễ ngã. Tháng 4 Biết tránh các nơi Trẻ biết tránh các nơi nguy hiểm như ao nguy hiểm (ao, hồ hố vôi... hồ ). - Ôn lại các kĩ năng - Giúp trẻ ôn lại các kĩ năng đã học để Tháng 5 đã học. trẻ nhớ lâu hơn. Sau khi lựa chọn các nội trong tháng tôi thiết kế các hoạt động để triển khai dạy trẻ, có những nội dung phù hợp với việc lồng ghép trong các hoạt động học, có nội dung được đưa vào hoạt động ngoài trời. Nhưng cũng có nội dung được tổ chức thành các hoạt động riêng biệt trong các buổi chiều. Từ sự lựa chọn theo lịch trình trên sẽ giúp tôi dễ dàng hơn trong việc tuyên truyền tới phụ huynh về các cách phối hợp dạy trẻ kỹ năng sống cần thiết. Tạo được sự thống nhất giữa gia đình và nhà trường để hình thành thói quen và các phẩm chất nhân cách tốt ở trẻ. Ví dụ: Trong tháng 10 tôi lựa chọn nội dung luyện tập cho trẻ như sau: Tôi đưa ra những hình ảnh minh họa và hệ thống câu hỏi để hỏi trẻ: - Các con thấy bạn đang làm gì? - Việc bạn nhỏ làm có đúng không? - Hậu quả là gì ? 6 / 18
- - Nếu là con con sẽ làm gì? - Vì sao con làm như vậy? H1.Bài tập nguy hiểm Qua việc lựa chọn nội dung giáo dục và các bài tập thực hành tôi thấy được hiệu quả rõ rệt. Trẻ lớp tôi rất thích được chơi qua các bài thực hành ở các giờ hoạt động chiều. Qua đó trẻ sẽ được giáo dục kỹ năng nhận biết và phòng tranh nguy cơ không an toàn một cách liền mạch, cụ thể từng nội dung giáo dục sẽ nâng cao mức độ lên dần nhưng vẫn phù hợp với trẻ một cách hợp lí nhất. Biện pháp 2:Sưu tầm và áp dụng trò chơi, bài thơ, câu chuyện, bài hát có nội dung giáo dục trẻ nhận biết và phòng tránh các nguy hiểm. Từ thực tiễn tôi nhận thấy nếu dạy trẻ nhận biết và phòng tránh về các nguy cơ không an toàn chỉ bằng “thực hành miệng” thì nhiều khi trẻ sẽ không hình dung ra được. Và tôi nhận thấy các trò chơi, câu chuyện đem lại hiệu quả rất tốt trong việc giáo dục trẻ, giúp trẻ nhận biết một cách dễ dàng nhất, dễ hiểu nhất, giáo viên sẽ cảm thấy nhẹ nhàng hơn khi truyền đạt kiến thức. Từ đó tôi đã sưu tầm các trò chơi, bài thơ, câu chuyện có nội dung giáo dục trẻ nhận biết và phòng tránh các nguy hiểm để tổ chức giáo dục kỹ năng cho trẻ.Tôi tổ chức các trò chơi, bài thơ, câu chuyện này trong phần trò chơi ôn luyện các giờ học khám phá, giờ hoạt động chiều để góp phần giáo dục trẻ một cách hiệu quả nhất. Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là rất thích nghe kể chuyện. Nội dung các câu chuyện thường để lại ấn tượng cho trẻ khó phai mờ. Chính vì vậy tôi đã sáng tác một số câu chuyện lồng vào đó các tình huống để giáo dục trẻ. Giúp trẻ tiếp nhận một cách hứng thú, tự nguyện. Ví dụ: Tháng 9: Qua bài thơ: “Bé ơi” của nhà thơ Phong Thu Bé này, bé ơi! Đừng cho chân chạy Đừng chơi đất cát Buổi sáng ngủ dậy Hãy vào bóng mát Rửa mặt đánh răng Khi trời nắng to Sắp đến bữa ăn Sau lúc ăn no Rửa tay đã nhé Bé ơi, bé này Tôi sẽ giáo dục trẻ một số cách tự bảo vệ mình như rửa tay trước khi ăn, không chêu đùa trong và sau khi ăn, biết đi vào trong nhà khi trời mưa và tránh xa đất cát. Tháng 10: Với đề tài gia đình: Qua trò chơi: “Tôi hỏi bạn trả lời” là trò chơi mà trẻ lớp tôi rất hứng thú. Cách chơi: Cô sẽ đưa ra 1 số tình huống và hỏi trẻ ví dụ: - Khi gặp ấm nước đang sôi con sẽ làm gì? - Khi gắp bếp ga đang đun con sẽ làm gì? 7 / 18
