Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4

docx 31 trang Chăm Nguyễn 01/07/2025 880
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_vai_bien_phap_nang_cao_chat_luong.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh Lớp 4

  1. Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý bài văn miêu tả bằng cách sử dụng bản đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực. 19 Biện pháp 3 : Hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn của bài 18 văn miêu tả 20 Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh sử dụng kiến thức văn học 19 qua phân môn Tập đọc và các môn học khác để làm giàu vốn từ văn miêu tả 21 Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh sử dụng một số biện pháp 21 nghệ thuật 22 Biện pháp 6: Bộc lộ cảm xúc trong văn miêu tả 23 23 Biện pháp 3 : Hướng dẫn học sinh viết các đoạn văn của bài 24 văn miêu tả 24 Biện pháp 7: Thực hiện nghiêm túc tiết Trả bài Tập làm văn 24 25 Biện pháp 8: Phát động phong trào đọc sách để mở rộng vốn 25 từ 26 2.3.Kết quả đạt được 26 27 2.4 Bài học kinh nghiệm 26 28 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 27 29 1.Kết luận 27 30 2.Kết luận 3
  2. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, nếu như học toán để phát triển tư duy logic thì việc học tiếng Việt sẽ giúp các em hình thành và phát triển tư duy ngôn ngữ. Tư duy có phát triển thì ngôn ngữ mới phát triển. Và ngược lại, ngôn ngữ càng phát triển thì càng tạo cho tư duy phát triển nhanh hơn. Ngôn ngữ càng hoàn hảo, càng giúp cho việc diễn đạt tư tưởng tình cảm thêm chính xác, giúp khả năng nhận xét thêm sâu sắc, có khả năng trình bày được rõ ràng, chính xác những ý nghĩ và tình cảm của mình. Vì vậy Tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của đất nước ta, đặc biệt đối với học sinh ở bậc tiểu học – lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy. Trong đó phân môn Tập làm văn giữ một vị trí quan trọng trong dạy và học Tiếng Việt. Chương trình Tập làm văn Tiểu học bao gồm các thể loại như miêu tả, tường thuật, kể chuyện, viết thư, đơn từ trong đó kiểu bài miêu tả được học và chiếm thời gian nhiều nhất. Mục đích của việc dạy văn miêu tả ở tiểu học, giúp học sinh có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền những rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn rõ ràng, chân thực. Một bài văn hay là một bài văn mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình: con người, cảnh vật, đồ vật, cụ thể, sống động như nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc sống. Như vậy, có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ. Để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học cộng với vốn sống thực tế. Đối với học sinh lớp 4, phân môn Tập làm văn quả là khó khăn. Bởi lẽ, đây là môn học đòi hỏi sự sáng tạo. Để giúp học sinh học tốt văn miêu tả điều quan trọng là làm thế nào giúp cho học sinh quan sát để tìm ý, biết lựa chọn các từ ngữ miêu tả cho sinh động, hấp dẫn, không phải đưa ra các lời nhận xét chung chung mà phải tả các sự vật, hiện tượng bằng từ ngữ cụ thể, gợi cảm. Một bài văn hay, có giá trị không ở chỗ trình bày mạch lạc dễ hiểu mà cái quan trọng hơn đó là sức truyền cảm và sự truyền cảm này có được là do tính chân thực, tính nhân bản, cao hơn nữa là cái chất văn, hơi văn. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc. Các em rất lúng túng khi viết bài văn miêu tả và hơn hết là không hứng thú. Vì vậy bản thân tôi quan tâm, trăn trở về vấn đề này và đã thực hiện một số biện pháp trong giảng dạy có hiệu quả. Sau đây tôi xin được mạnh dạn trình bày “Một vài biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 ”. *Sáng kiến kinh nghiệm là những vấn đề dựa trên cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn, thực trạng dạy học văn miêu tả lớp 4 nói riêng và tiểu học nói chung, dựa trên 4
