Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 24 - 36 tháng ở Trường Mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 24 - 36 tháng ở Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_vai_bien_phap_giao_duc_ky_nang_son.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 24 - 36 tháng ở Trường Mầm non
- *Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp nhà trẻ D1 lứa tuổi 24-36 tháng *Phạm vi nghiên cứu: Tại lớp nhà trẻ D1 tôi đang chủ nhiệm với tổng số 14 học sinh. PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề * Khi thực hiện nghiên cứu đề tài này tôi nhận thấy cách làm hiện tại có một số nhược điểm như sau: Các kiến thức chăm sóc trẻ các cô đã và đang thực hiện tuy nhiên chưa phát huy hết tất cả, chưa có nhiều sự sáng tạo, còn dập khuôn Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ còn ít, việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống vào các hoạt động cho trẻ còn chưa sâu, thiếu nhiều bài tập thực hành. Vốn tài liệu mà giáo viên có thể tham khảo để dạy trẻ còn thiếu và chưa phong phú. Chưa mạnh dạn trao đổi với phụ huynh để cho các con được tự phục vụ bản bản một số việc đơn giản Có đôi khi giáo viên và phụ huynh chưa đủ kiên nhẫn để dạy cho trẻ tự làm và rèn luyện kỹ năng sống mà tự tay làm hộ cho trẻ để nhanh xong. Có rất nhiều giáo viên chịu khó tìm tòi học hỏi nhưng cũng có nhiều giáo viên do bận công việc gia đình, con cái cũng chưa có thời gian tìm hiểu các kiến thức để phục vụ cho việc dạy trẻ có kỹ năng sống. Thuận lợi. Luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường. Trường đạt chuẩn quốc gia cấp độ 1, cơ sở vật chất tương đối khang trang, đầy đủ, lớp học rộng rãi, thoáng mát. Khuôn viên trường rộng thoáng, sạch đẹp.
- Lớp được biên chế 2 giáo viên, các cô có lòng nhiệt tình, yêu trẻ. Luôn hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau cả về chuyên môn cũng như việc chăm sóc giáo dục trẻ. 100% trẻ đến trường ăn bán trú nên thuận lợi trong việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Bản thân luôn tham gia đầy đủ các chuyên đề của ngành học mầm non, do huyện, do trường tổ chức, để áp dụng vào việc chăm sóc giáo dục trẻ hằng ngày, đặc biệt là việc rèn các kỹ năng cho trẻ Khó khăn. Với đặc điểm sinh lý trẻ 24 - 36 tháng còn chưa ổn định, trẻ chưa phát triển nhiều về ngôn ngữ, do đó khả năng giao tiếp về ngôn ngữ của trẻ gặp rất nhiều khó khăn, một số trẻ nói ngọng, một số trẻ nói được ít từ. Sống trong môi trường gia đình, được bố mẹ, ông bà yêu thương chăm sóc, bao bọc quá cẩn thận, trẻ được nuông chiều, cung phụng, khiến cho trẻ không có kỹ năng tự phục vụ. Một số trẻ ít giao tiếp với mọi người xung quanh, khi đến trường là nơi hoàn toàn mới mẻ, xa lạ với trẻ, tuy cùng một độ tuổi nhưng khả năng hoà nhập không đồng đều. Có bé còn nhút nhát, có bé đi học chưa đều, do sức khỏe hoặc hạn chế về thể chất. Do đó, trẻ chưa quen với nề nếp, thói quen và sinh hoạt ở trường lớp. Nhiều trẻ còn nhút nhát, rụt rè, cá tính Với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi 24-36 tháng, ở giai đoạn này trẻ còn gặp khó khăn về ngôn ngữ, khả năng giao tiếp còn hạn chế. Trẻ đang sống trong môi trường gia đình, được ông, bà, bố mẹ yêu thương chăm sóc, khi đến trường là hoàn toàn mới mẻ xa lạ với trẻ, do đó trẻ chưa quen cô, chưa quen môi trường ở lớp, trẻ còn rụt rè, nhút nhát, không nhận sự giúp đỡ ở cô, xa lánh cô. Thời gian làm việc của giáo viên trên trường khá dài 10 - 11 tiếng, về nhà bận công việc gia đình, chăm sóc con cái, dạy con học nên thời gian nghiên cứu đề tài cũng hạn hẹp thường là tranh thủ vào buổi trưa, đêm muộn hoặc vào ngày nghỉ cuối tuần.
