Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4

docx 38 trang Chăm Nguyễn 01/12/2025 280
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_kinh_nghiem_van_dung_phuong_pha.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học Lớp 4

  1. 3 kiến thức cho riêng mình mình. Qua sự tương tác với các học sinh khác cùng lớp để tìm phương án giải thích hiện tượng. Để đạt được những mục đích đó bên cạnh việc dạy tốt môn Khoa học, tôi đã đặt ra cho mình mục tiêu giúp học sinh nắm được kiến thức của bài học theo phương pháp mới, cũng như tạo cơ hội để cho học sinh được rèn luyện Năng lực, Phẩm chất của người học, được thể hiện mình, được giao tiếp, cộng tác và thấy được niềm vui trong học tập để phát triển mình. Bản thân tôi luôn thấy rõ ưu điểm vượt trội của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Vì vậy tôi đã chọn sáng kiến “Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong dạy môn Khoa học lớp 4” để nghiên cứu và vận dụng vào thực tế giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Khoa học ở Tiểu học, đăc biệt là với học sinh lớp 4 hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu đề tài. Qua nhiều năm vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào thực tế giảng dạy môn Khoa học lớp 4. Bản thân tôi luôn thấy: Phương pháp dạy học này đã thể hiện được nhiều ưu điểm vượt bậc so với các phương pháp dạy học truyền thống khác. Việc áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào tiết dạy giúp học sinh được thực nghiệm nhiều hơn. Giáo viên có thể khai thác những kiến thức trong đời sống thực tế của học sinh từ đó giúp học sinh tự tìm hiểu và hình thành kiến thức mới của bài học. Phát huy được tối đa tinh thần làm việc theo nhóm của học sinh. Đặc biệt tiết học tạo được sự hứng thú từ phía học sinh, học sinh hào hứng, vui vẻ, thích học tập và say mê tìm tòi. Giúp học sinh ghi nhớ được kiến thức ngay tại lớp học, và nhớ lâu hơn. Vì vậy tôi muốn tiếp tục nghiên cứu và áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy môn Khoa học ở Tiểu học, đặc biệt với học sinh lớp 4 để rút ra những bài học kinh nghiệm trong dạy học nhằm phát huy tối đa tác dụng của phương pháp vào quá trình dạy – học, góp phần nâng cao chất lượng trong công tác dạy học và giáo dục học sinh phát triển toàn diện tại trường Tiểu học thị trấn Tân An hiện nay. Đồng thời đáp ứng được nhu cầu đổi mới về giáo dục hiện nay. 3. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu trong Sáng kiến là giáo viên và học sinh lớp 4 Trường Tiểu học thị trấn Tân An. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. Với Sáng kiến này sẽ góp phần giúp giáo viên lựa chọn nội dung phù hợp với phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong từng bài dạy và vận dụng có hiệu quả phương pháp dạy học này. Phương pháp mà trong đó học sinh được độc lập tự chủ, mạnh dạn nói lên những hiểu biết của mình và được tập thể tôn trọng, đồng thời được bảo vệ quan điểm của mình trước tập thể bằng cách đề xuất và tự tiến hành thí nghiệm mà không còn cảm thấy e ngại, rụt rè. Giúp học sinh thấy mình như một nhà nghiên cứu khoa học nhỏ tuổi. Từ đó các em say mê học tập hơn. Các em khám phá thế giới tự nhiên không chỉ ở chỗ độc lập, sáng tạo, mà còn thấy mình ngày càng hiểu biết được nhiều hơn, nghĩ ra nhiều phương án, nhiều phát minh được tập thể lớp, cô giáo và mọi người xung quanh chấp nhận.
