SKKN Một số biện pháp chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm thực hành phương pháp kỉ luật tích cực trong phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm thực hành phương pháp kỉ luật tích cực trong phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_giao_vien_chu_nhiem_thuc_hanh.docx
SKKN Một số biện pháp chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm thực hành phương pháp kỉ luật tích cực trong phong.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm thực hành phương pháp kỉ luật tích cực trong phong trào thi đua Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
- PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào thi đua ‘Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phong trào này đã được triển khai rộng rãi trong các trường mầm non và phổ thông giai đoạn 2008 đến nay. Phong trào thi đua này phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục (giáo dục nhà trường là nòng cốt), phát huy vai trò tích cực, sáng tạo của học sinh cùng xây dựng môi trường giáo dục thân thiện. Đó là môi trường an toàn, thuận lợi với mọi học sinh; học sinh được tạo điều kiện để sống khỏe mạnh, vui vẻ, tích cực học tập và tham gia các hoạt động khác; được giáo viên nhiệt tình giảng dạy yêu thương, tôn trọng; được gia đình và cộng đồng tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng của bản thân. Cũng trong môi trường này, học sinh ý thức sâu sắc hơn về quyền được chăm sóc và bảo vệ, quyển được hưởng nền giáo dục có chất lượng. Cùng thời gian này, Tổ chức Plan tại Việt Nam triển khai chương trình hành động “Trường học thân thiện” (tháng 2 năm 2008) với khẩu hiệu trọng tâm “ Giáo viên mẫu mực, học sinh tích cực” nhằm đạt mục tiêu “ Mọi trẻ em Việt Nam được sống trong môi trường bảo vệ an toàn, ở đó tất cả hành vi bạo lực trẻ em được ngăn chặn và giải quyết triệt để”. Theo đó: 1/ Trẻ em hiểu được quyền và bổn phận của mình, biết được các kỹ năng sống giúp phòng tránh các hình thức bạo lực và được bày tỏ quan điểm của mình đối với các vấn đề liên quan đến trẻ; 2/ Người dân, đặc biệt là giáo viên, cha mẹ, những người chăm sóc trẻ , hiểu được quyền và bổn phận của của trẻ em, các tác hại của trừng phạt, bạo lực trẻ em và dần có khả năng áp dụng phương pháp kỷ luật tích cực Phương pháp kỷ luật được đề cập ở trên phản được hiểu theo nghĩa rộng. Đó là một quan điểm giáo dục, trong đó các chủ thể giáo dục thiết lập, vận hành mối quan hệ, cách thức xử sự thân thiện (loại trừ các hình thức bạo lực, trừng phạt) giúp cho mọi học sinh thấy thoải mái, tích cực phát huy những điểm mạnh, 3
- những hành vi tốt, giảm thiểu những hành vi không phù hợp, củng cố các hành vi tích cực và phát triển nhân cách tốt đẹp một cách bền vững. Với sự phù hợp về mục tiêu và những nội dung cơ bản của phong trào thi đua ‘Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo và chương trình hành động “Trường học thân thiện” của Tổ chức Plan tại Việt Nam, việc tích hợp các hoạt động của phong trào thi và chương trình hành động nói trên là hợp lí. Phương pháp kỷ luật tích cực là một trong những con đường thực hiện sự