SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3 - 4 tuổi tại lớp Mẫu giáo 3 - 4 tuổi A1 Trường Mầm non Tân Thái

docx 15 trang Chăm Nguyễn 10/12/2025 280
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3 - 4 tuổi tại lớp Mẫu giáo 3 - 4 tuổi A1 Trường Mầm non Tân Thái", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_giao_duc_ky_nang_tu_bao_ve_ban_than_ch.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3 - 4 tuổi tại lớp Mẫu giáo 3 - 4 tuổi A1 Trường Mầm non Tân Thái

  1. 3 giản và dễ hiểu để giúp trẻ nhận thức được sự riêng tư của cơ thể: Miệng, ngực, phần giữa hai đùi, phần mông. Đây là những vùng riêng tư nhất và chỉ có những người đáng tin nhất như mẹ mới được nhìn thấy và chạm vào. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể khám cho bé ở các bộ phận riêng tư nếu có bố mẹ ở đó để giúp bé khỏe mạnh và sạch sẽ hơn. + Khuyến khích trẻ nói “không” khi ai đó làm trẻ không thoải mái, trẻ cảm thấy khó chịu hoặc không an toàn. + Nếu có ai đó đụng chạm vào vùng riêng tư, các con phải hét lên “Không! Không được” và chạy đến bên ai đó thực sự tin tưởng, kể cho họ nghe toàn bộ sự việc. Việc này giúp các con biết sẽ không có chuyện tương tự như thế xảy ra với mình nữa. + Sử dụng sách, tranh ảnh hoặc các câu chuyện minh họa để dạy trẻ về sự an toàn trên cơ thể mình. Những câu chuyện này có thể giúp trẻ dễ hiểu hơn về vấn đề này. + Đặt ra các tình huống giả lập, cho trẻ thực hành những tình huống mô phỏng. Ví dụ: * Tình huống “Chạm vào cơ thể và nói lên cảm giác không thoải mái” Mục tiêu: Dạy trẻ cách phản ứng khi có ai đó chạm vào vùng riêng tư của mình cảm thấy không thoải mái và nhờ sự giúp đỡ.. Giả lập: Tôi tạo tình huống giả vờ là một người bạn hoặc người thân chạm nhẹ vào vùng riêng tư của trẻ. Và hỏi trẻ “Con cảm thấy sao khi ai đó gần con mà con không quen?”. Khi con thấy có ngượi chạm vào vùng riêng tư mà cảm thấy không thoải mái, con có quyền nói “không” và đi đến người lớn mà con tin tưởng. Tôi cho trẻ thực hành: Khi có người chạm vào vùng riêng tư trẻ nói “không” và đẩy tay ra. Sau đó tìm người lớn tin cậy như bố mẹ, giáo viên để báo cáo. (Hình ảnh trẻ thực hành khi có người lạ cham vào vùng riêng tư)
  2. 4 * Kĩ năng an toàn khi chơi. - Tôi luôn dạy trẻ không bao giờ đến gần nơi nguy hiểm như sông, ao, hồ... tránh bị ngã xuống nước. Hoặc khi đi tắm biển cần phải có người lớn đi cùng, không được tách ra đi một mình, tắm phải có áo phao. - Khi ở nhà không được tự ý mở nước để nghịch, tránh xa những cái chum, vại có chứa nước. Cha mẹ cần chú ý khi trữ nước cần có nắp đậy và đậy chặt để trẻ không mở được. Đặc thù của vùng nông thôn đó là hay có những bờ ruộng, rãnh mương, những hố nước sâu hay có hồ nuôi tôm nuôi cá trước mặt nhà. Chính vì vậy dạy trẻ chú ý cẩn thận không đến những nơi đó một mình để chơi. (Hình ảnh trẻ quan sát một số nơi an toàn, không an toàn) * Kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông - Giáo dục kỹ năng an toàn giao thông cho trẻ mầm non là một nội dung quan trọng giúp trẻ nhận biết các quy tắc cơ bản khi đi trên đường, từ đó hình thành thói quen an toàn và hạn chế rủi ro. - Tôi dạy trẻ phân biệt các loại phương tiện: Xe máy, ô tô, xe đạp, xe buýt Giúp trẻ hiểu sự nguy hiểm của các phương tiện di chuyển nhanh, có tiếng còi lớn. - Dạy trẻ kỹ năng đi bộ an toàn: + Đi trên vỉa hè: Hướng dẫn trẻ đi bên phải, không chạy nhảy lung tung. + Sang đường đúng cách: Dạy trẻ nhìn trái – phải – trái trước khi sang
