Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp hiệu quả trong việc dạy từ vựng cho học sinh Tiểu học
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp hiệu quả trong việc dạy từ vựng cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_phuong_phap_hieu_qua_trong_viec.doc
Bìa.doc
Đơn công nhận SKKN.doc
Phiếu đánh giá, thẩm định sáng kiến.doc
Tóm tắt SKKN.docx
Văn bản xác nhận sáng kiến.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số phương pháp hiệu quả trong việc dạy từ vựng cho học sinh Tiểu học
- Với những lý do trên, tôi xin trình bày sáng kiến: “Một số phương pháp hiệu quả trong việc dạy từ vựng cho học sinh tiểu học” 2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới. Thực tế phương pháp dạy môn Tiếng Anh trong thời gian gần đây 2 kĩ năng nghe và nói được coi trọng hơn cả. Đặc biệt với giao trình mới hiện nay thì Tiếng Anh giao tiếp thực sự được đặt lên vị trí hàng đầu nên tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến “Một số phương pháp hiệu quả trong việc dạy từ vựng cho học sinh tiểu học”. Trong phạm vi sáng kiến này tôi xin đề cập đến một số phương pháp dạy, kiểm tra từ vựng cũng như một số hệ thống bài tập về từ vựng để giúp cho học sinh học, thực hành và ghi nhớ từ vựng tốt hơn để từ đó các con có thể vận dụng vốn từ vựng mình đã được học vào thực hành giao tiếp. Giúp giáo viên có cái nhìn tổng quan hơn về các phương pháp dạy từ và xây dựng các hệ thống bài tập từ. Giúp học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức mới. Giúp cho hoạt động dạy - học nhịp nhàng hơn, ứng thú hơn, hiệu quả hơn. 3. Phạm vi sáng kiến. - Nơi tiến hành nghiên cứu: Tại trường TH Đồng Tiến – Khoái Châu – Hưng Yên. - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối lớp 3 trường TH Đồng Tiến – Khoái Châu – Hưng Yên. - Lĩnh vực khoa học nghiên cứu: Lĩnh vực chuyên môn. I.2. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH: 1. Cơ sở lý luận: - Xuất phát từ mục đích, mục tiêu giáo dục cấp học, lớp học. - Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu của môn học. - Xuất phát từ một số tồn tại và vướng mắc trong quá trình dạy từ vựng của giáo viên và học từ vựng của học sinh. - Xuất phát từ thực tế dự giờ, thăm lớp của đồng nghiệp. - Xuất phát từ kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy trên lớp. 5
- 2. Cơ sở thực tiễn: Như chúng ta đã biết, trước đây theo phương pháp dạy học truyền thống, Giáo viên đóng vai trò trung tâm là người truyền đạt kiến thức, còn học sinh là đối tượng tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Phương pháp này ít mang lại hiệu quả giáo dục, nó không phù hợp với tình hình phát triển của nước ta hiện nay. Bây giờ việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh yêu cầu học sinh phải biết tự giác, chủ động sáng tạo, chiếm lĩnh làm chủ kiến thức. Thực hiện được yêu cầu này, giáo viên phải là người có vai trò hướng dẫn, điều khiển, tổ chức học sinh hoạt động. Do vậy việc tìm tòi và vận dụng các phương pháp mới luôn luôn đòi hỏi mỗi giáo viên phải có. Hơn nữa, ngoại ngữ là một môn học đòi hỏi học sinh phải có tính chăm chỉ, học thường xuyên ở mọi lúc mọi nơi thì mới phát triển được vốn từ vựng, có vốn từ khá thì học sinh mới vận dụng các kiến thức của mình vào các bài học. Bên cạnh đó, việc phỏng đoán nội dung chính trong một tiết học cũng không thể thiếu được. Trước đây, theo phương pháp cũ, giáo viên thường đề cập ngay vào bài mới, không kích thích được khả năng tư duy của học sinh nên các em thường rất thụ động, do