- - Khi gặp ổ điện trên sàn nhà con sẽ làm gì? - Khi con vào nhà bạn chơi con thấy dao, kéo ở sàn nhà thì con sẽ làm gì? H.2:Trẻ chơi trò chơi “ Tôi hỏi bạn trả lời” Khi đó trẻ sẽ lựa chọn quyền trả lời bằng cách lắc xắc xô và trả lời, sau mỗi câu trả lời đúng trẻ sẽ được 1 hình tô màu nhỏ. Nếu như các con biết cách xử lý với những nguy hiểm trên thì trẻ sẽ có thêm được những kinh nghiệm, giảm được nhiều nguy cơ gây mất an toàn trong đời sống hằng ngày của trẻ. Tháng 11: Với đề tài giao thông: Tôi đưa ra câu truyện “Qua đường”.Tôi đưa ra câu truyện và giáo dục trẻ không tham gia giao thông khi không có người lớn đi cùng. Đồng thời đưa ra hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhận biết những nguy hiểm khi tham gia giao thông. - Khi tham gia giao thông các con phải làm gì? - Ngồi trên xe các con phải ngồi như thế nào? - Khi các con đi bộ các con phải đi bên nào? - Đèn nào các con được đi còn đèn nào phải dừng lại? Qua câu truyện trẻ thấy được những nguy hiểm xung quanh mình trẻ cần phải phòng tránh như không qua đường một mình, phải chú ý đèn giao thông...Trẻ rất hứng thú khi tham gia vào giờ học, trẻ sẽ có thêm kinh nghiệm khi tham gia giao thông an toàn. Tháng 12: Với đề tài “Động vật sống khắp nơi”. Tôi giáo dục trẻ biết làm gì và không nên làm gì với con vật đó, đồng thời chỉ ra từng hành động cụ thể. Cần cảnh báo cho trẻ biết những hành động như: Giật đuôi, đánh mạnh, siết chặt Sẽ khiến con vật bộc phát tính hung dữ và quay sang cắn người. Bên cạnh đó tôi cũng giáo dục trẻ như: Không được lại gần các con vật lúc đang ăn, ngủ hoặc đang gầm gừ, cắn nhau với con vật khác như vậy rất nguy hiểm. Để hiểu rõ hơn tôi kết hợp cho trẻ chơi trò chơi khoanh tròn những con vật hung dữ (hiền lành). Qua đó để trẻ biết và phòng tránh những nguy hiểm từ những con vật hung dữ đến những con côn trùng như con ong, con sâu để trẻ không tiếp xúc với chúng. H.3: Bé khoanh những con vật hiền lành Trong giờ hoạt động âm nhạc tôi đưa một số bài hát có hiệu quả giáo dục cao, đó là những bài hát chứa đựng tình huống không an toàn để giáo dục kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ như bài hát “con mèo ra bờ sông” của nhạc sĩ Hoàng Hà. Một con mèo ra bờ sông Meo... Mèo này chớ xuống sông Một con mèo ra bờ ao Meo... Mèo này chớ xuống ao 8 / 18
- Em cũng không chơi gần sông Em cũng không chơi gần ao...kẻo ngã...nhào. Tôi không chỉ dạy trẻ thuộc bài hát, giảng nội dung cho trẻ nghe mà tôi còn giúp trẻ hiểu được rằng không nên chơi ở gần bờ sông, bờ ao. Bởi vì đó là những nơi rất nguy hiểm mà khi trẻ ngã xuống có thể bị đuối nước nếu như không được cứu kịp thời. Với những bài thơ, ca dao, tục ngữ, các trò chơi, câu chuyện, bài hát có nội dung giáo dục trẻ nhận biết và phòng tránh nguy hiểm thường gặp hằng ngày tôi sưu tầm, sáng tác đã giúp trẻ tích cực tham gia vào hoạt động, dễ nhớ, nhanh thuộc và khắc sâu được kiến thức về nhận biết và phòng tránh nguy