  3. nguyên lý giáo dục, đặc trưng bộ môn, tâm sinh lí học sinh, phát huy năng lực học cho học sinh. Với những biện pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4. Sáng kiến kinh nghiệm vừa mang tính thực tiễn cao, vừa có tính sáng tạo, tính mới. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn: - Rèn luyện kĩ năng làm các bài văn tả cảnh cho học sinh . - Giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, hiểu và khắc sâu, nhớ lâu kiến thức, phát triển hoạt động trí tuệ sáng tạo của học sinh, vận dụng tạo tiền đề sau này học sinh tiếp tục học các thể loại văn khác được tốt hơn. - Góp phần làm rõ phương pháp dạy, nâng cao chất lượng học văn miêu tả cảnh cho giáo viên và học sinh lớp 4. 3. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là tập thể học sinh, lớp 4E năm học 2019 - 2020, Trường Tiểu học Nguyễn Trường Tộ – Huyện Hưng Nguyên - Tỉnh Nghệ An. - Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4. 4. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về quy mô: Tổng hợp những kiến thức liên quan trực tiếp để dạy HS viết bài văn. Tìm ra những nguyên nhân dẫn đến kết quả viết bài văn ở học sinh lớp 4 không như ý muốn. Tìm ra các giải pháp và xây dựng gắn dạy học minh họa để việc dạy học viết bài văn đạt kết quả tốt hơn. Phạm vi về không gian: Tại lớp 4E - Trường Tiểu học Nguyễn Trường Tộ. Phạm vi về thời gian: Từ tháng 9 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021. 5. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu lí luận. 5
  4. Phương pháp quan sát sư phạm. Ứng dụng sơ đồ tư duy Phương pháp điều tra. Phương pháp thực hành. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:, PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN: 1.1 Các khái niệm về văn miêu tả Miêu tả: Miêu tả là nêu lên các đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằng cách làm cho các sự vật, hiện tượng đó hiện lên trực tiếp (tái hiện) trước mắt người đọc (người nghe) một cách cụ thể, sống động, như thật khiến cho người ta có thể nhìn, nghe, ngửi, sờ mó được. Văn miêu tả: Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh, làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe. Như vậy, văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói, chữ viết có hình ảnh và cảm xúc làm cho người đọc, người nghe hình dung một cách rõ nét về người, vật, cảnh vật sự việc như vốn có trong đời sống. Một bài văn miêu tả hay không phải thể hiện chính xác, rõ nét, sinh động đối tượng miêu tả mà còn thể hiện trí tưởng tượng, cảm xúc và đánh giá của người viết đối với đối tượng miêu tả. 1.2 Đặc điểm văn miêu tả: - Văn miêu tả là thể loại sáng tác: văn miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại những sự vật, sự việc, con người một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là miêu tả thể hiện sự mới mẻ, riêng biệt của người viết. - Tính chân thật trong văn miêu tả: văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản cái mới mẻ của người viết. Nhưng như vậy, không có nghĩa văn miêu tả cho phép người viết bịa một cách tùy tiện, muốn nói sao thì nói, viết sao thì viết. Khi miêu tả cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chân thực. Thấy đúng như thế nào thì tả như thế ấy. - Văn miêu tả phải là loại văn giàu cảm xúc, những rung động, những nhận xét tinh tế, dồi dào sáng tạo nhằm mục đích thông báo thẩm mỹ. Người đọc qua văn 6