  2. 4 Giúp các em học sinh hiểu Khoa học chứa đựng nhiều điều thú vị kèm theo sự say mê từ đó các em có quyết tâm chinh phục, biết thắc mắc và đặt câu hỏi rồi đi tìm câu trả lời thuyết phục, làm cho hoạt động khám phá diễn ra không ngừng nơi người học, dần dần hình thành ở các em phương pháp học, phương pháp tiếp cận tri thức khoa học để đáp ứng được xu thế thời đại- Thời đại bùng nổ thông tin, với một khối lượng tri tức khổng lồ mà nhà trường không đủ khả năng truyền tải hết. 5. Phương pháp nghiên cứu. - Phương pháp đọc tài liệu. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp phân tích tổng hợp. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp đàm thoại phỏng vấn. - Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. Phần II: PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề có liên quan. Như chúng ta đã biết, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Việc tìm kiếm và vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn học ở Tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng, nhằm hình thành cho học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó nâng cao chất lượng dạy học. Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đổi mới và vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa học ở Tiểu học hiện nay đó là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Trong những năm học gần đây phương pháp “Bàn tay nặn bột” được đưa vào thử nghiệm trong dạy học môn Khoa học ở các trường tiểu học tại Việt Nam. Việc nghiên cứu áp dụng phương pháp này vào dạy học sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường là vấn đề hết sức cần thiết góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Có như vậy mới hình thành cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, giúp các em thực sự trở thành “chủ thể” tìm kiếm tri thức. Khoa học là môn học chiếm vị trí quan trọng ở bậc tiểu học. Mục tiêu của môn Khoa học lớp 4 là giúp học sinh có một số kiến thức cơ bản ban đầu về sự trao đổi chất ở người, động vật, thực vật, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người. Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm, ứng dụng của một số chất, một số vật liệu dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất. Bước đầu hình thành và phát triển cho các em những kĩ năng cần thiết như quan sát và làm thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống sàn xuất. Phát triển Năng lực giao tiếp, cộng tác, chia sẻ, mạnh dạn, tự tin nêu thắc mắc và đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin để giải đáp. Biết diễn đạt những biểu cảm bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ, phân tích so sánh rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật hiện tượng đơn giản trong tự nhiên. Qua đó hình thành và phát triển những Phẩm chất như thái độ, hành vi ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống, yêu
  3. 5 con người, yêu thiên nhiên, yêu đất nước. Có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường xung quanh. Môn Khoa học ở lớp 4 được xây dựng trên cở sở nối tiếp những kiến thức về Tự nhiên và Xã hội các lớp 1,2,3. Nội dung chương trình được cấu trúc đồng tâm mở rộng và nâng cao theo các chủ đề. Nội dung kiến thức tích hợp các nội dung của các khoa học tự nhiên với khoa học về sức khỏe. Những nội dung được lựa chon thiết thực gần gũi và có ý nghĩa đối với học sinh, giúp các em có thể vận dụng những kiến thức khoa học vào đời sống hàng ngày. Chương trình cũng đã chú trọng tới sự hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập môn Khoa học thực nghiệm như: quan sát, thí nghiệm, phán đoán, giải thích các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống. Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, tự lực, tìm tòi và phát hiện ra kiến thức. Tên các bài học trong sách giáo khoa thường được trình bày dưới dạng một câu hỏi, lúc hoàn thành bài học cũng là lúc học sinh tìm được câu trả lời cho câu hỏi. Điều này rất phù hợp với phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Hơn thế nữa, ở lứa tuổi học sinh tiểu học, thế giới tự nhiên đối với các em chứa đựng bao điều bí ẩn. Sự tác động của nó hàng ngày qua mắt các em làm cho các em lạ lẫm, khiến các em tò mò, muốn khám phá để hiểu biết chúng. Các em không bằng lòng với việc quan sát mà còn thao tác trực tiếp để hiểu chúng hơn. Các em rất sung sướng khi phát hiện ra một điều gì đó mới lạ liên quan đến thực tế. Điều đó thể hiện rõ trên vẻ mặt hào hứng, vui tươi khi học bài, khi kết thúc tiết học. Chính trí tò mò, ham hiểu biết khoa học là động cơ thúc đẩy các em học tập một cách tích cực. Sự hứng thú sẽ làm nảy sinh khát vọng, lòng ham mê hoạt động và hoạt động sáng tạo. Điều này sẽ thúc đẩy động cơ học tập (động cơ bên trong) của học sinh. Qua phân tích những đặc điểm trên, tôi nhận thấy Khoa học là môn học rất thuận lợi để giáo viên đổi mới phương pháp dạy học và đưa các phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy đặc biệt là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Việc đưa phương pháp này vào giảng dạy trong môn Khoa học trong trường tiểu học là hoàn toàn hợp lí. Hướng đổi mới này không những nâng cao chất lượng dạy và học mà còn phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con người mới giai đoạn hiện nay. Điều thật đáng mừng là trong năm học này phương pháp “Bàn tay nặn bột” tiếp tục được áp dụng và nhân rộng ra các khối lớp trong các nhà trường. Tôi rất mong phương pháp “Bàn tay nặn bột” trở thành phương pháp dạy học quen thuộc trong các nhà trường tiểu học hiện nay. 2. Thực trạng. a. Đối với giáo viên. Mỗi cán bộ giáo viên đã nhận thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn, các phong trào thi đua của ngành như phong trào thi đua “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, phong tào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”...và đã nhiệt tình, hết lòng cùng học sinh thực hiện. Đội ngũ giáo viên đã được tập huấn về phương pháp “Bàn tay nặn bột” và có
  4. 6 nhiều cố gắng trong việc trao đổi, học hỏi, tự bồi dưỡng cũng như trong việc đổi mới các phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm trên, việc áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy môn Khoa học lớp 4 còn có những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy và học môn này. + Phương pháp Bàn tay nặn bột đòi hỏi phải có nhiều thời gian đối với mỗi tiết học chứ không chỉ với thời gian hạn chế 35 - 40 phút/tiết học như quy định hiện nay. + Để thực hiện phương pháp này, người giáo viên phải có kiến thức khoa học tự nhiên vững vàng và khả năng linh hoạt để ứng phó với mọi tình huống bất ngờ xảy ra trong tiết học. Hai điều này không phải giáo viên tiểu học nào cũng có được. +Việc chuẩn bị bài dạy theo phương pháp này còn tốn nhiều thời gian: nghiên cứu, soạn bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học, đồ dùng cho học sinh. Trang thiết bị chưa đáp ứng được cho việc dạy học theo phương pháp này, chưa có phòng thí nghiệm. b. Đối với học sinh. + Về phía HS, các em phải có vốn kiến thức thực tế phong phú, phải chủ động học tập, phải năng động, sáng tạo. Qua thực tế giảng dạy, quan sát, dự giờ tôi thấy các em đều biết làm việc tập thể, hợp tác, trao đổi, chia sẻ ý kiến cá nhân, chia sẻ đa chiều, biết làm một số thí nghiệm đơn giản. Tuy nhiên các em còn lúng túng, rụt rè, nhút nhát trong bước bộc lộ quan điểm ban đầu, khó khăn trong việc đề xuất câu hỏi. Nhiều học sinh đặt câu hỏi nêu vấn đề còn chung chung, chưa bám vào nội dung bài học. Trong việc thu thập kết quả và ghi chép lại cũng gặp không ít khó khăn. Các em không tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nên không gây được hứng thú trong học tập. Các em ít tò mò, ít đặt câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về biểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các em được tìm hiểu. Sự lập luận còn kém, các kĩ năng kĩ xảo còn vụng về, lúng túng. Việc vận dụng các kiến thức mà các em thu thâp được vào thực tiễn còn quá xa, bởi vì các em thiếu kĩ năng thực hành. Các em chưa có thói quen ghi chép lại những gì mà các em quan sát được. Việc xác lập mục đích quan sát và mục đích của thí nghiệm còn kém. Để xác lập cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng việc học môn Khoa hoch của học sinh lớp 4B trường Tiểu học thị trấn Tân An để đánh giá chất lượng ban đầu của lớp làm cơ sở để khảo sát thực nghiệm của Sáng kiến. Nội dung khảo sát nhằm đánh giá khả năng nắm kiến thức của các em, kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học để làm bài tập, hệ thống kiến thức, trả lời câu hỏi, vận dụng thực tế.
