Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh Lớp 3
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_phat_trien_nang_luc_thuc_hanh_noi_va_v.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh Lớp 3
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. - Phương pháp kiểm tra đánh giá: Tổng kết, đánh giá kết quả đạt được và những bài học kinh nghiệm. PHẦN THỨ HAI: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP 1. Cơ sở lí luận: Để đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh qua phân môn Tập làm văn, đòi hỏi mỗi giáo viên cần chú ý phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập thông qua các hoạt động phù hợp với đặc điểm nhận thức và cách học của học sinh Tiểu học. Những hoạt động này rất đa dạng và có vai trò khác nhau, từ khởi động, khám phá đến luyện tập, vận dụng. Ngoài ra, giáo viên cần tổ chức các hoạt động dạy học phù hợp giúp học sinh chủ động hơn trong học tập; hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ học sinh một cách hiệu quả để các em từng bước hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực mà chương trình mong đợi. 2. Cơ sở thực tiễn: Theo Chương trình môn Tiếng Việt lớp 3, kĩ năng viết đoạn văn chú trọng hơn đến việc hướng dẫn theo các bước: xác định nội dung viết, hình thành ý và sắp xếp ý cho đoạn văn, chỉnh sửa lỗi và hoàn thiện bài viết. Vì vậy giáo viên cần tạo cơ hội cho tất cả các đối tượng học sinh trong lớp được trải nghiệm, được chia sẻ, được nói và được lắng nghe ý tưởng của các em. Giáo viên cần biết khơi gợi những năng lực tiềm tàng, tiềm tại trong mỗi học sinh để từ đó đạt được mục tiêu mỗi học sinh đều viết được đoạn văn hòan chỉnh, phù hợp với yêu cầu. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 1. Thuận lợi: Học sinh đã biết viết đoạn văn kể, tả ngắn ở lớp 2 theo các chủ đề. Ở lớp 3, trước khi viết đoạn văn, học sinh được đọc văn bản, được nói và nghe, được thực hành luyện từ và câu theo từng chủ đề. Giáo viên nắm chắc tâm lí lứa tuổi và 3/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. năng lực phẩm chất của từng học sinh trong lớp. Với kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm lớp 3 và được sự chỉ đạo sát sao, tận tình của Ban Giám hiệu và Lãnh đạo phụ trách chuyên môn của trường, bản thân tôi thấy rất thuận lợi trong việc rèn kĩ năng thực hành viết văn cho các em. 2. Khó khăn: Về phía học sinh: Thực tế giảng dạy nhiều năm gần đây cho thấy học sinh rất ngại học văn. Phần lớn các em thích học Toán. Gia đình các em cũng thích con học giỏi Toán hơn. Lên đến cấp THCS chúng ta đều thấy rõ tỉ lệ học sinh theo học các môn Tự nhiên cao hơn rất nhiều. Đa số các em cho rằng môn văn là “không quan trọng”. Với học sinh lớp tôi đang trực tiếp giảng dạy nói riêng cũng như toàn khối 3 nói chung đa số là con em nông dân. Do điều kiện sống nên các em rất nhút nhát, ngại giao tiếp, thiếu tự tin. Một số em viết và nói còn tuỳ tiện, dùng từ sai, diễn đạt lủng củng, câu cộc lốc khô khan, không biết sử dụng các câu có hình ảnh gợi tả, gợi cảm, dùng dấu câu không đúng chỗ,... Tiết Nói và nghe học sinh chỉ biết nghe mà rất ít em biết kể lại. Dưới