tích hợp đó. Phong trào thi đua ‘Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được triển khai rộng rãi trong các trường mầm non và phổ thông trong những năm qua và thu được những kết quả khả quan. Ở mỗi địa phương, ở từng cơ sở giáo dục, bằng thực tiễn và kinh nghiệm của mình đã có những cách làm hay trong việc triển khai phong trào thi đua này. Bài viết này đề cập đến một trong những biện pháp chỉ đạo công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trong thực hiện phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”: biện pháp áp dụng phương pháp kỷ luật tích cực trong công tác chủ nhiệm lớp để thực hiện các mục tiêu của phong trào thi đua. Đây là vấn đề người viết đã lựa chọn và triển khai trong SKKN khoảng 5 năm về trước. Cho đến thời điểm này, nhìn lại việc triển khai hoạt động này trong trường THCS, người viết nhận thấy cần đi sâu hơn vào một vài khía cạnh quan trọng của biện pháp áp dụng phương pháp kỷ luật tích cực trong công tác chủ nhiệm lớp trong trường THCS, đồng thời hệ thống lại những kết quả đã đạt được trong việc triển khai SKKN trong những năm học gần đây tại đơn vị cơ sở nơi người viết công tác. Chính vì vậy, trên cơ sở SKKN năm trước đã tiến hành, người viết tiếp tục lựa chọn đề tài: Một số biện pháp chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm thực hành phương pháp kỉ luật tích cực trong phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” 2. Mục tiêu nghiên cứu Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hành phương pháp kỷ luật tích cực nhằm nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp và thực hiện tốt các mục tiêu, 4
- nội dung của phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực” 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hành phương pháp kỷ luật tích cực trong công tác chủ nhiệm lớp - Thử nghiệm một hoạt động chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp thực hành phương pháp kỷ luật tích cực trong phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”. Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC TRONG PHONG TRÀO THI ĐUA “XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN HỌC SINH TÍCH CỰC” 1.1. Quan niệm về công tác chủ nhiệm lớp trong đổi mới giáo dục hiện nay 1.1.1. Tm guan trng ca công tác ch nhiÖm lp Công tác chủ nhiÖm lớp ra đời cách đây mấy trăm năm, sau khi xuất hiÖn hÖ thống tỗ chức nhà trường theo lý luËn của Cômenxki và tồn tại cho đến ngày nay. Vì trường đông HS, cần chia nhỏ thành lớp, quản lý HS mỗi lớp là GVCN. Hàng trăm năm, chức năng cơ bản nhất của GVCN là Ðại diÖn của HiÖu trưởng quản lý hoạt đéng học t¾p, sinh hoạt của mét lớp học trong nhà trường. Vì vËy GVCN được coi như "Mét hiÖu trưởng nhỏ". HiÖn nay, do những yêu cầu mới mà vai trò, vị trí của GVCN có những thay đổi rất lớn. + Tr-c ht do môc tiêu giáo dôc có nh÷ng thay di. Ngày nay giáo dục con người phát triễn toàn diÖn trở thành yêu cầu khách quan, là đòi hỏi của sự phát triễn kinh tế XH của nền văn minh HËu công nghiÖp. Yêu cầu của XH cần đào tạo những thế hÖ lao động thông minh, năng động, sáng tạo, biết kết hợp giữa lao động chân tay và lao động trí óc, giữa lý luËn với thực tiÔn, có kiến thức sâu rộng và có năng lực vËn dụng kiến thức vào thực tế. Có xúc cảm, tình cảm, niềm tin sâu s¾c vào sự phát triễn của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước. Có bản lĩnh chính trị vững vàng trong mọi tình huống, có sức khỏe thễ chất và sức khỏe tinh thần, có 8 năng lực đễ 5