  3. 5 đường, chỉ sang khi có người lớn đi cùng. + Không đột ngột chạy ra đường: Nhắc nhở trẻ không đuổi bóng, chạy theo bạn mà không quan sát. - Kỹ năng đi xe an toàn: + Đi xe đạp đúng nơi quy định: Nếu trẻ tập đi xe đạp, cần đi trên vỉa hè hoặc trong khu vực an toàn. + Dạy trẻ đội mũ khi đi xe đạp, xe máy cùng người lớn. Hướng dẫn trẻ biết đội mũ bảo hiểm đúng cách. Ngỗi ngay ngắn, không đùa nghịch khi ngồi trên xe đạp, xe máy; không thò đầu, thò tay, chân ra ngoài khi ngồi trên xe ô tô, xe buýt. (Hình ảnh dạy trẻ đội mũ bảo hiểm) + Cho trẻ xem một số hình ảnh, video về chủ đề giao thông được tạo từ phầm mềm (AI), ứng dụng chat gpt, capcut để trẻ hiểu và nắm chắc một số quy định khi tham gia giao thông. (Hình ảnh dạy trẻ thơ “Đèn giao thông”, video tạo từ phầm mềm AI)
  4. 6 4.4.2. Biện pháp 2: Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thông qua các hoạt động trong ngày - Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ 3-4 tuổi thông qua các hoạt động trong ngày là một phương pháp hiệu quả, giúp trẻ học hỏi và thực hành các kỹ năng này trong môi trường tự nhiên và sinh động. Việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ không chỉ dừng lại ở hoạt động chính mà còn được tích hợp vào các hoạt động trong ngày của trẻ ở trường mầm non * Hoạt động đón trẻ và tạo môi trường an toàn - Khi trẻ đến lớp mỗi ngày, đây là cơ hội để tôi giáo dục trẻ những quy tắc an toàn ngay từ đầu. Trong lúc đón trẻ, tôi có thể giáo dục trẻ về hành vi an toàn: Ví dụ, “Con phải cẩn thận khi đi vào lớp, không chạy nhảy trên hành lang để tránh ngã”. Hay “Khi có người lạ đến gần, con phải nói “không” và tìm cô giáo ngay”. - Dạy trẻ nhận diện các tình huống an toàn và nguy hiểm: “Khi con thấy một vật gì đó nguy hiểm như kéo, dao, hay phích điện, con phải nói với cô hoặc cô bạn nhé”. - Ví dụ: Tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện: Bạn An được mẹ hứa đón về sớm nhưng mẹ bận họp đột xuất chờ mãi mà không thấy mẹ, An đi ra cổng để đón mẹ bỗng có 1 người phụ nữ cho bạn An kẹo và nói “Hôm nay mẹ bận không đón con được mẹ nhờ cô đón con về. Con ngoan ăn kẹo đi rồi lên xe cô chở về”. Tôi dừng lại hỏi trẻ” Bạn An có về với người phụ nữ đó không?. Con là bạn An thì con sẽ xử lý như thế nào?. Tôi sẽ cho trẻ thảo luận và đưa ra câu trả lời. Sau đó cô kể tiếp bạn An không chịu lên xe nói là đợi mẹ đón, bạn An đi vào lớp, người phụ nữ lắm lấy áo bạn An, bạn An đã kêu lên thật to cứu. Và bác bảo vệ đã chạy tới. (Hình ảnh cô kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ)
  5. 7 * Hoạt động chơi ngoài trời: - Hoạt động ngoài trời cũng là cơ hội để trẻ thực hành kỹ năng tự bảo vệ trong một không gian rộng rãi và có nhiều mối nguy hiểm tiềm ẩn. Ở hoạt động này tôi luôn chọn những khu vực, địa điểm chơi an toàn, sử dụng đồ chơi phù hợp trong khi chơi. Khi trẻ chơi tự do, tôi quan sát, hướng dẫn trẻ, cách chơi như thế nào. - Ví dụ: Trong khi chơi đùa ngoài sân, tôi nhắc nhở trẻ cách chơi an toàn như “Khi chơi xích đu, nhớ phải cẩn thận và không đẩy mạnh quá. Cách lên xuống cầu thang, không xô đẩy nhau, đi lần lượt. Hay ngồi ngay ngắn khi chơi đu quay, và khi bạn đang chơi đu quay thì không được lại gần