đây là một vài hiện tượng viết câu khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ: Ví dụ: (Câu văn của học sinh giỏi lớp 2 lên lớp 3): - Những tia nắng mai lập lòe trước sân trường. - Em cần học tập tốt để trả ơn cha mẹ. - Hồi còn nhỏ, Ê-đi-xơn là một thằng bé học dốt. Về phía giáo viên: Tâm lí chung giáo viên cảm thấy dạy Toán nhàn hơn, nhận xét, chữa bài cũng đỡ vất vả và ít mất thời gian chỉnh sửa cho học sinh hơn là dạy Tiếng Việt. Dạy Toán sẽ đáp ứng được phần đông nhu cầu của phụ huynh và sở thích của các em. Từ thực trạng trên, tôi thấy việc dạy - học văn trong trường Tiểu học hiện nay vẫn chưa được coi trọng đúng mực (cả về hai phía đối tượng giáo viên và học sinh). Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú với môn Tiếng Việt? Làm gì để phát huy năng lực viết văn cho các em? Làm thế nào để thực sự nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường? Đó là những câu hỏi bao đêm tôi trăn trở, tìm lời giải đáp. Cuối cùng, tôi đã tìm ra biện pháp và quyết định áp dụng đề tài: Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. 4/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. 2. Số liệu điều tra khi chưa thực hiện đề tài: Để nắm bắt tình hình thực tế chất lượng môn Tiếng Việt, sau khi được học hai tuần đầu, tôi cho học sinh làm bài khảo sát phân môn Tập làm văn. a. Kết quả khảo sát phân môn Tập làm văn lớp 3A3: Tổng số HS HTT % HT % Chưa HT % 33 3 9,1 20 72,7 6 18,2 Đánh giá chung: Từ khảo sát trên tôi nhận thấy: Kết quả bài làm chưa cao, chưa phát huy hết được năng lực học tập ở các em. 3. Những biện pháp thực hiện: 1. Rèn kĩ năng nghe - nói. 2 . Dạy các kĩ năng viết văn. 3. Biện pháp hoàn chỉnh đoạn văn. 4. Tăng cường hoạt động quan sát, trải nghiệm thực tế. 5. Rèn luyện kĩ năng sư phạm của giáo viên. 4. Kế hoạch thực hiện: Ở trên lớp, các tiết buổi 1 tôi giúp các em nắm thật chắc các kiến thức cơ bản. Các tiết học buổi 2, tôi đi sâu hơn giúp các em củng cố kiến thức đã học và rèn luyện các kĩ năng cơ bản qua việc thực hành nói và viết. Xen kẽ luyện kĩ năng là các trò chơi học tập để giảm bớt căng thẳng, tạo hứng thú cho giờ học. CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN I. Những biện pháp chung: 1. Rèn kĩ năng nghe - nói. 2 . Dạy các kĩ năng viết văn. 3. Biện pháp hoàn chỉnh đoạn văn. 4. Tăng cường hoạt động quan sát, trải nghiệm thực tế. 5. Rèn luyện kĩ năng sư phạm của giáo viên. II. Những biện pháp cụ thể: 1. Biện pháp thứ nhất: Rèn kĩ năng nghe - nói: Ở lớp 3, bên cạnh những tiết học yêu cầu học sinh viết đoạn văn còn có những tiết Nói và nghe. Đây là tiết học rèn kĩ năng nghe và kể lại một đoạn/ câu chuyện theo chủ đề. Để học sinh biết kể chuyện thì khâu rèn kĩ năng nói (diễn đạt bằng lời) là rất quan trọng. Thông qua lời kể, giáo viên giúp học sinh thể hiện năng lực cảm thụ câu chuyện, biết diễn đạt bằng lời kể của mình một 5/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. cách chân thực, hồn nhiên, mang sắc thái riêng. Để rèn kĩ năng nghe - nói, tôi thực hiện 5 bước sau: Bước 1: Đọc kĩ yêu cầu, xác định trọng tâm đề bài. Đây là bước quan trọng. Tôi cho 2 đến 3 học sinh đọc rồi