- phát triễn (n¨ng lực hoàn thiÖn, giao tiếp ứng xö, thích ứng, hîp tác và cạnh tranh; Tổ chức quản lý; Hoạt đéng chính trị x· héi và n¨ng lực Lao đéng nghề nghiÖp chuyên biÖt). + Môi tr-ng xã héi phong phú phøc tp, dòi hi phi di mi ph-ơng thøc t chøc tác déng giáo dôc. Chúng ta đã biết "bản chất của con người là tỗng hòa các quan hÖ xã hội". Ngày nay dưới tác động của các phương tiÖn thông tin đại chúng, của viÖc Hội nhËp mở cửa giao lưu toàn cầu đã dÉn tới sự giao thoa giữa các môi trường vi mô và vĩ mô, chính điều đó đòi hỏi phải thống nhất các ảnh hưởng, các tác động của các loại môi trường. Song, giáo dục nhà trường mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường và GVCN, là lực lượng chịu trách nhiÖm chủ yếu. Chú thích: b1 - : Mối cá nh©n (HS) b2 - a1, a2, a3: Là m«i trường vi m« như gia đình céng đồng n¬i ở lớp học; T¾p thể giáo dṇc a2 - b1, b2.: Là m«i trường x· héi vĩ m« tõ địa phư¬ng, quốc gia đến quốc tế. a3 - Tính thống nhất các lực lưîng trong an hoạt đéng giáo dṇc. Một thực tế ai cũng thấy mục tiêu, chất lượng giáo dục đào tạo ngày càng đòi hỏi cao, môi trường sống ngày càng phong phú, phức tạp. Chỉ có thễ giải quyết mâu thuÉn trên bằng một hÖ thống giải pháp tạo ra sự thống nhất các tác động giáo dục, một phần không nhỏ đÆt trên vai đội ngũ GVCN lớp ở các trường. + Mét thvc t không th b gua dó là thanh thiu niên ngày càng có nh÷ng d¾c dim rt dáng guan tâm, rt cn có giáo viên ch nhiÖm. Học sinh ngày nay có những đÆc điễm tâm sinh lý mà thế hÖ ông cha trước đây không có. Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như đời sống vËt chất được nâng cao, ảnh hưởng của văn hóa phẫm, của các tác động XH tích cực và tiêu cực trong và ngoài nước; các em được sống trong XH dân chủ, bình đ¼ng, cởi mở hơn, các em có cơ hội, có điều kiÖn tham gia nhiều lĩnh vực của cuộc sống, của các hoạt động vui chơi, giải trí... ở thế hÖ trÎ ngày nay có những chỉ số phát triễn hơn các thế hÖ trước: 6
- khỏe hơn, tuỗi dạy thì sớm hơn, các chỉ số IQ cũng cao hơn, nhu cầu hoạt động, hưởng thụ cũng phong phú hơn. Sống trong thực tế ấy, ở HS có sự phân hóa, phân cực khá râ rÖt. Một bộ phËn không nhiều, có nhËn thức, có ý chí, bản lĩnh biết tËn dụng thời cơ, điều kiÖn học tËp rèn luyÖn đễ trở thành những người tiên tiến. Còn một bộ phËn lớn chưa có kinh nghiÖm sống, những phẫm chất tâm lý, đạo đức chưa bền vững rất khó khăn trong sự lựa chọn, xác định phương hướng học tËp, rèn luyÖn, vì vËy vai trò của các nhà SP (trong đó có GVCN) là rất quan trọng. Xuất phát từ những yêu cầu mới, từ hoàn cảnh cụ thễ của XH, của gia đình trong thời đại hiÖn nay vị trí của GVCN và công tác GVCN ở trường học có một ý nghĩa đÆc biÖt. Vấn đề đÆt ra là đòi hỏi thầy cô giáo chủ nhiÖm như thế nào và cần xác