đó hiệu quả của các giờ học không cao. Đứng trước yêu cầu về việc đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào để nâng cao chất lượng giờ dạy? Vận dụng được những phương pháp nào để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh? Đó luôn là nỗi lo âu, trăn trở, những suy nghĩ của đội ngũ giáo viên – những người sẵn sàng hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục. Chính vì vậy mỗi giáo viên chúng ta phải không ngừng tìm tòi sáng tạo, học hỏi đồng nghiệp để tìm ra phương pháp dạy học tối ưu nhất phù hợp với học sinh. 3. Các biện pháp tiến hành Lâu nay, giáo viên chúng ta vẫn quen với cách dạy truyền thống là bám theo sách, người thầy làm trung tâm của tiết học nên việc đổi mới phương pháp 6
- dạy học không ít thầy cô cảm thấy bối rối. Do vậy, để chuẩn bị một tiết dạy từ vựng hay, lôi cuốn được học sinh đòi hỏi giáo viên phải mất nhiều thời gian để tìm tòi, sưu tầm tranh ảnh, làm đồ dùng giáo cụ trực quan, mang những vật thật đơn giản đến lớp .. giúp học sinh nhớ từ ngay tại lớp. Vì vậy dạy từ vựng theo phương pháp mới đạt hiệu quả cao nhất cần đảm bảo các bước sau : a. Khâu chuẩn bị. * Đối với giáo viên : - Giáo viên cần đầu tư nhiều thời gian để tìm kiếm tài liệu, hình ảnh liên quan đến chủ đề, đồng thời không ngừng cập nhật thông tin để hỗ trợ bài giảng. - Thường xuyên làm đồ dùng giáo cụ trực quan đơn giản để gây hứng thú trong các tiết học. Chuẩn bị bài thật kỹ, chi tiết trước khi lên lớp. * Đối với học sinh: - Sưu tầm nhiều tài liệu, tranh ảnh liên quan đến bài giảng cùng giáo viên - Chuẩn bị bài kỹ trước khi đến lớp. - Tìm trước từ mới ở nhà. - Luyện cách phát âm thường xuyên. - Tích cực làm đồ dùng giáo cụ trực quan khi giáo viên yêu cầu. - Trong lớp chú ý nghe giảng, hăng hái phát biểu xây dựng bài, tích cực, tự giác khi hoạt động nhóm, hoạt động cặp đôi, cặp ba. b. Vào bài. Tuỳ từng bài giảng giáo viên phải khéo léo tìm được cách vào bài hay để lôi cuốn, thu hút học sinh ngay từ đầu tiết học. Giáo viên cần dẫn dắt học sinh nhập tâm vào bài học bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn gợi ý bằng những câu hỏi đơn giản liên quan đến đề tài, 7
- buộc học sinh phải suy nghĩ, trả lời theo ý riêng. Trên cơ sở đó dẫn dắt đưa các ngữ liệu vào bài học. Trao quyền chủ động sáng tạo cho học sinh: Nếu như trước đây, thầy là trung tâm của tiết học, thì bây giờ học trò phải là người hoạt động nhiều hơn để có thể hình thành được nhiều kỹ năng tự tin trong giao tiếp. Thường xuyên sử dụng vốn từ mới của mình. Vì thế giáo viên phải phải nghĩ ra nhiều hoạt đồng trò chơi theo nhóm, theo cặp để học sinh tham gia xây dựng bài tốt hơn. Tuỳ vào những đòi hỏi của từng kỹ năng mà có những thủ thuật thích hợp cho từng bài. Khai thác triệt để các hoạt động và vận dụng chúng một cách linh hoạt chứ không gò bó vào khuôn khổ. 4. Thời gian tạo ra giải pháp. Để có được sáng kiến này tôi đã nghiên cứu kĩ và đã thực hành dạy cho học sinh lớp khối 3 Trường Tiểu học Đồng Tiến năm học 2020 – 2021 8