nhắc lại yêu cầu của bài. Hỏi khắc sâu: Em phải trả lời được điều gì? Ta cần nêu bật được ý gì ?, sau đó cô gạch dưới những từ ngữ yêu cầu trọng tâm bằng phấn màu. Bước 2: Phân tích gợi ý, trả lời câu hỏi. Với mỗi câu hỏi gợi ý, tôi gọi vài học sinh nêu câu trả lời. Với câu hỏi dài, tôi tách ra từng câu hỏi nhỏ giúp các em dễ tìm ra câu trả lời. Tôi động viên khích lệ để em nào cũng có câu trả lời, ưu tiên những em nhút nhát, ngại trình bày trước lớp. Với các em khá giỏi, tôi luôn tôn trọng sự sáng tạo trong câu trả lời của các em, không gò bó, khuôn mẫu. Bước 3: Tạo sự tranh luận, chọn ra những câu trả lời hay. Sau mỗi câu trả lời của các em, tôi dành thời gian cho các nhóm tranh luận tìm ra những câu trả lời hay, sửa lại những câu trả lời còn thiếu ý hoặc diễn đạt rườm rà. Cô ghi bảng những câu trả lời hay được nhiều học sinh trong lớp lựa chọn. Ví dụ: Khi dạy bài Luyện tập viết đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc về cảnh đẹp quê hương; với câu hỏi gợi ý: Tình cảm của em đối với quê hương như thế nào? Sau khi vài học sinh trả lời, tôi cho lớp tranh luận và tìm những câu trả lời hay. Ví dụ: Em rất yêu quê hương mình. Em vô cùng tự hào vì mình được sinh ra trên mảnh đất ấy. Dù có đi đâu mình cũng luôn nhớ về nơi chôn rau cắt rốn của mình. Trong tất cả các tiết Nói và nghe, tôi luôn tạo ra chủ đề để học sinh tranh luận trong nhóm (hoặc phỏng vấn sau khi bạn nêu câu trả lời) Dưới đây là cảnh một nhóm đang tranh luận trong tiết Nói và nghe: 6/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. Các tổ đang tranh luận: 7/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. Bước 4: Hoàn chỉnh bài kể. Bước này yêu cầu cao hơn, học sinh cần biết liên kết những câu trả lời để tạo thành câu chuyện logic về nội dung và hấp dẫn về lời kể. Với học sinh trung bình và học sinh hạn chế năng lực chỉ yêu cầu các em kể được 1 hoặc 2 câu. Với em khá giỏi phải kể được toàn bộ câu chuyện bằng lời kể sinh động, có sáng tạo. Khi kể cần biết kết hợp giọng nói, điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười, sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện. Để khích lệ các em, tôi tổ chức thi đua kể: thi kể cá nhân, thi kể theo nhóm, tạo không khí sôi nổi trong tiết học. Thông qua đó phát triển kĩ năng giao tiếp, tinh thần đoàn kết, hợp tác trong tập thể lớp. Bước 5: Tạo thói quen tốt cho học sinh. Ngay từ tuần đầu tất cả các tiết Nói và nghe, tôi rèn cho các em thói quen mạnh dạn, tự tin khi trình bày trước lớp. Với học sinh dưới lớp, tôi rèn cho các em kĩ năng lắng nghe: tập trung chú ý nghe, tôn trọng bạn kể, khích lệ bạn kể bằng nụ cười hay gật đầu, vỗ tay tán thưởng, Kết luận: Rèn kĩ năng nghe-nói cho học sinh tưởng chừng đơn giản nhưng cũng thật công phu. Tôi kiên trì rèn cho học sinh trong tất cả các tiết Nói và nghe ngay từ đầu năm. Chỉ sau 2 tháng đầu, các em đã có nề nếp rất tốt. Các tiết học này luôn sôi nổi, đa số học sinh nắm chắc nội dung câu chuyện, biết diễn đạt câu chuyện bằng ý hiểu của mình một cách chân thực, sống động, ngộ nghĩnh và đầy màu sắc. Phát huy được sự sáng tạo trong ngôn ngữ nói cho các em. Đặc biệt