  5. 7 Kết quả khảo sát đầu năm như sau: TSHS HS hoàn thành HS chưa hoàn thành 29 17 58,62% 12 41,38% TS HS biết vận HS chưa biết HS chưa HS mạnh dạn HS dụng vận dụng mạnh dạn TS TL TS TS TL TL TS TL 29 16 55,17% 13 44,83% 10 34,48% 19 65.52% * Nguyên nhân có kết quả trên là do còn một số em chưa quen với phương pháp này, các em còn lúng túng, rụt rè, nhút nhát trong bước bộc lộ quan điểm ban đầu, khó khăn trong việc đề xuất câu hỏi, trong việc thu thập kết quả và ghi chép lại. Các em không tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nên không gây được hứng thú trong học tập, thờ ơ với việc học. Các em ít tò mò, ít đặt câu hỏi thắc mắc và hầu như mơ hồ về biểu tượng của những sự vật hiện tượng mà các em được tìm hiểu, sự lập luận còn kém, các kĩ năng kĩ xảo còn vụng về, lúng túng. Việc vận dụng các kiến thức mà các em thu thập được vào thực tiễn còn quá xa. 3. Đề xuất các giải pháp tiến hành. Để vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào giảng dạy môn Khoa học được hiệu quả tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: 3.1. Trước hết giáo viên phải nghiên cứu kĩ để hiểu và nắm chắc mục tiêu, chương trình môn Khoa học lớp 4. Sau khi học song môn Khoa học lớp 4 học sinh cần đạt được một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực, một số kĩ năng, thái độ và hành vi: a. Mục tiêu: * Một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực. Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người, cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm. Sự trao đổi chất, sự sinh sản của thực vật, động vật, ứng dụng của một số chất, một số vật liệu dạng năng lượng thường gặp trong đời sôngs và sản xuất. * Một số kĩ năng ban đầu. - Ứng xử thích hợp trong một số tình huống. - Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành. - Nêu thắc mắc, biết tìm thông tin để giải đáp, biết diễn đạt những hiểu biết. - Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng. * Một số thái độ hành vi. - Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh an toàn. - Ham hiểu biết khoa học, có ý thức tự vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống.
  6. 8 - Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp. Có ý thức và hành động bảo vệ môi trường xung quanh. b. Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4. * Chương trình môn Khoa học lớp 4 gồm 3 chủ đề - Chủ đề: Con người và sức khoẻ (Trao đổi chất ở người, Dinh dưỡng, Phòng bệnh, An toàn trong cuộc sống) - Chủ đề: Vật chất và năng lượng (Nước,Không khí, Âm thanh, Ánh sáng, Nhiệt) - Chủ đề: Thực vật và động vật (Trao đổi chất ở thực vật,Trao đổi chất ở động vật, Chuỗi thức ăn trong tự nhiên) c. Các bài Khoa học lớp 4 có thể áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” Tiết Mức độ sử theo Tên bài học Đồ dùng dạy học tối thiểu cần có dụng PPBTNB PPCT Trao đổi chất Những thứ con người nhận và Sơ đồ sự trao đổi chất giữa cơ thể người Tiết 2 ở người (t1) thải ra môi với môi trường. trường Những thứ con Tranh về các cơ quan tham gia quá trình Trao đổi chất người nhận và trao đổi chất (trang 8- sgk). Sơ đồ mối Tiết 3 ở người (t2) thải ra môi liên hệ giữa các cơ quan trong quá trình trường trao đổi chất Cốc, thìa, một số dụng cụ đựng nước có Nước có tính Tiết 20 Cả bài hình dạng khác nhau, tấm kính, khăn chất gì? bông, khay đựng nước, muối, đường, cát. Ba thểcủa Đá lạnh, muối, nước lọc, nước sôi, ống Tiết 21 Cả bài nước nghiệm, cốc, đĩa, nhiệt kế Mây được hình thành Tranh SGK (Không có phần ghi chú dưới Tiết 22 như thế nào? Cả bài tranh), tranh bầu trời có mây đen và mưa, Mưa từ đâu tài liệu nói về sự hình thành mây, mưa. ra? Sơ đồ vòng tuần hoàn của Tranh phóng to trang 48, sơ đồ vòng tuần Tiết 23 HĐ1và HĐ3 nước trong hoàn của nước (không có phần chú thích) TN Nước bị ô Thế nào là nước Tiết 25 Kính hiển vi, chai đựng nước, bông, phễu nhiễm bị ô nhiễm Một số cách Nước đục, một số chai nhựa trong, giấy Tiết 27 HĐ1 và HĐ2 làm sạch lọc, cát, than bột.