hiểm. Trẻ biết được việc gì nên và việc gì trẻ không nên làm đồng thời nếu không may gặp nguy hiểm trẻ sẽ nhớ lại cách được sử lí trong những bài thơ, câu truyện, bài học trẻ đã học, đã chơi. Biện pháp 3: Tạo tình huống cho trẻ trải nghiệm để đưa ra giải pháp khắc phục khi gặp nguy hiểm Việc tạo tình huống cho trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm thực tế giúp trẻ dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kiến thức. Thay vì “ Con không được làm thế này, thế kia” thì ta nên đưa ra các tình huống cụ thể thông qua thực tế giúp trẻ hiểu tại sao không được làm như thế, nếu xảy ra thì sẽ phải làm như thế nào? Từ những suy nghĩ tìm cách xử lý ở các tình huống cụ thể đó giúp trẻ dần có kỹ năng suy đoán, biết áp dụng những kiến thức kinh nghiệm mình đã có để tìm cách giải quyết. Từ đó trẻ có thể vận dụng với những tình huống khác trong thực tế hàng ngày mà trẻ gặp. Dần hình thành cho trẻ những kinh nghiệm, những kỹ năng biết bảo vệ mình trong cuộc sống. Việc xây dựng các tình huống cho trẻ trải nghiệm giúp giáo viên có cơ hội quan sát cách xử lý của trẻ và đánh giá mức độ nhận thức của trẻ đến đâu để có biện pháp tác động kịp thời. Mặt khác còn giúp cho giáo viên có thêm biện pháp mới trong việc giáo dục trẻ. Để thực hiện được biện pháp này tôi đã thực hiện theo các bước như sau: - Bước 1: Đưa ra các nội dung giáo dục trẻ để lấy làm tiêu chí xây dựng các tình huống. - Bước 2: Căn cứ vào các kĩ năng của trẻ tại lớp để xây dựng tình huống phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo . - Bước 3: Đưa ra các cách giải quyết để hỗ trợ giáo viên khi tổ chức và thực hiện cho trẻ trải nghiệm các tình huống. Tôi đã mạnh dạn nghiên cứu, xây dựng một số tình huống để đưa vào khảo sát trên trẻ Ví dụ: Tình huống “khi trẻ bị lạc”: tôi kể câu chuyện: chuyện của bé Lan. 9 / 18
- “Hôm nay Lan được mẹ cho đi chợ mua sắm để chuẩn bị đón tết, ở chợ có bao nhiêu là các gian hàng nào là bánh kẹo, quần áo, thực phẩm và đặc biệt là gian hàng đồ chơi nhiều màu sắc. Lan thích lắm, Lan ngắm hết đồ chơi này đến đồ chơi khác, nhấc lên, đặt xuống, chạy sang bên nọ, bên kia. Thế rồi... ôi mẹ đâu rồi? hu...hu...” Sau đó tôi cùng trẻ trò chuyện, đàm thoại về nội dung câu chuyên: - Bé Lan bị làm sao? - Tại sao bé Lan bị lạc? - Các con đã bị lạc mẹ bao giờ chưa? - Nếu bị lạc con sẽ làm thế nào? Bằng các hình thức như đóng kịch, xem phim, tranh ảnh, video, đọc thơ, kể chuyện...ta đưa trẻ vào các tình huống có vấn đề, lồng ghép vào những câu chuyện để trẻ dễ hình dung ra hoặc đưa ra tình huống giả định hỏi và hướng trẻ cách giải quyết, từ đó cô và trẻ cùng nhau thảo luận, suy đoán và tìm ra các dấu hiệu để nhận biết được các nguy cơ không an toàn sẽ và sắp xảy ra. Với hình thức này, trẻ được trải nghiệm và hình thành nên vốn kinh nghiệm sống, từ đó trẻ có tri thức về các nguy cơ không an toàn trong cuộc sống và có được những xử lý tốt nhất. Nhưng để trẻ có thể đưa ra những cách giải quyết phù hợp thì trước tiên chúng ta cần dạy trẻ có những đức tính sau: Dạy trẻ biết bình Tĩnh: Với những mối nguy hiểm trên tôi đã đưa ra