định một cơ chế hoạt động về quyền hạn, trách nhiÖm cho phù hợp với thực tế. 1.1.2. Chøc n¨ng, nhiÖm vô ca GVCN Trong giai đoạn hiÖn nay, do yêu cầu của đỗi mới giáo dục, người GVCN phải là sự tỗng hợp nhân cách, năng lực của mét nhà SP, mét nhà quản lý, mét cố vấn cho các tỗ chức XH và gia đình, là tư vấn cho tất cả HS trong học tËp, rèn luyÖn và hoạt động XH, GVCN còn phải là mét nhà hoạt đéng chính trị v¨n hóa x· héi. Ðiễm mới, khác chủ yếu GVCN hiÖn nay so với trước là ở chỗ: - Tr-c dây: + Ðối tưîng : Quản lý HS một lớp học + Néi dung quản lý : Hoạt động học tËp + Kh«ng gian thời gian : ở lớp ở trường + Phư¬ng pháp quản lý : Trực tiếp + Chịu trách nhiÖm với hiÖu trưởng. - Bây gi cn: + Ngoài những yêu cầu như trước đây, GVCN là người thiết kế, tổ chức quan hÖ phối hîp các lực lưîng trong và ngoài nhà trường nh»m thực hiÖn mṇc tiêu giáo dṇc toàn diÖn, phát triển tiềm n¨ng của XH và nhà trường, phát huy tốt nhất, tối đa khả n¨ng của HS. Ta có thễ thấy râ hơn qua bảng so sánh sau đây: 7
- TT TRƯỚC ĐÂY HIỆN NAY CẦN LÀM 1 Quản lý hoạt Cố vấn cho HS tỗ chức mọi hoạt động (HDGD NGLL là động DH trên trọng tâm) nhằm GD đạo đức, lối sống và phát triễn các lớp năng lực, giáo dục hướng nghiÖp. 2 Chỉ quản lý HS Phối hợp với các lực lượng XH tạo điều kiÖn không gian, ở lớp ở trường thời gian cho HS học tËp, rèn luyÖn (khép kín không gian, thời gian hoạt động của HS). 3 Trực tiếp nhËn - Giúp HS và tËp thễ lớp tự đánh giá quá trình rèn luyÖn theo mục tiêu GD. xét đánh giá kết quả học tËp - Phối hợp, tiếp thu nhËn xét đánh giá của GÐ và các tỗ hạnh kiễm của chức GD khác đễ đánh giá khách quan quá trình rèn HS luyÖn của HS 4 Thông báo kết - Thông báo qua cộng đồng nơi ở (tỗ dân phố, dùng họ, quả trực tiếp cơ quan cha mẹ công tác, tỗ chức Ðội và Ðoàn cho gia đình 5 Không yêu cầu - Cần tỗ chức trang bị trình độ SP, phỗ biến mục tiêu, kế GVCN phải hoạch GD cho các bËc cha mẹ và các lực lượng XH có liên quan. làm 6 Không yêu cầu - Phát hiÖn năng khiếu và sở thích, bồi dưỡng các loại HS (giỏi, yếu, có năng khiếu các loại) 7 Không yêu cầu - Kế hoạch hóa viÖc tỗ chức bồi dưỡng, rèn luyÖn các loại kỹ năng cho tất cả HS thông qua bố trí đội ngũ cán bộ tự quản và các hoạt động của lớp, tỗ chức các câu lạc bộ. 8 Không yêu cầu - Xây dựng Hội cha mẹ thành lực lượng tham gia trực tiếp vào các hoạt động của lớp chủ nhiÖm 9 Không yêu cầu - Kế hoạch hóa viÖc sử dụng mọi tiềm năng của GÐ và XH vào phục vụ các hoạt động GD của lớp CN và của trường. 10 Không yêu cầu - Phản ánh những nguyÖn vọng chính đáng của HS với những người có trách nhiÖm đễ giải quyết (hiÖu trưởng, GV môn học, gia đình, các tỗ chức XH). 11 Không yêu cầu - Tư vấn cho HS lựa chọn nghề nghiÖp (GD hướng nghiÖp) - Phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường định hướng phân ban và giáo dục hướng nghiÖp (THPT) 8