  7. 9 nước Làm thế nào Túi ni lông, chai rỗng, miếng bọt biển, Tiết 30 để biết có Cả bài chậu đựng nước, quả địa cầu. không khí? Không khí có Cốc thủy tinh rỗng, thìa, bóng bóng có Tiết 31 những tính Cả bài hình dạng khác nhau, bơm tiêm, quả chất gì? bóng. Không khí Lọ thủy tinh, nến, đế kê lọ, nước vôi Tiết 32 gồm những Cả bài trong, chậu thủy tinh. TP nào? Không khí Tiết 35 cần cho sự Cả bài Lọ thủy tinh, nến, đế của lọ thủy tinh. cháy Không khí Lọ thủy tinh, một con dế, hai cây nhỏ Tiết 36 cần cho sự Cả bài trồng trong chậu, dụng cụ để bơm không sống khí vào bể cá. Tại sao có Sự chuyển động Tiết 37 Chong chóng, hộp đối lưu gió? của không khí Tiết 41 Âm thanh Cả bài Ống bơ, thước kẻ, sỏi, trống, dùi nhỏ. Âm thanh Sự lan truyền Trống, dùi nhỏ, bao bóng, điện thoại, lọ Tiết 42 truyền qua một âm thanh thủy tinh đựng nước, vụn gấy số chất Đèn bin, tấm bìa, hộp đen, ni lông, tấm Tiết 45 Ánh sáng Cả bài gỗ, Đèn bin, vỏ hộp bằng sắt, cốc thủy tinh, Tiết 46 Bóng tối Cả bài quyển sách. Ánh sáng cần Tiết 47 HĐ4 Tranh phóng to trang 94, 95 (sgk) cho sự sống Cốc thủy tinh, nước sôi, nước nguội, nước Tiết Nóng lạnh và Cả bài đá, nhiệt kế đo nhiệt độ cơ thể, nhiệt kế đo 50+51 nhiệt độ nhiệt độ không khí, chậu đựng nước. Vật dẫn nhiệt Cốc, thìa, xoong, giấy báo, nhiệt kế, nước Tiết 52 và vật cách Cả bài nóng . nhiệt Ôn tập: Vật Tiết Tranh trang 111- sgk, cốc thủy tinh, nước chất và năng HĐ2,3 55+56 lạnh, khăn bông. lượng Thực vật cần Tiết 57 Cả bài Các tranh ở trang 114, 115 (sgk) gì để sống? Nhu cầu Quá trình hô Tiết 60 không khí của hấp và quang Các tranh ở trang 120, 121 (sgk) thực vật hợp của cây
  8. 10 Các chất thực Trao đổi chất Tranh vẽ trang 122 (sgk), sơ đồ về sự trao Tiết 61 vật lấy và thải ở thực vật đổi khí, trao đổi thức ăn ở thực vật ra môi trường Những yếu tố Một số hộp bằng nhựa hay bằng kính, một Động vật cần Tiết 62 cần cho sự sống số con chuột còn sống, nước, thức ăn của gì để sống? của động vật chuột, đĩa, bìa, đắp đậy hộp. Các chất động Trao đổi chất Tranh trang 128 (sgk), Sơ đồ trao đổi chất Tiết 64 vật lấy và thải ở động vật ở động vật. ra môi trường 3.2. Giáo viên cần phải hiểu sâu khái niệm về phương pháp “Bàn tay nặn bột” Theo Gioerges Charpak thì: “Bàn tay nặn bột” vượt quá sự tách đôi truyền thống giữa phương pháp và chương trình. Trong đó trẻ em hành động, thí nghiệm, nghiên cứu, tìm kiếm và có những câu hỏi đi kèm, hướng tới xây dựng những kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kĩ thuật. a. Giải thích về thuật ngữ “Bàn tay nặn bột” “Bàn tay nặn bột” nói vậy để cho ngắn gọn nhưng thực ra, nó huy động cả năm giác quan: xúc giác, thị giác, thính giác và có cả khứu giác, vị giác. Để phát triển trong các em sự tiếp xúc diệu kì với thế giới xung quanh, để các em học cách khám phá và tìm hiểu nó. b. Ý nghĩa của thuật ngữ “Bàn tay nặn bột” - Bàn tay: tượng trưng cho việc học sinh tự hành động, trực tiếp hành động. - Nặn bột: tượng trưng cho sản phẩm của chính các em trong hoạt động tự tìm tòi, sáng tạo. - Lòng bàn tay tượng trưng cho trái đất tròn. Năm ngón tay tượng trưng cho trẻ em ở năm châu lục khác nhau. Ý nói: Toàn trẻ em trên trái đất đều cùng nhau tham gia vào chương trình học tiên tiến, thú vị này để xây dựng một trái đất đẹp trong tương lai. * Theo nhóm nghiên cứu: Khái niệm “Bàn tay nặn bột”: “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học