- B - NỘI DUNG. I. MỤC TIÊU CỦA SÁNG KIẾN. Sáng kiến này nhằm mục đích tập hợp, sắp xếp hệ thống các phương pháp thường được sử dụng để có được những biện pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao chất lượng học dạy và học từ vựng cho học sinh. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA SÁNG KIẾN. 1. Mô tả giải pháp của vấn đề. 1.1. Tính mới của đề tài: Với các kỹ thuật dạy từ vựng trong sáng kiến này có thể tạo hứng thú hơn cho học sinh khi học từ vựng, từ đó các em có thể nhớ từ vựng tốt hơn, thậm chí nhớ từ vựng ngay trên lớp. Nếu áp dụng tốt đề tài vào giảng dạy sẽ tháo gỡ được những khó khăn về dạy từ vựng của giáo viên. 1.2. Thực trạng học từ vựng của học sinh hiện nay. Qua quá trình giảng dạy và qua việc dự giờ, để học tập chuyên môn ở các đồng nghiệp. Tôi nhận thấy học sinh còn chưa thực sự thích học Tiếng Anh, đặc biệt là các con không nhớ từ vựng học bài sau quên luôn bài trước, có nhớ cách đọc từ mà không thể viết nổi từ. Qua thực tế giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, nhận thấy một số Thầy cô còn chưa thực sự khai thác hết thế mạnh của các phương pháp dạy học tích cực vào bài dạy trong từng bài học. Nhiều giáo viên chưa thực sự đầu tư thời gian và chất xám vào môn học này để dạy học sinh. Do khả năng tư duy của học sinh tiểu học còn dừng lại ở mức độ đơn giản trực quan, phần từ lại nhiều và là một trong các nội dung học tương đối khó với học đòi hỏi nhiều sự rèn luyện và thực hành. Chính vì những khó khăn và hạn chế trên nên chất lượng học của học sinh, chưa đạt kết quả như mong muốn. 2. Các biện pháp dạy từ vựng cho học sinh. a. Một số nguyên tắc để dạy từ mới. - Với học sinh tiểu học mỗi tiết học giáo viên cần lựa chọn 4 - 6 từ mới để dạy. 9
- - Giáo viên sử dụng các biện pháp thích hợp gợi ý đẻ học sinh đoán được từ sắp học, sau đó tiến hành các bước kiểm tra bằng các trò chơi thích hợp tạo hứng thú và cho học sinh thực hành với các từ vựng trên sẽ giúp học sinh nhớ từ mới dễ dàng hơn. - Trong giảng dạy, không nên cho học sinh lặp lại từ một cách quá nhiều lần vì việc lặp lại từ một cách máy móc nhiều lần sẽ không mang lại hiệu quả trong việc hiểu nghĩa của từ mà lại có thể làm cho bài học trở thành nhàm chán và lãng phí sức của học sinh cũng như người dạy. - Giáo viên không nên phiên âm các từ mới khi dạy vì trình độ Tiếng Anh của học sinh còn nhiều hạn chế, do đó nên tập trung vào việc học chữ viết của cả hai hệ thống Tiếng Việt và Tiếng Anh. Nếu phải học thêm ký hiệu phiên âm học sinh sẽ bị nhầm lẫn giữa chữ viết và ký hiệu phiên âm của một từ. b. Steps for teaching new vocabs. - Use a suitable technique to elecit or show the meaning of the new vocabulary. - Model the pronunciation clearly (3 times). - Ask students to repeat the word chorally and individually. - Correct students’ pronunciation. - Write the words on the board and students copy down on their notebooks. - Check the students’ understanding. - Draw students’attention to aspect of vocabulary such as part of speech, callocation, frequency etc .. - Give students a written record. (May be teacher checks that students write well in their notebooks). c. Eleciting techniques for teachhing vocabs. 10
- 1. Visuals – we can use this technique mostly when we teach nouns. - Use a picture - Draw on black ex: a house A garden 2. Mine : we can use this technique when we teach verbs or adjectives. - Facial expression - Guesture - Body action ex : to sleep Teacher does te action sleep. T asks : “what am I doing ?” Ss: You are sleeping (học sinh có thể trả lời bằng Tiếng Việt) T: now repeat “ sleep” (3 times) 11
- 3. Realia: - Use real things : We can use this technique when we teach nouns. (teacher brings real things to class) Ex : 4. Situation/explaination: This is an exciting technique because it can encourage students to guess the words in context. Teacher has to give out a situation or their explaintion to present the vocabulary Ex: garden T; This is the place where I can grow flowers, trees or vegetables. T asks, Which place is it ? Tell me the word in Vietnamese. 5 -Translation: We shouldn’t use this technique regularly only use it for difficult words which we can’t use other techniques. T simply presents the vocabulary by give out the meaning of the vocabulary Ex:(to) forget T asks how do I say ‘’quên” in English? 6- Example: ex1: rice , meat ,and fish .. are food. ex2: bananas , apples oranges are fruits. ex3: shirts ,trousers,jeans,shorts,dresses . are clothes. 12
- 7. Synonynm/antonynm. Teacher gives out the words which has the similar meaning or different meaning with the vocabulary. Ex: intelligent T asks what is another word for clever? Ex: big T asks what is opposite of small? * Ngoài ra giáo viên phải biết kết hợp nhiều cách dạy từ. Nhiều khi người dạy phải biết kết hợp nhiều kỹ thuật để giải thích nghĩa của từ, nhưng cần phải giải thích nhanh không để mất thời gian. d - Recording for vocabulary: * Using symbols - You can see the following symbols with synonyms, antonyms, traslations and pictures = is the same as ex : good = nice # is the same opposite ex : good # bad - You can use the following symbols to show the stress or the link of sounds. ‘ For the stressed syllable 13
- For linking final consonants with vowels Ex : an orange. - You can see the following words or abbreviations for the part of sentence. To - for verbs ex : to do a/an - for countable noun ex: a book (unc) - for uncountable noun ex : rice (unc) (adj /a) - for adjectives ex : sunny (adj) (adv) - for adverbs ex : fast/ slowly (adv) 3- Checking techniques (games to check remembering) a - Rub out and remember: -Teacher presents or elicits the vocabularies and build up the list on the blackboard. - After each word teacher puts the Vietnamese translation . - Teacher asks the students to copy in their books and then close their books . - Teacher rubs out the new word one at a time. -Whenever teacher rubs out a word in English, points to the Vietnamese translation and asks “ What’s this in Vietnamese?” - When all the English words are rubbed out, teacher goes through the Vietnamese list and asks the studends to call out the English words. - If there is time, teacher asks students to come to the black board and write the English words again. *Note: It helps leaners to remember new vocabulary. Ex: English 3- Unit 12 –Lesson 1 14
- 1- ..: phòng khách 2- .: phòng tắm 3- ..: phòng ngủ 4- ..:phòng ăn 5- .: vườn 6- ..:bếp b- Slap the board: -Teacher puts the new words in English on the black board in bubbles – not in a list. - If you want to check the understanding, put the Vietnamese translation of the new words or picture on the blackboard . -Teacher divides the class in to two teams of five or six . (depend on the numbers of the new words) to front of the class. -Teacher chooses a student from each team and they stand at equal distance from the blackboard. - Teacher calls out one of the new word in a low voice in Vietnamese. - Two students must runs forward and slap a word the word in English on the board. - The one who slaps the correct word first is the winner. If students are playing in teams, the win team gets a mark. - Then teacher asks two more students to come forward ..etc. * Note: There are two points to check remembering in this game. If you use only English, leaners only recognize the words in through listening. However if you use Vietnamese translation or pictures you can check the meaning of the new vocabularies. Ex:English 3- Unit 11 –Lesson 1 15