- Ðễ thực hiÖn được chức năng, nhiÖm vụ công tác chủ nhiÖm trong giai đoạn mới đòi hỏi thầy cô giáo chủ nhiÖm phải có: - Trí: Không chỉ là kiến thức môn học mà còn cần kiến thức, nghÖ thuËt giáo dục, về quản lý giáo dục, về các kiến thức khoa học xã hội, nhân văn về chính trị. Phải có kiến thức thực tế, phải c¾p nh¾t với kiến thức mới, hiÖn đại (ví dụ ). - Tâm: Là hÖ thống các giá trị nhân cách, Tâm còn là lý tưởng nghề nghiÖp (Ðam mê với nghề), Tâm còn là phẫm chất tâm lý (ý chí, nghị lực bình tĩnh, tự kìm chế, năng động, sáng tạo) là cuộc sống tâm hồn, sống lạc quan, yêu đời ) - Tm: Tầm nhìn là phương pháp luËn giải quyết biÖn chứng các sự kiÖn, hiÖn tượng giáo dục, tổ chức giáo dṇc theo mét hÖ thống viễn cảnh (từ gần đến trung bình và xa). 1.2. Phương pháp kỷ luật tích cực 1.2.1. PPKLTC là gì? Phương pháp kỷ luật tích cực trong nhà trường là biện pháp giáo dục học sinh mà không sử dụng đến các hình thức bạo lực, trừng phạt; trong đó giáo viên, cán bộ giáo dục áp dụng các hình thức kỷ luật tích cực, phù hợp để giúp học sinh giảm thiểu những hành vi không phù hợp, củng cố các hành vi tích cực và phát triển nhân cách một cách tốt đẹp, bền vững. PPKLTC được thực hiện dựa trên một số nguyên tắc sau: • Vì lợi ích tốt nhất của học sinh: Mọi hành động, biện pháp kỷ luật mà giáo viên áp dụng là nhằm mang lại lợi ích tốt nhất cho học sinh để các em có thể phát huy tốt nhất các tiềm năng của mình. • Không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của học sinh: Các hình thức, biện pháp giáo dục, kỷ luật đối với học sinh, trong mọi trường hợp, không được xâm hại đến thân thể cũng như tinh thần của các em. Các biện pháp can thiệp phải tập trung, hướng vào hành vi của học sinh, không phải để phê phán con người, nhân cách của học sinh. Dưới góc độ này, 9
- giáo viên, cán bộ giáo dục cần luôn nhận thức rằng “không có học sinh xấu, chỉ có hành vi của học sinh là tốt hay xấu” mà thôi. • Có sự trao đổi, thỏa thuận giữa giáo viên và học sinh: Mọi cách thức, chế tài kỷ luật được áp dụng – dù học sinh có thể không mong muốn, buộc phải làm theo – đều cần được trao đổi trước giữa giáo viên và học sinh. Nếu đạt được sự thỏa thuận, đồng ý giữa hai bên trước khi áp dụng là tốt nhất. • Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh: Ở mỗi độ tuổi khác nhau, học sinh có những đặc điểm phát triển khác nhau, vì vậy, các biện pháp giáo dục, kỷ luật đối với học sinh cũng phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em. Cần lưu ý rằng PPKLTC không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc áp dụng các biện pháp kỷ luật phù hợp đối với các học sinh có hành vi không phù hợp để uốn nắn, chỉnh sửa các hành vi đó của các em. PPKLTC, theo nghĩa rộng, là việc giáo viên, cán bộ giáo dục có cách thức xử sự thân thiện, phù hợp giúp cho mọi học sinh thấy thoải mái, tích cực phát huy những điểm mạnh, những hành vi tốt của mình. 1.2.2. Lợi ích của việc áp dụng PPKLTC PPKLTC đem lại nhiều ích lợi không chỉ đối với giáo viên, cán bộ giáo dục, đối với học sinh mà còn đối với cả sự nghiệp giáo dục, sự phát triển của XH. Đối với giáo viên: Khi áp dụng thành công PPKLTC, giáo viên sẽ giảm được áp lực công việc quản lý lớp học vì học sinh hiểu và chấp hành nội quy một cách tự nguyện và có trách nhiệm hơn. Giáo viên sẽ ít cảm thấy tức giận, căng thẳng trong việc đối xử và kỷ luật học sinh hơn. Mối quan hệ giữa thầy và trò cũng trở nên cởi mở, gần gũi, thân thiện hơn. Không khí ở lớp học, sân trường sẽ vui vẻ, thoải mái hơn. Từ đó, chất lượng của việc giảng dạy của giáo viên cũng sẽ được cải thiện. 10