- Một số phụ huynh nhận thức chưa đồng đều cho là lứa tuổi bé nên việc nghĩ các cháu chưa thể tự làm được nên bố mẹ thường làm hộ cho con. Trẻ không có cơ hội để tự làm và thiếu đi việc có kỹ năng sống cho bản thân. * Số liệu điều tra trước khi thực hiện: Qua điều tra thực tế từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát trên 14 cháu trong nhóm lớp về kỹ năng sống của trẻ mọi lúc mọi nơi và tôi đã thu được kết quả như sau: Bảng 1. Bảng khảo sát thực tế đầu năm TT Tiêu chí khảo sát Tổng số Kết quả đầu năm trẻ được Số Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ đánh giá lượng trẻ chưa trẻ đạt đạt 1 Kỹ năng tự phục vụ 14 4 28,6% 10 71,4% 2 Kỹ năng giao tiếp 5 35,7% 9 64,3% 3 Kỹ năng tự nhận thức 4 28,6% 10 71,4% 4 Kỹ năng hợp tác 5 35,7% 9 64,3% Từ kết quả bảng khảo sát trên, tôi đã suy nghĩ phải làm gì và làm như thế nào để giúp trẻ nhà trẻ có thêm các kỹ năng sống, từ đó tôi mạnh dạn nghiên cứu và đưa ra: “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 24-36 tháng tuổi” 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề 2.1: Biện pháp 1: Xác định các loại kỹ năng sống phù hợp độ tuổi để dạy trẻ
- Với vai trò một giáo viên, hàng ngày được trực tiếp chăm sóc giáo dục các con, với tôi, ngoài việc cung cấp dạy kiến thức cho các con ở các môn học, các hoạt động trong ngày, các cô còn giúp trẻ hình thành nhân cách, các ứng xử với con người, với thiên nhiên, giúp trẻ phát triển hài hòa cân đối giữa các mặt để khi lớn tuổi hơn trẻ không bỡ ngỡ, xa lạ trước những cuộc sống khác lạ xung quanh. Trẻ sẽ học tốt nhất khi có được một cách tiếp cận cân bằng về các mặt, các kỹ năng nhận thức, tình cảm quan hệ xã hội, các hành vi ứng xử cơ bản với bạn bè, cô giáo, thì trẻ sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng vào việc tập trung tiếp thu các kiến thức ở từng môn học một cách tốt nhất. Qua việc dạy trẻ các kỹ năng sống, các quá trình tâm lý của trẻ phát triển hơn như: Trí nhớ, ngôn ngữ, tư duy..., sẽ giúp trẻ tiếp thu kiến thức từ các môn học sẽ tốt hơn và khả năng ghi nhớ của trẻ sẽ nhanh hơn. Kỹ năng sống là khả năng biết làm, biết thực hiện việc gì đó một cách tự giác, thành thạo trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy, có người nói: Dạy trẻ 24 - 36 tháng tuổi những kỹ năng sống như vậy có quá sớm không, trẻ có thực hiện được không? Thật ra việc học kinh nghiệm sống với trẻ chẳng bao giờ là sớm, có hàng trăm kỹ năng sống cần thiết với trẻ. Tùy theo lứa tuổi của trẻ để chọn ra nội dung chương trình dưới nhiều hình thức khác nhau. Người giáo viên phải có nhiệm vụ quan trọng để lựa chọn, xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi từ 24 - 36 tháng. Sau một thời gian nghiên cứu, tôi đã lựa chọn một số kỹ năng sống cơ bản để cung cấp cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi cụ thể như sau. Kỹ năng Nội dung lựa chọn Tự phục vụ - Biết cất dép đúng nơi quy định - Biết cất ba lô đúng tủ của mình còn tủ của bạn nào cao quá thì trẻ sẽ chỉ tủ của trẻ để cô giúp đỡ. - Biết bê ghế về tổ, về bàn. - Biết nhặt cơm rơi vãi vào khay.