những tình huống nhỏ để cả lớp cùng bàn bạc thảo luận và đưa ra giải pháp. Nhưng giải pháp đầu tiên mà tôi đã thống nhất với trẻ đó là phải bình tĩnh để xem xét mức độ nguy hiểm, nếu đơn giản thì tự trẻ có thể giải quyết được, còn nặng nề hơn thì trẻ sẽ nhờ sự giúp đỡ của người lớn. Ví dụ : Tôi lại kể tiếp cho trẻ nghe câu chuyện của bé Lan: “Bé Lan không thấy mẹ đâu cả, bé sợ quá khóc òa lên, bé chạy ngang chạy dọc khắp nơi để tìm mẹ, vừa chạy vừa khóc gọi mẹ, luống cuống thế nào bé vấp phải rổ hoa quả của bác bán hàng, thế là ngã nhào ra đất”. Bé Lan bị lạc mẹ Bằng các câu hỏi giả định, tôi hướng trẻ tìm cách giải quyết: - Nếu bé Lan cứ khóc như vậy có tìm được mẹ không? - Nếu Lan cứ chạy thì có tìm thấy mẹ không? - Nếu là con, con sẽ làm như thế nào? Trong bất kỳ tình huống nào, đầu tiên cần dạy trẻ phải bình tĩnh, không được khóc lóc. Bởi vì khi khóc sẽ không nhớ được các thông tin của gia đình mình, cũng không được chạy lung tung mà nên đứng yên tại chỗ để chờ vì bố mẹ sẽ quay lại đây để tìm. 10 / 18
- Dạy trẻ những thông tin cần nhớ: Những thông tin cần nhớ như: địa chỉ gia đình, địa chỉ trường học hoặc các cơ sở công cộng gần nhà, số điện thoại gia đình, bố, mẹ, ông, bà...số điện thoại công an, cứu hỏa, cấp cứu...Trẻ 4-5 tuổi đã có khả năng ghi nhớ các con số và kí hiệu đơn giản, chúng ta có thể vẽ các hình đơn giản để kí hiệu cho trẻ dễ hiểu: như là hình que diêm là cứu hỏa, hình ngôi nhà là địa chỉ nhà, hình dấu cộng là cấp cứu. Biết cách gọi điện cho cha mẹ khi có việc khẩn cấp hãy luôn nhắc trẻ đem theo bên mình một mảnh giấy ghi tên, số điện thoại của gia đình và của một người thân khác có thể liên lạc trong trường hợp khẩn cấp. Nhắc trẻ nhớ rằng tờ giấy này phải cất kỹ và chỉ đưa cho người có trách nhiệm, có thể giúp đỡ mình. Ở lớp, tôi cho trẻ tự làm một bảng thông tin cá nhân của riêng mình. Trẻ cắt dán, vẽ các hình ảnh làm biểu tượng theo trí tưởng tượng của trẻ, sau đó trẻ viết các số điện thoại hoặc các thông tin lên bảng và lưu trong góc học tập của trẻ. Với đặc điểm trẻ rất nhanh nhớ nhưng lại mau quên, thỉnh thoảng tôi lại cho trẻ lấy ra để bổ sung thêm thông tin mới và đọc lại thông tin dưới hình thức giới thiệu về bản thân, trẻ rất hào hứng tham gia. Ví dụ: Trẻ học rất nhanh thông qua hình thức sao chép, qua đó trẻ nhớ rất lâu. Tôi đã rèn trẻ học thuộc tên trường, tên lớp, số nhà, địa chỉ và số điện thoại của bố mẹ trẻ trong trường hợp trẻ gặp nguy hiểm như bị lạc hay bị thương tích có thể liên hệ được với gia đình nhanh nhất. Đồng thời tôi cũng nghiêm khắc giáo dục trẻ để tránh việc chêu đùa, nghịch ngợm dạy trẻ nên gọi trong những trường hợp nào. H.4 Trẻ ghi thông tin Dạy trẻ cách nhờ giúp đỡ: Một đứa trẻ trong gia đình được nuông chiều, bất kỳ một nhu cầu bé tí nào cũng được người lớn đáp ứng không cần phải bày tỏ ý muốn, và cũng thường thấy rằng, các bà mẹ, ông bố, nhất là ông bà nội, ngoại chỉ cần nghe nửa câu nói của trẻ là rối rít hỏi chúng muốn gì, lập tức phục vụ ngay cho trẻ. Từ những chuyện nhỏ không đáng chú ý này lại ảnh hưởng rất lớn đến tính cách của trẻ sau này. Dần dần trẻ không