  5. miêu tả nhận thức thực tế khách quan bằng con đường lí trí mà chủ yếu bằng cảm xúc, những rung động mạnh mẽ của tâm hồn. - Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh: ngôn ngữ trong văn miêu tả phong phú, đa dạng. Và người viết còn đan xen giai điệu phụ trợ như: tường thuật, kể chuyện ... 1.3 Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa phân môn Tập làm văn lớp 4 Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, văn miêu tả chiếm một vị trí quan trọng. Ở lớp 4, văn miêu tả được dạy 30 tiết với ba kiểu bài cụ thể: Tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật. Chương trình Tập làm văn lớp 5 tiếp tục dạy về văn miêu tả với hai kiểu bài: Tả cảnh - 14 tiết, tả người - 12 tiết. * Về cấu trúc chương trình - Trong chương trình Tiếng Việt Lớp 4, mỗi tuần có 2 tiết học Tập làm văn. Cả năm học mỗi lớp có tổng số 70 tiết Tập làm văn, trong đó trừ 4 tuần ôn tập GHKI; CHKI, GHKII và CHKII thì văn miêu tả lớp 4 có thời lượng như sau: Học kỳ 1 Học kỳ 2 Cả năm Lớp 4 7 tiết 23 tiết 30 tiết Như vậy, kì 1 số tiết học văn miêu tả ít, còn kì 2 nặng về văn miêu tả hơn. * Về sách giáo khoa - Kiến thức Tập làm văn trong chương trình được sắp xếp học trong tuần sau khi đã được học các phân môn khác . - Thông tin của phân môn Tập làm văn được thể hiện toàn bộ bằng kênh chữ, không có hoặc ít kênh hình minh họa. - Tập làm văn là phân môn tổng hợp kiến thức của nhiều phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện. 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Nội dung các bài Tập làm văn lớp 4 được gắn với các chủ điểm, có sự tích hợp rõ nét với các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt. Quá trình hướng dẫn học sinh thực hiện các kĩ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, nói, viết đoạn hoặc cả bài văn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng ,trình bày và tranh luận Góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá khi miêu tả. 7
  6. Học các tiết làm văn miêu tả, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người và thiên nhiên, có cơ hội bộc lộ cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển mẫu mực nhân cách con người Việt Nam. Văn miêu tả lớp 4 có vị trí quan trọng trong chương trình dạy học, nên đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này nhằm giúp giáo viên có nhiều kiến thức, kĩ năng để tổ chức dạy học về văn miêu tả có hiệu quả, song trong thực tế hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, tôi sẽ trình bày ở phần sau. 3. THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ LỚP 4 HIỆN NAY 3.1 Thực trạng - Các em phân định các phần trong mỗi bài viết chưa rõ ràng, nhiều em còn chưa phân biệt được đâu là mở bài, thân bài, kết luận. Các em chưa biết cách trình bày một cách mạch lạc, gãy gọn thành các đoạn nên bài viết các em diễn đạt lộn xộn, thiếu logic, sáng tạo. - Nhiều em chưa có kĩ năng quan sát, chủ yếu quan sát bằng mắt, từ đó chưa cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc độc đáo của sự vật, hiện tượng. Ví dụ: Khi đứng trước một cây bàng cành lá sum suê có nhận xét về cây bàng đó thì các em trả lời. Cây bàng to ạ! Cây bàng cao ạ! Cây bàng tốt ạ! Cây bàng nhiều cành ạ! Rõ ràng các câu trả lời trên còn chung chung, chưa diễn tả cái đẹp tinh tế của cây bàng, chưa lựa chọn từ ngữ thích hợp để miêu tả. - Các em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ, các từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Đặc biệt các em dùng từ lặp nhiều, chủ yếu là liệt kê các bộ phận