- - Đa số trẻ biết tự súc cơm ăn. - Biết lấy và cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định. - Biết lấy khăn, cốc để dùng. Giao tiếp - Bước đầu biết cách xưng hô chào hỏi cùng cô và một số trẻ tự xưng hô tốt với người khác khi không có cô giúp đỡ. - Biết lắng nghe cô nói và trả lời câu hỏi của cô khi được hỏi. - Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với mọi người. Tự nhận - Trẻ tò mò ham hiểu biết, thích khám phá thế giới xung quanh. thức - Trẻ nhận biết được tên, tuổi của mình, người thân và địa chỉ gia đình, biết được tên những người xung quanh khi được hỏi đến. Hợp tác - Trẻ biết kết hợp với bạn khi chơi. - Trẻ biết đoàn kết với bạn. - Trẻ có thái độ cư sử đúng mực với bạn và mọi người xung quanh. 2.2: Biện pháp 2: Bồi dưỡng bản thân, chia sẻ với đồng nghiệp. - Để có thể thực hiện tốt “ Một số biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ 24 -36 tháng” trước hết giáo viên đứng lớp như tôi không chỉ nghiên cứu nắm vững mục đích yêu cầu của hoạt động mà giáo viên còn cần phải nắm chắc được các phương pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó, áp đặt, và vận dụng những điều đã học vào thực tế hàng ngày của trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 24 - 36 tháng lớp tôi có được những kỹ năng sống cơ bản đó thì sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề đòi hỏi tôi phải không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ 24 - 36 tháng " - Tham gia các đợt kiến tập và các chương trình chuyên đề do phòng tổ chức
- - Tìm đọc tham khảo biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí mầm non. + Sách hướng dẫn các hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ 24- 36 tháng + Sách giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ 24 - 36 tháng + Sách bé thực hành các tình huống giáo dục kỹ năng sống dành cho trẻ 24 - 36 tháng + Xem các chương trình truyền hình như quà tặng cuộc sống, cuộc sống quanh ta trên các kênh truyền hình như VTV3 vào tối chủ nhật hàng tuần Trên thực tế hiện nay ở trường mầm non chúng tôi, đội ngũ giáo viên còn chưa được đồng đều. Những giáo viên đã có tuổi tuy nắm vững phương pháp nhưng việc đổi mới thì còn hạn chế còn các cô giáo trẻ thì lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Qua kiểm tra, đánh giá đầu năm có rất nhiều trẻ còn chưa biết chào cô, chào khách, chưa có kỹ năng giao tiếp, chưa có kỹ năng tự phục vụ Hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng thực hiện chưa được tốt, chưa lồng ghép tích hợp vào các hoạt động. Tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng vì nó quyết định đến nhân cách của trẻ sau này. Chính vì vậy qua việc tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Nhận thấy đây là việc quan trọng và cần thiết đối với trẻ nên trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn của khối tôi chia sẻ với đồng nghiệp về các biện pháp “ Dạy kỹ năng sống cho trẻ”. Để dạy trẻ được những kỹ năng sống thì việc đầu tiên cô giáo phải là tấm gương để trẻ soi vào, để trẻ học làm người. Chính vì vậy, không phương pháp nào hiệu quả bằng phương pháp “ Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Những người dạy nội dung giá trị và kỹ năng sống càng cần là tấm gương mẫu mực về hành vi, lời ăn, tiếng nói, cách ứng sử, cách giải quyết vấn đề Đây là những yêu cầu rất cao và đòi hỏi các cô giáo cũng luôn phải tự rèn luyện mình để công tác giáo dục trẻ hiệu quả hơn. Và tôi đưa ra những điều mà giáo viên nên và không nên trong việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đó là: - Không nói dài và nói nhiều