- Đối với học sinh: Khi giáo viên áp dụng PPKLTC, học sinh sẽ có nhiều cơ hội được chia sẻ và bày tỏ, được mọi người quan tâm hơn. Các em sẽ cảm thấy tự tin hơn khi đứng trước thầy cô và bạn bè. Các em cũng tích cực, chủ động, sáng tạo hơn trong học tập. Ngoài ra, các em cũng phát triển được tốt hơn các kỹ năng sống về mặt xã hội. Đối với ngành giáo dục và xã hội: Rõ ràng khi việc áp dụng PPKLTC giúp ích cho học sinh và giáo viên thì chất lượng của việc dạy và học sẽ được nâng lên. Bên cạnh đó, PPKLTC sẽ giúp giảm bớt các vụ việc bạo lực trong nhà trường cũng như ngoài xã hội, một vấn đề khá nóng trong thời gian gần đây. Mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy cô và học sinh, môi trường giáo dục thân thiện, tích cực, hiệu quả mà PPKLTC góp phần đem lại cũng là một trong những mục đích của phong trào xây dựng “Trường học thân thiện” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động trên cả nước thời gian vừa qua. 1.2.3. Một số nội dung cơ bản của PPKLTC Khi đề cập đến PPKLTC, rất nhiều khía cạnh khác nhau về kiến thức và kỹ năng dành cho người lớn được đề cập. Tuy nhiên, một số kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất về PPKLTC cần thiết đối với giáo viên là: a) Hiểu nhu cầu của trẻ và mục đích sai lệch của hành vi tiêu cực ở trẻ Ngoài những nhu cầu sinh lý tối thiểu như ăn, uống, ngủ, nghỉ, cũng giống như người lớn, trẻ em còn cần được đáp ứng các nhu cầu về tâm lý, xã hội để phát triển toàn diện. Năm trong số những nhu cầu quan trọng nhất của trẻ bao gồm: Được an toàn; Được yêu thương; Được tôn trọng; Được hiểu và cảm thông; và Được cảm thấy có giá trị. Với học sinh, các em rất cần được giáo viên, cán bộ giáo dục trong nhà trường có những cách thức xử sự phù hợp để đáp ứng những nhu cầu trên của mình. Các em sẽ cảm thấy được an toàn nếu thầy cô có lòng khoan dung, coi lỗi lầm là cơ hội để trẻ sửa sai và thay đổi tốt hơn. Các em sẽ thấy mình được yêu thương khi thầy cô có những cử chỉ nhẹ nhàng, ân cần, dịu dàng, thân mật. Khi 11
- thầy cô lắng nghe, tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ suy nghĩ và động viên các em kịp thời, các em sẽ thấy mình được cảm thông. Sự lắng nghe và tiếp thu ý kiến của học sinh một cách phù hợp cũng sẽ giúp các em thấy mình có giá trị và được tôn trọng. Tại sao học sinh hiện nay thường mắc lỗi, thường có nhiều hành vi không đúng mực hơn trước? Trong quá trình thực hiện dự án, chúng tôi nhận được nhiều phản hồi từ phía giáo viên rằng “học sinh hiện nay hư hơn, khó dạy bảo hơn”. Tại sao vậy? Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó việc bùng nổ thông tin internet hiện nay giúp học sinh có tiếp cận được nhiều kiến thức và yêu cầu giáo viên phải cập nhật với những kiến thức xã hội này. Bên cạnh đó, việc hạn chế trong sử dụng các PPKLTC một cách hợp lý, linh hoạt cũng là một nguyên nhân chính giải thích cho vấn đề này. Mỗi một hành vi của học sinh, dù tiêu cực, cũng nhằm những mục đích nhất định. Học sinh có thể có những hành vi ngổ ngáo, chọc tức thầy cô, nói chuyện trong lớp, vì muốn thu hút sự chú ý của thầy cô, bè bạn. Đôi khi các em có thể đánh nhau, cãi lại thầy cô một cách bướng bỉnh, vì muốn thể hiện quyền lực, cái tôi cá nhân của mình. Cũng có em phá phách lớp học, cãi lại thầy cô, bày trò chêu tức thầy cô, vì muốn trả đũa một hành vi, quyết định nào đó của thầy cô mà các em cho rằng mình bị đối xử bất công, không phù hợp. Một số em thì thường lại tỏ ra thờ ơ, chán nản, bỏ ngoài tai những gì thầy cô giáo nói , đó có thể là vì các em thấy mình không phù hợp với yêu cầu của thầy cô. Để có thể áp dụng những kiến thức, kỹ năng khác của PPKLTC, người giáo viên cần thiết phải tìm hiểu rõ được mục đích ẩn sau những hành vi tiêu cực của học sinh và có những cách đối xử phù hợp, hướng tới việc đáp ứng những nhu cầu tâm lý, xã hội của trẻ như đề cập ở trên, giúp giáo dục các em đi đúng hướng. b) Xây dựng nội quy lớp học phù hợp 12
- Nội quy, nề nếp là cơ sở để học sinh hiểu được hành vi nào là phù hợp, hành vi nào là không phù hợp, đâu là việc các em có thể làm và đâu là việc các em không thể làm. Việc xây dựng, duy trì nội quy lớp học là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể đưa ra được những nội quy tốt, phù hợp và đảm bảo sự tuân thủ thực hiện của học sinh thì không phải lúc nào cũng dễ dàng. Khi xây dựng nội quy lớp học, các thầy cô cần đảm bảo có sự trao đổi, thảo luận với học sinh. Học sinh thường có thiên hướng tự nguyện làm theo những gì mình đã được trao đổi, đã đồng ý, cam kết thực hiện hơn là bị bắt buộc làm theo các yêu cầu được đưa từ trên xuống. Quá trình trao đổi, thảo luận với thầy cô về các nội quy một phần sẽ giúp các em hiểu, nhập tâm về việc được quy định, đồng thời thấy mình cần có trách nhiệm hơn với việc tập thể đã trao đổi và thống nhất. Nội quy của lớp học được đưa ra cần ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ, dễ hiểu. Các nội quy cần được xây dựng dựa trên những yêu cầu của thực tế, thực sự cần thiết cho các em, cho lớp học, chứ không phải những khẩu hiệu mang tính giáo điều, chung chung, khó tuân thủ và thực hiện. Giáo viên là người “cầm cân nảy mực”, cần suy nghĩ thấu đáo và cảm thông với các em khi đưa ra các nội quy: Những quy định đó có thực sự là bắt buộc không hay các em có thể có những trao đổi, thương lượng phù hợp? Ngoài ra, các em cũng cần được giải thích, hiểu rõ được hậu quả nếu có của việc không tuân thủ các nội quy đã được đề ra. Việc đề ra nội quy lớp học đã khó, việc duy trì và củng cố nội quy sẽ càng khó hơn. Bản tính hiếu động, dễ quên của nhiều học sinh cần nhận được sự cảm thông từ phía giáo viên. Một mặt, các thầy cô cần nghiêm khắc nhắc nhở, cảnh báo các em về những hậu quả nếu không tuân thủ nề nếp, nội quy. Một mặt các thầy cô cùng cần mở cho các em những lựa chọn phù hợp để khắc phục hậu quả khi các em đã lỡ vi phạm. Ở một chừng mực nào đó, chúng ta cần hiểu rằng phạm lỗi là một phần tất yếu của cuộc sống và khi phạm lỗi thì cần được tạo cơ hội hiểu biết, sửa sai, khắc phục hậu quả hơn là bị trừng phạt hà khắc. 13