của sự vật. Bởi vậy bài văn thường cộc lốc, lủng củng, khô khan. Ví dụ: Khi miêu tả chiếc cặp sách của mình hay của bạn đã có học sinh viết. “Chiếc cặp của em có hình chữ nhật chiều dài một sải tay, chiều rộng một gang tay” hay khi tả con lợn con, một học sinh đã viết “Con lợn của em to bằng quả dưa chuột, cái đuôi như cái vòi bơm xe đạp”. - Vốn sống, vốn kiến thức văn của học sinh nhất là học sinh vùng nông thôn quê chúng tôi còn hạn chế. Đa số các em là con trong những gia đình có bố mẹ làm nghề nông, đông con nên chưa có điều kiện, chưa có ý thức mua sách báo cho con. - Nhiều học sinh ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng được đến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác Kể cả nhiều học sinh ở vùng nông thôn nhưng chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, chưa bao giờ quan sát cánh đồng lúa khi thì xanh mướt, lúc vàng óng, trĩu bông - Bài làm các em còn sao chép lại văn mẫu. Với cách học ấy, các em không có cảm xúc gì về đối tượng miêu tả, miêu tả hời hợt, thiếu cái hồn, cái riêng, thiếu cái chân thực, cái hồn nhiên ngây thơ của tuổi học trò. 8
  7. Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về làm văn tả đồ vật của học sinh( tại lớp 4E), với đề bài: Em hãy tả lại một đồ dùng học tập mà em thích. Kết quả đạt được như sau: Nội dung cần đạt Thời điểm khảo sát/Số học sinh đạt Đầu Cuối học Cuối năm học kì I học kì II SL TL SL TL - Biết lập dàn bài, viết bài văn đủ 3 phần. 17 53,2% -Viết được bài văn hay, biết bám vào các hình ảnh, kết hợp sự sáng tạo, sử dụng biện pháp 5 15,6% tu từ đơn giản của cá nhân 8 25% Hứng thú học tập Qua bảng tổng kết trên cho thấy chất lượng học văn miêu tả của học sinh còn thấp, nhiều học sinh còn có nhiều hạn chế trong việc viết văn. 3.2 Nguyên nhân hạn chế: - Một số giáo viên cung cấp vốn từ cho học sinh ít, hướng dẫn chưa nhiều cách sử dụng các biện pháp tu từ trong khi viết văn miêu tả. Khả năng xây dựng một dàn bài chi tiết cho học sinh còn hạn chế, cách dạy còn đơn điệu, ít tìm tòi cái mới nên không gây hứng thú cho học sinh. - Kiến thức môn Tiếng Việt ở Tiểu học mang tính đồng tâm, các em phải kết nối được những kiến thức đã học với kiến thức mới thì mới hoàn thiện được các kĩ năng cần thiết cho môn Tiếng Việt. Chính vì lẽ đó, nhiều học sinh kiến thức các lớp dưới chưa chắc thì càng lên các lớp trên sẽ càng khó khăn khi học Tiếng Việt, dẫn đến các em chán nản, không thích học Tiếng Việt. - Phần lớn học sinh tiểu học ít quan tâm đến việc đọc và có đọc thường là truyện tranh, thậm chí có những truyện tranh không mang tính giáo dục. Việc trò chuyện, tiếp xúc với bố mẹ, với những người thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế cho nên vốn liếng về cuộc sống, về văn học của các em bị hạn chế. Chính điều này đã tác động không nhỏ đến việc học văn và Tập làm văn của học sinh. - Ngoài ra sự hấp dẫn của các trò chơi GAMES hoặc các trang WEB hấp dẫn khác trên INTERNET khiến các em quên đi sự đa dạng của thế giới thiên nhiên 9
  8. xung quanh : ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, của mưa, ... Đây là thế giới có khả năng làm phong phú tâm hồn tuổi thơ và rèn luyện óc quan sát, nhận xét,.... Làm thế nào để cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN: 2.2.Một số biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề: Biện pháp 1: Tổ chức, hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả Dạy cho học sinh kĩ năng quan sát là yêu cầu quan trọng khi viết văn miêu tả. Muốn quan sát tốt học sinh phải nắm được phương pháp quan sát. Quan sát để làm Tập làm văn và quan