- - Không đưa ra câu hỏi để trẻ chỉ trả lời có hoặc không, mà để trẻ phải suy nghĩ. - Không vội vàng phê phán đúng sai, kiên trì giảng giải cho trẻ từ đó rút ra kết luận. 2.3. Biện pháp 3: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học Giáo dục kỹ năng sống vào các môn học nhằm hình thành cho trẻ những thói quen hành vi có văn hóa * Thông qua hoạt động làm quen văn học Giáo viên cần kể truyện cho trẻ nghe ở mọi lúc mọi nơi không chỉ trong giờ hoạt động học, có thể kể khi các con vui chơi ở một nhóm nhỏ, hoặc kể truyện cho trẻ nghe vào buổi trưa đối với những trẻ khó ngủ. Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu truyện cổ tích, qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các câu truyện bằng tranh phù hợp với lứa tuổi nhất là hiện nay công nghệ thông tin đang được phổ biến thì có thể sưu tầm những hình ảnh minh họa nội dung truyện để làm những hình động thì trẻ rất hứng thú, những câu truyện đó phải phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ để gợi mở tình tò mò, ham học hỏi ở trẻ. Ngoài ra, tôi có thể kể cho trẻ nghe các câu chuyện về tinh thần đoàn kết hợp tác với nhau, bé đi học không khóc nhè, bé là bé ngoan, bé vui đến trường, bé biết vâng lời, tình cảm yêu quý bạn bè, tình cảm gia đình, bé yêu lao động, tính trung thực như: chuyện: “Đôi bạn tốt”, “Vịt con nói dối” Ví dụ: Thể hiện tình bạn của gà con và vịt con khi rủ nhau đi chơi gặp phải cáo và chúng đã giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Ví dụ: Khi tôi kể cho trẻ nghe câu truyện “Vịt con nói dối” thông qua nội dung truyện trẻ biết được trong cuộc sống trẻ không nên nói dối, phải thật thà từ đó giáo dục kỹ năng sống như tính trung thực cho trẻ trong cuộc sống hàng ngày. Hình ảnh 1: Ảnh cô ngồi kể chuyện * Thông qua hoạt động âm nhạc: Với tiết dạy hát, dạy vận động, tôi sẽ kích thích khả năng tự tin, mạnh dạn của trẻ
- Ví dụ: Dạy bài hát "Rửa mặt như mèo" tôi giáo dục thói quen giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ. * Thông qua hoạt động thể dục: Tôi dạy trẻ biết các kỹ năng vận động, biết siêng năng rèn luyện để cơ thể khỏe mạnh, trẻ biết trong khi tập không chen lấn xô đẩy nhau Hình ảnh 2: Ảnh giờ thể dục * Thông qua hoạt động nhận biết tập nói: Tôi dạy trẻ kỹ năng giao tiếp, trẻ biết chia sẻ thông tin về gia đình, kể về các thành viên trong gia đình * Thông qua hoạt động tạo hình: Tôi sẽ kích thích trẻ bộc lộ những suy nghĩ, , khả năng tưởng tượng và sáng tạo của mình. Ví dụ: Với đề tài " chấm hoa quả cho cây " ngoài việc dạy kỹ năng chấm màu tôi còn dạy trẻ biết giữ gìn sản phẩm, không ngắt hoa, bẻ cành ở sân trường 2.4 Biện pháp 4: Giáo dục trẻ kỹ năng sống thông qua các hoạt động khác. *Thông qua tổ chức hoạt động ngoài trời. Hoạt động ngoài trời là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. Bởi