có kĩ năng nhờ giúp đỡ mà chỉ thụ động đứng chờ người khác đến giúp đỡ mình. Đây là một kĩ năng nếu đặt trong tình huống đơn giản thì chỉ là “chuyện nhỏ” nhưng khi gặp tình huống nguy hiểm thì kĩ năng này lại cực kỳ quan trong Ví dụ: Khi gặp tình huống nguy hiểm, trẻ phải có kĩ năng nhờ giúp đỡ để bảo vệ chính bản thân mình. Chẳng hạn khi bé bị lạc, bé sẽ nhờ ai giúp đỡ và nhờ như thế nào? Để dạy trẻ kĩ năng này, tôi tổ chức một hoạt động theo nhóm. Mỗi nhóm một địa điểm bị lạc đường: 11 / 18
- - Nhóm 1: bị lạc trong siêu thị. - Nhóm 2: bị lạc ngoài đường. - Nhóm 3: bị lạc trong công viên. Mỗi nhóm có các lô tô có hình ảnh nên và không nên làm khi bị lạc đường; một bảng gài với hai phần là mặt cười để gắn hình ảnh nên và mặt mếu gắn hình ảnh không nên. Hình ảnh lô tô đó là cô thu ngân, chú bảo vệ, cô lao công, chú công an, người lớn, bạn nhỏ khóc, chạy lung tung, bạn nhỏ đi theo người lạ...Với thời gian là một bản nhạc, các nhóm sẽ thảo luận để tìm lô tô gắn vào bảng gài cho đúng. Sau hai lần chơi, trẻ lớp tôi đã có kĩ năng tìm hình ảnh lô tô rất tốt. Nhóm nào có tình huống bị lạc đường ở đâu thì tìm đúng người có ở đó để nhờ sự giúp đỡ: Các cháu tìm hình ảnh nhờ cô thu ngân, chú bảo vệ ở trong siêu thị, chú công an, cô lao công ở ngoài đường, bác bảo vệ ở trong công viên... gắn vào bên mặt cười, còn lại hình ảnh bạn nhỏ khóc, chạy lung tung, đi theo người lạ gắn bên mặt mếu. Như vậy là khi tôi tổ chức cho trẻ trải nghiệm tình huống như vậy, trẻ sẽ học được cách nhờ ai giúp đỡ mình trong tình huống lạc ở chỗ nào. Sau khi tìm được người giúp đỡ yêu cầu trẻ là phải nói rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu Trong mọi hoạt động , nếu quan sát kỹ chúng ta thấy có vô vàn những tình huống xảy ra. Điều quan trọng là tìm ra những biện pháp kịp thời xử lý tình huống, điều chỉnh hành vi cho trẻ, giúp trẻ có thói quen, biết được cái nào nên làm và cái nào không nên làm. Lâu dần những hành vi, thói quen ấy sẽ được tích lũy và trở thành kỹ năng sống đối với trẻ. Qua những tình huống cho trẻ tham gia hoạt động trải nghiệm để trẻ tự đưa ra giải pháp khắc phục sẽ giúp trẻ bình tĩnh sử lí những vấn đề mà không may trẻ gặp phải. Biện pháp 4: Phối hợp với đồng nghiệp và phụ huynh để giúp trẻ nhận biết và phòng tránh các nguy cơ không an toàn Tôi nhận thấy việc phối kết hợp với đồng nghiệp và phụ huynh trong việc giáo dục trẻ kỹ năng sống là rất quan trọng. Hàng ngày khi tổ chức các hoạt động các cô cần phát hiện và loại bỏ các vật có thể gây nguy hiểm cho trẻ. Để làm tốt công tác này tôi đã xây dựng kết hoạch và thu được những kết quả khả quan như sau. Tôi xây dựng các bảng biểu, sưu tầm các tranh ảnh về các đồ vật không an toàn, các địa điểm có nguy cơ không an toàn, các hoạt động có nguy cơ không an toàn, trưng bày ở góc tuyên truyền của trường. Hàng ngày trước khi đón trẻ và trước khi ra về tôi cùng các giáo viên dọn dẹp lớp sạch sẽ, kiểm tra và loại bỏ các nguy cơ có thể gây mất an toàn cho trẻ. Hàng tuần vào chiều thứ sáu tôi cùng tất cả cán bộ giáo viên đều tham gia tổng vệ sinh trong và ngoài phòng 12 / 18