sát để hiểu về khoa học có hai mục đích khác nhau. Mục đích quan sát khoa học là để tìm ra công dụng, cấu tạo, đặc điểm, tính chất của sự vật hiện tượng. Mục đích quan sát văn học là để tìm được hình dạng, màu sắc, âm thanh tiêu biểu từ cảm xúc của người đối với sự vật. Vì vậy để học sinh biết cách quan sát tốt, cần chú ý những vấn đề cơ bản sau: 1.1Hướng dẫn học sinh quan sát bằng nhiều giác quan * Dùng mắt để quan sát Dùng mắt quan sát thường tả màu sắc, hình thức sự vật, có thể phát hiện ra nhiều nét độc đáo tinh tế của sự vật. Ví như Phạm Hải Châu đã quan sát cái áo tỉ mỉ, tinh tế từ hình dáng, đường khâu, hàng khuy, cái cổ, cái măng sét đến cảm giác khi mặc áo, chân thật giản dị và gần gũi, đã tạo nên cái áo của ba thật ấn tượng, sâu sắc, đầy cảm xúc: “Chiếc áo sờn vai của ba dưới bàn tay vén khéo của mẹ đã trở thành cái áo xinh xinh, trông rất oách của tôi. Những đường khâu đều đặn như khâu máy, thoáng nhìn qua khó mà biết được đấy chỉ là một cái áo may tay. Hàng khuy thẳng tắp như hàng quân trong đội duyệt binh. Cái cổ áo như hai cái lá non trông thật dễ thương. Mẹ còn may cái cầu vai y hệt như chiếc áo quân phục thực sự. Cái măng sét ôm khít lấy cổ tay tôi”. Trong quá trình hướng dẫn học sinh, tôi yêu cầu các em quan sát các sự vật bằng mắt để nhận thấy những màu sắc, hình khối, nét đặc sắc của đối tượng. Với đề bài: Tả một cây ăn quả mà em yêu thích. Quan sát bằng mắt, các em thấy được tầm thước của cây cao như thế nào, tán lá, lá ra sao? Màu sắc, hình dáng của hoa, quả( khi còn nhỏ, đến khi chín) ... * Quan sát bằng tai Dùng tai nghe được âm thanh nhịp điệu và gợi cảm xúc. Dùng tai khi quan sát để bổ trợ cho việc miêu tả đối tượng một cách cụ thể hơn, sinh động hơn. Để học sinh lớp 4 có khả năng quan sát bằng tai, giáo viên thực hiện ra các bài tập, như: 10
  9. - Em hãy quan sát và ghi lại những âm thanh những đàn chim đậu trên vòm lá. - Em hãy quan sát và ghi lại những âm thanh khi mở đóng chiếc cặp. Ví dụ: Để tả tốt về chiếc cặp thì ngoài quan sát bằng mắt, tôi yêu cầu các em bằng một âm thanh phát ra từ những chiếc khóa cặp để tìm cụm từ ngữ diễn tả thích hợp. * Quan sát bằng mũi: Quan sát bằng mũi sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về đối tượng, từ đó biết chọn ra những nét tinh tế của sự vật, chẳng hạn: - Qua mùi thơm : “phưng phức” ta hiểu ngay từ mùi thơm của da mới (tả cái cặp), mùi giấy mới (tả quyển vở, quyển sách) mùi quả chín (tả cây ăn quả - quả mít) Nếu quan sát bằng mũi một cách tinh tế thì chúng ta sẽ phân biệt được các mức độ khác nhau về mùi thơm đó. Từ đó sẽ lựa chọn từ ngữ diễn tả sự vật một cách chính xác tinh tế như: mùi ở gần thì “nồng nặc, sực nức...”, mùi ở xa thì “phảng phất, thoang thoảng”. Trong viết văn, thì quan sát bằng mũi được các nhà văn sử dụng rất tinh tế và diễn tả thật hấp dẫn như “Hương thảo quả ngọt cũng thơm nồng”, “Hương thơm đậm, ủ trong từng nếp áo, nếp khăn”, “Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại ngây ngất kỳ lạ đến thế” trong “Mùa thảo quả” của nhà văn Ma Văn Kháng”. * Quan sát bằng vị giác, xúc giác: Trong miêu tả có những đối tượng ngoài việc miêu tả bằng cách quan sát trên thì cần giúp học sinh quan sát bằng xúc giác, vị giác. Ví dụ: “Hai bàn tay xoa vào má cứ ráp ráp, không hiểu vì sao Bình rất thích.”( Nguyễn Thị Xuyên). “Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn. Hương vị quyến rũ đến kì lạ” (Mai Văn Tạo). Đối với học sinh lớp 4 miêu tả có hiệu quả cao thì trong quá trình giảng dạy bản thân tôi đã tổ chức cho các em quan sát bằng các câu hỏi gợi ý, như: Khi nắm lấy quai xách em cảm thấy như thế nào? Khi sờ thân cây bàng em có cảm giác như thế nào? Tóm lại muốn tái hiện các sự vật, hiện tượng, cách quan sát tốt nhất là phải dùng nhiều giác quan thì tài năng văn mới phong phú, muôn hình muôn vẻ. 1.2 Lựa chọn trình tự quan sát : Tôi hướng dẫn học sinh lựa chọn trình tự quan sát thích hợp, cụ thể: *Trình tự không gian : Thường quan sát bao quát đến quan sát chi tiết từng bộ phận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, hay từ ngoài vào trong, nhìn từ xa lại gần....và ngược lại,... 11