các em hạn chế về năng lực, phẩm chất đã mạnh dạn, tự tin hơn. Đây là những bước hỗ trợ tích cực vào các bài viết sau này của các em. 2. Biện pháp thứ hai: Dạy kĩ năng viết văn: Trong mỗi tiết Tập làm văn viết, tôi đặc biệt chú trọng rèn cho các em những kĩ năng sau: Kĩ năng quan sát, tìm ý: Đây là kĩ năng quan trọng. Có kĩ năng này, học sinh sẽ có những sự cảm nhận riêng về mỗi đối tượng được kể (tả). Bất kì kiểu bài nào, tôi đều yêu cầu các em quan sát thực tế rồi tìm các ý diễn đạt sao cho toát lên được những nét chính, nét riêng biệt của từng sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn, khi kể về một cảnh đẹp trên quê hương, kể về cảnh đẹp đất nước, tôi hướng dẫn các em quan sát thật kĩ đối tượng từ xa đến gần, từ trên xuống dưới, từ bao quát đến chi tiết. Chẳng hạn: Khi dạy bài Nói, viết về cảnh đẹp đất nước (tiết 192): Tôi cho các em quan sát video và một số tranh ảnh về cảnh đẹp ba miền Bắc, Trung, Nam rồi yêu cầu các em thảo luận, tìm ý: - Trong tranh (ảnh) là cảnh gì? Cảnh đó ở nơi nào? 8/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. - Màu sắc trong tranh (ảnh) như thế nào? - Cảnh trong tranh (ảnh) có gì đẹp? - Cảnh trong tranh (ảnh) gợi cho em cảm xúc gì? Rèn được kĩ năng này, các em sẽ tránh được lối diễn đạt lủng củng, rườm rà, lặp ý. Có như vậy đoạn văn của các em sẽ mạch lạc, trong sáng, mang tính chân thực. Kĩ năng ghi chép: Từ quan sát đến ghi chép học sinh thường gặp khó khăn. Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi, các em thường thấy thế nào thì ghi lại thế đó hoặc ghi chép lộn xộn không theo trình tự. Tôi hướng dẫn các em cách ghi chép theo trình tự từ trên xuống dưới, từ xa đến gần. Cụ thể: Khi làm bài “Kể về cảnh đẹp quê hương”, tôi hướng dẫn học sinh ghi lại các ý chính, đồng thời cung cấp một só từ “khoá” để các em có thể lựa chọn khi viết bài. Cuối tiết học, tôi yêu cầu các em ghi vở các ý chính sau: - Quang cảnh: Bầu trời, con đường, cánh đồng, ngọn núi, nhà sàn, ( trời mát mẻ, rộng thênh thang, xanh thẳm, tấp nập, nhộn nhịp, thấp thoáng, ) - Hoạt động của con người: lao động sản xuất, người tham gia các hoạt động khác, (hối hả, khẩn trương, nhộn nhịp, vui vẻ, ) - Cảm xúc: vui sướng, thích thú, tự hào, yêu quý, không muốn rời xa, Ngoài việc học sinh được ghi chép lại vào vở những ý chính cô dạy trên lớp, tôi hướng dẫn cách ghi chép sổ tay văn học một cách thông minh: hãy nhớ rồi ghi lại thật ngắn gọn những từ hay của bạn, những câu văn mình thích trong sách báo, phim, truyện hay đọc được ở thư viện nhà trường,... Kĩ năng trao đổi, lắng nghe: Tôi dạy các em thói quen này ngay từ những tiết học đầu tiên và trong mọi tiết học khác. Tôi luôn động viên, khích lệ các em biết trao đổi ý kiến của mình với bạn cùng bàn, trong nhóm, với cô giáo. Bên cạnh đó, tôi hướng dẫn các em kĩ năng nghe: Tôn trọng người nói, chăm chú theo dõi để có những nhận xét, góp ý, bổ sung cho bài của bạn. Nhờ thế, tôi thấy các em luôn mạnh dạn, tự tin trình bày. Với những học sinh khá, giỏi có thể cho các em nhận xét cả bài của bạn. Với học sinh trung bình thì chỉ cần các em phát hiện một từ dùng chưa đúng, một câu sai ngữ pháp, một dấu câu chưa đặt đúng chỗ, Chẳng hạn, tôi hướng dẫn lớp trao đổi, phát hiện câu dùng từ sai (trong đoạn văn của em Khuất Duy Đăng Khoa): Từ đó trở đi, cậu ấy hứa sẽ không tái phát khuyết điểm. Học sinh phát hiện từ sai tái phát, nêu từ cần thay thế: tái phạm, mắc lại, 9/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. Hay cho lớp trao đổi, phát hiện dấu câu đặt chưa đúng chỗ (trong câu văn của em Võ Đức Tâm): “Thôi. Thư đã dài mình, xin dừng bút ở đây”. Và cả lớp đã rất sôi nổi tranh luận đặt lại dấu câu đúng chỗ cho bạn. Kĩ năng viết văn: a. Viết câu: Câu đủ bộ phận chính. Nội dung câu rõ ràng, trong sáng, chân thực. Biết sử dụng nghệ thuật trong câu (nếu cần). Biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật đúng chỗ để tăng hiệu quả diễn đạt. Nhận biết thế nào là một câu đúng, câu sai ngữ pháp và cách sửa câu sai. b, Viết đoạn: Đoạn văn đủ ba phần. Câu mở đoạn khái quát nội dung toàn đoạn. Các câu trong phần thân đoạn diễn giải nội dung chính của đoạn đó. Câu kết đoạn bộc lộ cảm xúc hoặc nêu nhận xét của bản thân về đối tượng đang nói đến. Các câu trong đoạn logic. Cả đoạn văn phải đảm bảo các ý làm nổi bật yêu cầu của đề bài. 3. Biện pháp thứ ba: Hoàn chỉnh đoạn văn: Đây là phần chính giúp các em hoàn chỉnh một đoạn văn. Tôi thực hiện qua 12 bước sau: Bước 1. Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu của đề: Bước này tôi kết hợp củng cố phần lí thuyết. Đây là bước quan trọng trong bất kì đề bài nào. Sau khi học sinh chép đề, tôi cho các em đọc kĩ đề để xác định đúng yêu cầu trọng tâm của đề bài. Bước này làm tốt thì bài viết sẽ tránh bị lạc đề và xa đề. Bước 2. Hướng dẫn học sinh lập dàn bài: Dựa vào các gợi ý, tôi hướng dẫn các em lập dàn bài chi tiết. Tôi đặc biệt chú trọng bước này để giúp đoạn văn của các em được đủ ý. Biết cần viết cái gì trước, cái gì sau, cái gì là chủ yếu cần tả kĩ và cái gì là thứ yếu chỉ cần viết bằng 1 hoặc 2 câu. Nhờ thế, bài viết của học sinh diễn đạt đủ ý, cô đọng, tránh được lan man, dài dòng, không trọng tâm. Tôi kiểm tra kĩ cách ghi chép, sắp xếp ý, quan tâm hỗ trợ đối với học sinh hạn chế năng lực phẩm chất. Bước 3. Cung cấp vốn từ: Việc cung cấp từ giúp các em viết được câu văn sinh động, diễn đạt được nhiều cung bậc cảm xúc phong phú, tránh lặp từ lủng củng. Theo từng câu hỏi gợi ý, tôi giúp các em mở rộng vốn từ. Biết tìm các từ cùng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa khi nói đến một sự vật, hiện tượng nào đó. Chẳng hạn, với câu hỏi gợi ý: Tình cảm của em đối với quê hương như thế nào? Tôi gợi mở, giúp các em tìm được một số từ ngữ thể hiện tình cảm: tự hào, yêu mến, yêu thương, yêu quý, nhớ thương, Bước 4. Hình thành đoạn văn qua dàn bài vừa lập: Ở lớp 3, các em chưa viết thành bài văn mà chỉ viết đoạn văn. Tôi hướng dẫn các em biết sắp xếp đoạn 10/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. văn một cách mạch lạc, khoa học: Câu mở đoạn có thể diễn đạt bằng 1, 2 câu. Các câu trong phần thân đoạn làm nổi bật nội dung chính của toàn đoạn. Câu kết đoạn bộc lộ cảm xúc hoặc nêu nhận xét của bản thân. Đối với học sinh khá, giỏi có thể không theo