mà trong đó, học sinh tiến hành các thao tác trí tuệ có sự hỗ trợ của một số dụng cụ và những giác quan để nghiên cứu, tìm tòi, khám phá ra tri thức mới. Tất cả những suy nghĩ và kết quả được học sinh mô tả lại bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ. Hay nói cách khác: “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp dạy học được tổ chức nhằm giúp học sinh tự phát hiện ra tri thức khoa học. Trên cơ sở vận dụng tất cả các giác quan của mình, kinh nghiệm, tri thức cũ và tham gia làm thực nghiệm khoa học. Như vậy phương pháp “Bàn tay nặn bột” đề cao vai trò chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, hình thành cho các em phương pháp học tập đúng đắn. Các em học tập nhờ hành động cuốn hút mình trong hoạt động. Các em sẽ tiến bộ dần bằng cách tự nêu những thắc mắc, nghi vấn, hỏi đáp với bạn, trình bày quan
  9. 11 điểm của mình, đối lập với các quan điểm của người khác, tranh luận, tạo ra môi trường học tập tích cực. 3.3. Giáo viên cần hiểu đúng bản chất của việc dạy- học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” giúp các em có thể tiến hành những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết. Nhưng các em cần được hướng dẫn và giúp đỡ bởi các câu hỏi của thầy giáo và hoạt động trong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các “cơ hội”. Trong quá trình nghiên cứu, học sinh phải sử dụng tất cả các giác quan để tìm ra tri thức mới. Các em cần có vở ghi chép cá nhân để ghi lại những ý tưởng của mình, những điều đã được sửa chữa lại, cho phép giữ lại vết tích của những thử nghiệm liên tiếp đánh dấu được tiến trình nghiên cứu. Vở ghi chép được học sinh giữ suốt trong thời gian học Tiểu học và cuối cấp học sẽ hình thành một tập vở ghi nhớ đặc biệt. Như vậy bản chất của “Bàn tay nặn bột” không phải là phương thức mới cho phép các em hội nhập tốt hơn vào đời sống tự nhiên mà tạo cho các em một cách xử lí độc lập, có phần nào giống như một nhà nghiên cứu. Khi xử lý độc lập, học sinh sử dụng giác quan và một số dụng cụ hỗ trợ cho các thao tác trí tuệ. Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụng những dụng cụ thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà các dụng cụ ở đây không quá tốn kém, đa số là các vận dụng dể kiếm và dễ sử dụng. Nó được sử dụng hằng ngày với vài vật liệu đơn giản là đủ. Các thao tác trên những dụng cụ thí nghiệm cũng hết sức đơn giản và không cần có hiểu biết kĩ thuật gì đặc biệt. Các em có thể thử nghiệm nhu cầu của cây trồng bằng cách thay đổi các thông số: đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí, bằng cách so sánh và phân tích kết quả thực hiện. Các em sẽ phát hiện ra rằng: chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có những kết luận khác nhau. Và trong quá trình ấy học sinh sẽ đặt ra những câu hỏi thắc mắc như: Tại sao có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần yếu tố đất? Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên nhựa, giấy, vải...? Như vậy trong hạt có gì? Cây trồng có ăn đất không? Tại sao lại bón phân cho cây?... 3.4. Một số đặc điểm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. - Mục tiêu hàng đầu của phương pháp là giúp học sinh tiếp cận dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành, kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt, trong nói và viết. - Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đưa ra một tiến trình ưu tiên cho việc xây dựng tri thức bằng hoạt động, thí nghiệm và thảo luận. - Đó là thực hành khoa học bằng hành động hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm, xây dựng một tập thể tốt và thu được kiến thức cơ bản để hiểu biết thế giới tự nhiên và kĩ thuật. - Phương pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà nghiên cứu khoa học. Các em tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức của bài học thông qua việc tiến hành các thí nghiệm khoa học, trao đổi, thảo luận nhóm dưới sự hướng dẫn của
  10. 12 giáo viên. Học sinh học tập nhờ hành động. Các em học tập tiến bộ dần bằng cách tự nghi vấn. Bạn bè trao đổi, sự cộng tác nhóm dưới hướng dẫn của giáo viên. Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, học sinh được thoải mái đưa ra quan điểm của mình về sự vật, hiện tượng. Đó là những hiểu biết ban đầu của học sinh. Những hiểu biết này có thể đúng hoặc sai, hay chưa đầy đủ, đôi khi là sự ngây thơ, ngờ nghệch nhưng vẫn được tôn trọng, động viên và khích lệ. Khi học sinh đưa ra biểu tượng ban đầu của mình về vấn đề đặt ra, giáo viên không đưa ra lời nhận xét đúng, sai mà để các em tự nhận thấy được trong quá trình kiểm tra giả thuyết. Bằng cách nắm chắc những đặc điểm trên của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Trên thực tế giảng dạy tôi rất quan tâm đến việc học sinh hình thành khái niệm về biểu tượng ban đầu của sự vật, hiện tượng trong hoạt động. Vì biểu tượng ban đầu là điểm xuất phát, là nền tảng mà trên đó kiến thức sẽ được thành lập. Tôi luôn để học sinh trình bày cá nhân và tôn trọng những quan điểm của học sinh dù đúng hay sai. Với những học sinh còn nhút nhát, hạn chế về khả năng nhận thức tôi đến tận nơi khuyến khích, động viên, nêu câu hỏi gợi mở để giúp các em mạng dạn hơn, tự tin đưa ra được biểu tượng ban đầu của mình. Sau khi các em đã đưa ra được biểu tượng ban đầu khác nhau, phù hợp với ý đồ dạy học tôi giúp học sinh phân tích những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa các ý kiến, từ đó tôi hướng dẫn các em đặt câu hỏi cho những sự khác nhau đó. 3.5. Một số nguyên tắc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào quá trình dạy học. “Bàn tay nặn bột” có 10 nguyên tắc nhưng trong quá trình sử dụng phương pháp này tôi đặc biệt chú trọng và luôn tuân thủ theo các nguyên tắc sau: 1. Quan sát: Các em cần được quan sát một số sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ tiến hành thực nghiệm về chúng. Một số hình ảnh học sinh quan sát thực tế. 2. Học: Trong quá trình học tập, các em tự lập luận và đưa ra ý kiến của mình, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và các kết quả
  11. 13 đạt được trên cơ sở xây dựng kiến thức cho mình. Một hoạt động mà dựa trên sách vở là không đủ. 3. Các hoạt động đề ra: Tổ chức các hoạt động theo tiến trình sư phạm trong các giờ học nhằm tạo ra sự tiến bộ dần trong học tập cho học sinh. Các hoạt động này gắn với chương trình và giành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh. 4. Thời gian cho một đề tài: 2 tiết/ tuần có vận dụng phương pháp để tạo cho các em sự thành thạo với cách học. 5. Vở thí nghiêm: Mỗi học sinh có một quyển vở để ghi chép thí nghiệm và các em trình bày trong đó bằng ngôn ngữ của riêng mình. Một số hình ảnh học sinh sử dụng vở thí nghiệm.