  10. Ví dụ : Khi tả cái cặp: Tôi luôn hướng dẫn học sinh quan sát đặc điểm chung của cái cặp rồi quan sát các bộ phận từ ngoài vào trong, cái cặp có màu gì, hình gì . Nó có mấy ngăn. Các ngăn đó em đựng như thế nào?.... * Trình tự thời gian : Miêu tả theo trình tự thời gian ngoài việc tạo cho bài văn logic mà còn lột tả được đặc điểm của sự vật. Chúng ta cùng nhìn lại cách “Tả lá bàng” của Hoàng Phú Ngọc Tường viết: “Mùa xuân, lá bàng mới nảy trông như những ngọn lửa xanh. Sang hè, lá lên thật dày, ánh sáng xuyên qua chỉ còn là màu ngọc bích. Khi lá bàng ngả sang màu lục ấy là mùa thu. Sang đến những ngày cuối đông, mùa của lá rụng, nó lại có vẻ đẹp riêng. Những lá bàng mùa đông đỏ như đồng ấy, tôi có thể nhìn cả ngày không chán .”. Để rèn luyện cho học sinh lớp quan sát tốt, bản thân tôi rất chú ý đến vấn đề này. Chẳng hạn tôi đã tiến hành hướng dẫn các em quan sát cây bàng trong sân trường theo trình tự không gian và kết quả các em đã hình thành dàn ý như sau: 1.3 Tìm ra được nét riêng biệt, nét tiêu biểu, nét độc đáo của sự vật Đúng như nhà văn Tô Hoài đã nói: “Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề. Nhiều khi chẳng cần đầy đủ sự việc, chỉ chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận như Một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ, mới bật lên và khi bật lên thì thấy thích thú hào hứng không ghi không chịu được.” (Trích “sổ tay viết văn” – NXB tác phẩm mới 1977). Khi quan sát phải có trọng tâm, không phải kiểu quan sát nhặt nhạnh, liệt kê, kể lể một cách khô khan dẫn đến miêu tả rườm rà, sẽ không thể làm nổi bật được đối tượng cần miêu tả. Ví dụ: Tả cây ăn quả: chú trọng quan sát quả, quá trình phát triển của quả, hương vị, hình dáng, màu sắc của quả. Tả cây hoa: tập trung vào tả vẻ đẹp của hoa, màu sắc, hương vị của hoa ... 12
  11. Tả cây bóng mát: tập trung tả lá, tán lá, cảm giác mát mẻ dưới vòm lá, sự phát triển qua bốn mùa nhưng chủ yếu mùa lá tốt tươi cho bóng mát. Tả con vật: quan sát những nét tiêu biểu của hình dáng, hoạt động của nó. Cho nên, tôi luôn xác định, chỉ rõ cho học sinh quan sát đối tượng miêu chỉ tập trung vào việc lựa chọn những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng. Có thể những đặc điểm riêng đó đối với người khác là bình thường nhưng đối với riêng em là đặc biệt vì nó gắn bó với em bằng một kỷ niệm, một sự kiện nào đó. 1.4 Sử dụng tranh ảnh để quan sát Đối với văn miêu tả đồ dùng chủ yếu sử dụng là tranh ảnh, mẫu vật thật cho học sinh quan sát như cái cặp, quyển sách,...Tuy nhiên, nhiều đối tượng miêu tả không thể cho học sinh quan sát trực tiếp tại lớp, mà phải tự quan sát tại gia đình, ngoài xã hội (con lợn, cây chuối đang có buồng, con đường làng, vườn rau ). Vì vậy, khi hướng dẫn tại lớp, muốn gợi mở dẫn dắt có hiệu quả thì phải sử dụng tranh, ảnh giúp học sinh nhớ lại những điều đã quan sát từ trước. Đó chính là cơ sở để cho các em suy nghĩ, phân tích, tổng hợp lại các đặc điểm của sự vật và rèn luyện làm Tập làm văn. Có như vậy, việc sử dụng tranh, ảnh mới đem lại hiệu quả. 13