trình tự này mà các em có thể lồng cảm xúc trong khi kể hoặc tả. Tôi chú ý dạy các em biết liên kết các câu trong đoạn. Tránh viết nội dung lặp lại, tạo sự khoa học trong bài viết. Bước 5. Sử dụng yếu tố nghệ thuật trong bài viết: Ở lớp 3, các em chủ yếu học nghệ thuật so sánh. Tôi hướng dẫn các em có hiểu biết chắc chắn về nghệ thuật cần sử dụng. Em sử dụng nghệ thuật ở hình ảnh nào. Mục đích của việc sử dụng nghệ thuật đó. Tránh lối sử dụng nghệ thuật bừa bãi. Ví dụ: Từ những câu văn khô khan, diễn đạt vụng về sau khi được hiểu chắc nghệ thuật so sánh, các em đã biết viết những câu văn giàu hình ảnh gợi tả, gợi cảm như sau (câu văn của em Nguyễn Kim Ngân): - Cuối xuân, cây bàng như thắp lên hàng ngàn ngọn nến xanh lung linh giữa trời. - Mùa hoa dã quỳ, núi Ba Vì như nàng tiên khoác tấm áo choàng vàng tươi. Bước 6. Viết nháp: Bước này tôi thường quan tâm sát sao từng em, gần gũi để giúp đỡ học sinh hạn chế năng lực hoặc còn lúng túng. Khi các em viết nháp, tôi yêu cầu các em viết sạch, rõ ràng, hạn chế sai lỗi chính tả, chừa lề cho cô chữa bài. Bước 7. Thu, chữa bài nháp: Tôi đọc kĩ bài nháp, luôn tôn trọng ý tưởng của các em từ đó chữa bài cho các em dựa trên ý tưởng các em đã viết. Tôi chữa kĩ từng phần, từng câu cụ thể. Với những câu, ý hay tôi ghi lời khen. Phần nào chưa được tôi ghi rõ cách sửa. Bước 8. Trình bày miệng: Gọi học sinh đọc bài nháp trước lớp. Yêu cầu cả lớp chú ý lắng nghe để rút kinh nghiệm và học tập bài hay. Sau đó cho học sinh tranh luận, góp ý, sửa chữa, bổ sung cho bài của bạn. Bước 9. Làm vở. Bước 10. Nhận xét, xếp loại bài viết: Tôi thu bài, nhận xét cẩn thận từng phần của bài. Lời nhận xét khen, động viên kịp thời. Vì lớp 3 không có tiết trả bài nên với những học sinh mắc nhiều lỗi trong bài làm, tôi trực tiếp chữa bài riêng cho các em vào giờ truy bài hoặc cuối buổi học thứ hai. Bước 11. Tham khảo các bài viết hay, bài văn mẫu: Những bài văn hay của học sinh, tôi cho các em đọc trước lớp để các bạn khác cùng học tập. Cho học sinh đọc thêm các bài văn mẫu để tham khảo vì các em rất nghèo sách. Bước 12. Hướng dẫn về nhà: Tôi yêu cầu học sinh về đọc lại bài và lời nhận xét của cô. Từ đó tự sửa các lỗi mắc phải trong bài, học hỏi bài hay. Sau đó tự hoàn chỉnh bài viết của mình nếu chưa đạt yêu cầu. 11/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. Trên đây là 12 bước giúp các em có một đoạn văn hoàn chỉnh. Không phải bài nào tôi cũng phải thực hiện qua 12 bước đó. Thực tế cho thấy mỗi bài viết của các em đều có tiến bộ rõ rệt, hạn chế được nhiều lỗi trong bài làm. Điều này càng khích lệ tôi thêm đam mê công việc giảng dạy của mình. Dưới đây là bài viết cuả em Nguyễn Đức Thắng, (một học sinh thường có thói quen viết văn sơ sài, diễn đạt ý lủng củng, dùng từ sai): 12/20
- Phát triển năng lực thực hành nói và viết văn cho học sinh lớp 3. Đây là đoạn văn của em Nguyễn Kim Ngân: Sau nhiều tuần rèn cho học sinh các kĩ năng trên, bài viết của đa số các em đã tiến bộ rất nhiều. Tôi vô cùng vui sướng khi đọc những bài viết của các em, nhất là bài viết của những em bị sửa nhiều như em Nguyễn Đức Thắng, nay đã rất tiến bộ: 13/20