để đảm bảo an toàn”. (Hình ảnh chơi đu quay) - Tôi hướng dẫn trẻ cách đối phó với các tình huống khẩn cấp: Ví dụ “Khi đi dạo, tôi có thể nhắc trẻ luôn đi theo nhóm và không chạy xa khỏi cô giáo”. - Khuyến khích trẻ nhận biết các nguy cơ xung quanh: Tránh xa các vật liệu nguy hiểm, như nước đọng, vật sắc nhọn trên sân chơi, hay các đồ vật có thể gây ngã. Từ đó trẻ sẽ hiểu trong mỗi hoạt động đều tiềm ẩn những nguy cơ gây nguy hiểm để từ đó khi chơi trò chơi nào trẻ cũng có phản xạ tự bảo vệ bản thân mình về trò chơi ấy. * Thông qua chơi, hoạt động góc. - Trẻ mầm non học mà chơi - chơi mà học, đối với trẻ mầm non, hoạt động vui chơi chiếm vai trò chủ đạo trong hoạt động của trẻ ở trường. Qua vui chơi không chỉ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, phát triển trí tưởng tưởng, sáng tạo mà
  6. 8 còn giúp trẻ có những kỹ năng tự bảo vệ bản thân thông qua các trò chơi. - Khi tổ chức cho trẻ chơi hoạt động góc, tôi luôn giáo dục trẻ chơi đoàn kết với bạn, không tung, ném đồ chơi vào người bạn, vì hành động đó sẽ làm cho mình và bạn bị đau. Giáo dục trẻ không được trèo lên bàn, lên ghế, lên lan can cửa sổ. - Ví dụ: Góc xây dựng trẻ có kỹ năng hợp tác làm việc theo nhóm biết tự phân vai chơi cho nhau và chơi rất đoàn kết không tranh giành đồ chơi của nhau và biết cùng hợp tác để tạo nên công trình đẹp. (Hình ảnh trẻ chơi gọc xây dựng) - Ví dụ: Ở góc nghệ thuật khi cắt vẽ hoặc làm đồ chơi tự tạo trẻ phải dùng kéo, màu nước, bút vẽ, hồ dán thì phải biết cẩn thận khi sử dụng các đồ dùng trên, không nên lấy màu bôi lên quần áo của mình hay của bạn. Chú ý không để màu nước bắn ra bàn hay là không được ờ lấy kéo cắt lên tóc của mình hay của bạn. (Hình ảnh trẻ tạo hình ở góc nghệ thuật)
  7. 9 * Hoạt động trong giờ ăn: Dạy kỹ năng bảo vệ bản thân khi ăn uống - Khi tổ chức bữa ăn tôi lồng ghép việc giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân, giúp trẻ học cách tự bảo vệ sức khỏe của mình. Để giữ vệ sinh an toàn thực phẩm tôi nhắc nhở trẻ “Con phải rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh để tránh bị bệnh”. (Hình ảnh trẻ xếp hàng rửa tay trước khi ăn) Tôi dạy trẻ cách ăn uống an toàn: Nhắc nhở trẻ về việc ăn chậm, không cắn thức ăn quá lớn và luôn nhai kỹ trước khi nuốt để tránh bị hóc. Trong khi trẻ ăn tôi dạy trẻ ngồi ngay ngắn, không đùa nghich dễ bị sặc, không kéo bàn ghế qua lại sẽ bị kẹp vào chân mình và bạn, không dùng thìa chọc vào mặt bạn, không dùng tay bốc thức ăn. (Hình ảnh trẻ ngồi ngay ngắn trong giờ ăn)
  8. 10 * Hoạt động cuối ngày: Đánh giá và củng cố kiến thức - Trước khi kết thúc một ngày của trẻ ở trường mầm non, tôi có thể dành chút thời gian để củng cố những bài học về kỹ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ. Tôi hỏi lại trẻ về những quy tắc an toàn mà trẻ đã học trong ngày và yêu cầu trẻ chỉ ra các tình huống mà trẻ cảm thấy an toàn hay không an toàn. - Khuyến khích trẻ chia sẻ cảm nhận: Trẻ có thể chia sẻ về cảm xúc của mình khi gặp phải các tình huống nguy hiểm và tôi có thể hướng dẫn cách xử lý các cảm xúc đó để trẻ cảm thấy tự tin hơn. (Hình ảnh trẻ chia sẻ cảm xúc khi gặp tình huống nguy hiểm) 4.4.3. Biện pháp 3: Giáo dục kỹ năng tự bảo vệ bản thân thông qua các trò chơi, xây dựng các tình huống cho trẻ trải nghiệm và cách giải quyết tình huống cho trẻ. - Trẻ em học