thông qua đó trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành, đồng thời được khám phá, thoả mãn trí tò mò của trẻ. Đối với trẻ nhà trẻ là giai đoạn phát triển quan trọng trong cuộc đời của bé. Ở giai đoạn này, trẻ hình thành, phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội, phát triển về mặt tư duy, trí tuệ, thể chất và nhiều kĩ năng khác. Nếu không được tham gia các hoạt động ngoài trời, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kỹ năng giao tiếp của trẻ, có thể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng Vì vậy, trong các hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ không thể thiếu các hoạt động ngoài trời. Đây là một trong những hoạt động vui chơi mà trẻ hứng thú nhất, mang lại cho trẻ nhiều niềm vui và kiến thức cần thiết về thế giới xung quanh trẻ. Khi tổ chức các hoạt động có chủ đích, trẻ được tham gia vào các hoạt động như quan sát, đi dạo giúp trẻ nhận biết, làm quen với môi trường và cuộc sống xung quanh trẻ Khi tổ chức hoạt động có chủ đích tôi thường đưa ra các câu hỏi, các tình huống để
- trẻ có thể hiểu hơn và giải quyết tình huống tốt hơn qua đó giúp cho trẻ có các kỹ năng giao tiếp phù hợp với lứa tuổi. Ví dụ: Khi cho trẻ quan sát hoa tôi thường đặt ra những câu hỏi manh tính gợi mở để cho trẻ suy nghĩ trả lời như: - Đây là hoa gì? Những bông hoa trong có màu gì? - Các con phải làm gì để cho bồn hoa luôn đẹp? Khi đó trẻ sẽ suy nghĩ để có thể trả lời được các câu hỏi của cô, và trẻ có thể sẽ quay sang hỏi bạn của mình, như vậy sẽ giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Ngoài ra, trẻ sẽ dễ dàng thích nghi, hòa nhập khi đến các môi trường khác. Ngoài ra khi trẻ tham gia vào hoạt động có chú đích, trẻ có thêm một số kinh nghiệm sống, hình thành những thói quen tốt như: Biết giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, yêu thiên nhiên, biết chăm sóc và bảo vệ cây không ngắt lá bẻ cành cây. Thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động và chơi tự do sẽ hình kỹ năng hợp tác ở trẻ như biết chơi cùng bạn, biết nhường nhịn, không chen lẫn xô đẩy khi chơi. Để phát triển kỹ năng này được tốt ở trẻ, tôi thường tạo ra tình huống, yêu cầu, trò chơi cần đến sự hợp tác của hai nhóm bạn để trẻ cùng nhau giải quyết vấn đề. * Thông qua hoạt động góc: Hoạt động góc là 1 hoạt động đặc biệt vì tại đây đứa trẻ được chơi, được hoạt động, tái hiện lại cuộc sống xung quanh và những gì trẻ biết. Chính vì thế qua hoạt động trẻ chơi, đặc biệt là các tình huống cụ thể xảy ra trong quá trình chơi chúng ta sẽ hình thành và rèn luyện rất nhiều kĩ năng sống cho trẻ. Ví dụ: Góc chơi gia đình giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ, tình cảm và giao tiếp của trẻ. Qua trò chơi trẻ hiểu được những mối quan hệ trong từng sự việc cụ thể từ đó trẻ có thể bộc bạch những suy nghĩ và tình cảm thông qua hành vi của mình.Ở trong góc chơi góc “Bé chơi với búp bê”, trẻ có thể làm các công việc giống như người lớn: cho em ăn, tắm cho em, trẻ có thể sử dụng các đồ dùng nấu ăn và nấu những món ăn theo ý thích, theo tưởng tượng của trẻ và trẻ cảm thấy rất tự hào, rất phấn khởi khi làm được những