nhanh nhất thông qua các trò chơi và ghi nhớ sâu hơn thông qua việc xử lý các tình huống. Vì vậy tôi đã thiết kế các trò chơi và xây dựng các tình huống để giúp trẻ nhận biết được các kĩ năng một cách tốt nhất. Từ đó trẻ có những kinh nghiệm để xử lý các tình huống thực tế xảy ra. Tôi đã chọn những trò chơi có độ khó vừa cho trẻ. Để trò chơi hấp dẫn, tôi chuẩn bị những đồ dùng phong phú, bắt mắt, dễ sử dụng và thực sự có hiệu quả. Ví dụ: - Trò chơi 1: Nhanh mắt nhanh tay + Ở trò chơi này tôi sẽ chuẩn bị cho trẻ những hình ảnh vật dụng, tình huống nguy hiểm và không nguy hiểm. + Cách chơi: Chia trẻ thành 2 đội, lần lượt trẻ ở mỗi đội sẽ lên tìm những hình
  9. 11 ảnh vật dụng, tình huống nguy hiểm và gạch chéo. (Hình ảnh trẻ chơi trò chơi nhanh mắt nhanh tay) - Trò chơi 2: Nên và không nên. + Cô chuẩn bị hình ảnh về hành động, đồ vật an toàn và nguy cơ gây hại cho trẻ. Mỗi trẻ 2 thẻ: mặt cười màu xanh (nên), mặt mếu màu đỏ (không nên). + Cách chơi: Trên màn hình xuất hiện những hình ảnh chơi an toàn và nguy cơ xảy ra tai nạn. Nhiệm vụ của các con là hãy giúp cô phân biệt được các hình ảnh đó bằng cách giơ mặt cười màu xanh (nên) hay mặt mếu màu đỏ (không nên). (Hình ảnh trẻ giơ mặt mếu khi thấy hành động không an toàn)
  10. 12 - Trò chơi 3: Ai đoán giỏi + Cô chuẩn bị xắc xô cho trẻ chơi. + Cách chơi: Cô nêu các hành động, yêu cầu trẻ nêu tiếp các hành động đúng để tự bảo vệ bản thân mình. Trẻ lắc xắc xô giành quyền trả lời. Bên cạnh đó tôi lựa chọn một số tình huống để trẻ xử lý như: - Tình huống 1: Cổng trường mở khi trẻ đang chơi. Mục đích: Giúp trẻ nhận diện người lạ và biết cách từ chối, tìm sự trợ giúp khi gặp người lạ. Cách thực hiện: Khi trẻ đang chơi trên sân trường, cô đưa trẻ vào tình huống cổng trường mở, có người lạ đến cho quà. Tôi hỏi trẻ: Nếu cánh cổng trường mở, có người lạ đến cho quà, các con sẽ làm gì? Cho trẻ thảo luận và trả lời. Giáo dục trẻ: Không được nhận quà, và đi theo người lạ. Không được tự ý ra ngoài và dễ sảy ra tai nạn hoặc bị lạc, bị bắt cóc. (Hình ảnh người lạ đi từ cổng trường vào khi trẻ đang chơi) - Tình huống 2: Giúp đỡ khi cần thiết Mục đích: Dạy trẻ cách yêu cầu sự giúp đỡ khi cảm thấy không an toàn hoặc gặp phải tình huống nguy hiểm.
  11. 13 Cách thực hiện: Tôi cho trẻ quan sát video về tình huống các bạn đang chơi đùa thì có bạn bị ngã và bị đau chân. Tôi hỏi trẻ: Nếu bị ngã đau, con sẽ làm gì? Cho trẻ thảo luận và trả lời. Tôi nêu cách giải quyết tốt nhất: Khi đang chơi và bị ngã đau, các con phải bình tĩnh gọi cô giáo hay khi ở nhà thì gọi ông bà bố mẹ. “Cô ơi, con bị đau” hoặc “Cô ơi, con không thể tự đứng lên được”. Hay nhờ bạn gọi cô giáo giúp đỡ. Hoạt động này giúp trẻ nhận thức được khi nào cần yêu cầu sự giúp đỡ. (Hình ảnh trẻ quan sát video bạn bị ngã và cách xử lý tình huống) Sau các hoạt động trải nghiệm, thực hành tôi cùng trẻ thảo luận lại những gì đã học được trong quá trình thực hành. 4.4.4. Biện pháp 4: Tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh: - Ngoài công tác tuyên truyền trên loa đài, khẩu hiệu, tờ rơi về kĩ năng tự bảo vệ bản thân cho trẻ thì công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh là một trong những biện pháp quan trọng. Luôn nhắc nhở và tuyên truyền cho phụ huynh thực hiện các biện pháp an toàn cho trẻ để phòng tránh những tai nạn có thể xảy