- công việc giống như mẹ của mình đã làm ở nhà. Vì đây chính là góc chơi luôn được trẻ yêu thích nhất và cũng là góc chơi mà giáo viên có thể giúp trẻ thực hiện được một số kỹ năng tựu phục vụ bản thân thông qua các đ3ồ dùng đồ chơi đẹp, phong phú nên các giáo viên trong lớp luôn có ý thức thay đổi nội dung cũng như các đồ dùng đồ chơi tạo hứng thú cho trẻ. Trò chơi “Phơi quần áo” Mục đích: Trẻ nhận biết trang phục và kỹ năng dùng kẹp để phơi quần áo Chuẩn bị: Quần áo của trẻ, kẹp, dây phơi. Cách chơi: Trẻ cầm kẹp và lần lượt kẹp 2 đầu quần, áo lên dây. Kỹ năng này giúp trẻ có đôi bàn tay khéo léo và trẻ có thể giúp mẹ phơi quần áo nhỏ ở nhà. Trò chơi: chuyển gạo Mục đích: Nhằm bồi dưỡng khả năng phối hợp tay mắt nhịp nhàng, khả năng tập trung, tính độc lập và kỷ luật của trẻ Hướng dẫn: Chuẩn bị hai cái khay, đặt hai cái cốc bằng nhựa trên khay, trong một cái cốc đựng gạo, yêu cầu trẻ dùng tay đổ gạo từ cốc này sang cốc kia. Lưu ý: Với trẻ hiếu động, cô có thể sáng tạo bằng cách hai cô cháu cùng chơi trò nấu ăn, cô lấy gạo, tự khắc trẻ sẽ biết dùng thìa xúc sang bát còn lại, hay đổ sang bát còn lại. Hãy đẻ trẻ bắt đàu bài tập bằng niềm vui vẻ, nếu ép buộc có thể kết quả sẽ bị theo chiều ngược lại Trò chơi: Thái chuối Mục đích: Nhằm bồi dưỡng khả năng phối hợp tay mắt nhịp nhàng, khả năng tập trung, tính độc lập và kỷ luật của trẻ Hướng dẫn: Chuẩn bị một quả chuối tiêu, một con dao bằng nhựa đồ chơi, một cái thớt nhỏ, sau đó cho trẻ dùng dao thái chuối. Ngoài ra còn một số trò chơi khác như: Xúc hạt, gắp thức ăn, rót nước...
- Trong góc kỹ năng thực hành cuộc sống, trẻ được trải nghiệm và thực hành các công việc như chính cuộc sống hàng ngày của trẻ, với những đồ dùng thường là vật thật nên luôn tạo sự hứng thú cho trẻ. Các trò chơi trong các góc chơi như một thế giới thu nhỏ với trẻ, những công việc, sự việc luôn được trẻ giải quyết một cách hồn nhiên, trong sáng. Tuy nhiên những cách giải quyết của trẻ không phải lúc nào cũng được suôn sẻ, đôi lúc trẻ cũng tranh giành, muốn chiếm hữu. Những lúc đó sự tác động kịp thời của giáo viên lại giúp trẻ có thêm những hành vi, cách sử xự văn minh và sự thân thiện với các bạn. Khi chơi xong, trẻ tự mình cất dọn đồ chơi gọn gàng, để vào đúng nơi qui định Hình ảnh 3: Trẻ chơi ở góc bế em * Thông qua giờ ăn: Trẻ được làm quen với những đồ dùng ăn uống, trẻ không chỉ phân biệt, nhận biết những đồ dùng này qua giờ nhận biết tập nói “Đồ dùng bé yêu”, mà trẻ sẽ nhận biết tốt hơn, cụ thể hơn nữa qua thực tế giờ ăn của trẻ, giúp trẻ nhận biết và sử dụng đúng các chức năng của các đồ dùng đó như: thìa để xúc cơm, bát để đựng cơm và thức ăn, khay để cơm rơi vãi và khăn lau tay... từ đó giúp trẻ có những hành vi văn minh trong khi ăn uống như: Tự xúc cơm ăn, ăn từ tốn, không làm vãi cơm, nếu có vãi thì nhặt vào khay, vỏ hoa quả, bánh kẹo thì vứt vào thùng rác tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. Qua giờ ăn trẻ có thể học được những kỹ năng mà cô đã dạy trẻ ngay từ ban đầu đó là trẻ biết mời cô và các bạn cùng ăn cơm, tự xúc cơm ăn, biết nhặt cơm rơi vãi ở bàn khi ăn, biết cách cầm thìa thế nào cho đúng và trẻ ăn ngon miệng ăn hết xuất của mình. * Thông qua giờ đón, trả trẻ.

