Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp tạo hứng thú, phát triển tính tích cực học Tiếng Anh cho học sinh Khối 3, trường Tiểu học Phạm Hùng
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp tạo hứng thú, phát triển tính tích cực học Tiếng Anh cho học sinh Khối 3, trường Tiểu học Phạm Hùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_tao_hung_thu_phat_tri.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp tạo hứng thú, phát triển tính tích cực học Tiếng Anh cho học sinh Khối 3, trường Tiểu học Phạm Hùng
- 3 5.3. Phương pháp trao đổi, thảo luận: Sau khi dự giờ đồng nghiệp, đồng nghiệp dự giờ người thực hiện sáng kiến, đồng nghiệp và người thực hiện sáng kiến tiến hành trao đổi, thảo luận để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho tiết dạy. 5.4. Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên tiến hành thực nghiệm theo từng mục đích, yêu cầu cụ thể một số tiết dạy. 5.5. Phương pháp nêu gương: Thường xuyên động viên, khuyến khích học sinh mỗi khi học sinh thực hành đúng theo yêu cầu của bài. Đồng thời nêu gương những học sinh tích cực, có sự tiến bộ hoặc mạnh dạn phát biểu, tham gia các hoạt động trong tiết học trước tập thể lớp để các em có động lực, hứng thú hơn trong học tập. 5.6. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tham khảo một số tài liệu giảng dạy môn Tiếng Anh. Chương trình sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng Anh 3 Global success. Đúc kết kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy trong thời gian qua. Kết quả chất lượng môn Tiếng Anh của trường. Nắm tình hình học sinh qua quá trình giảng dạy. Trao đổi, rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp các trường trong và ngoài huyện. Tham gia các lớp bồi dưỡng cho giáo viên Tiếng Anh ở bậc Tiểu học do Sở giáo dục, Phòng giáo dục tổ chức. Điều tra, so sánh, đối chiếu kết quả học tập của học sinh. Phương pháp thống kê toán học. Phương pháp khảo nghiệm, thực nghiệm.
- 4 II. NỘI DUNG *** 1. Cơ sở lý luận: 1.1. Các văn bản chỉ đạo trung ương, địa phương, của ngành liên quan đến nội dung sáng kiến. Ngoại ngữ nói chung, Tiếng Anh nói riêng là công cụ đắc lực cho quá trình hội nhập. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã và đang không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thông qua việc đổi mới toàn diện. Để đáp ứng cho việc đổi mới này và thực hiện đúng ý nghĩa mà đề án đổi mới dạy học ngoại ngữ của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra đòi hỏi mỗi giáo viên cần có sự đổi mới trong cách dạy của chính mình. Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”. 1.2. Các quan niệm khác về giáo dục: Qua quá trình thực hành giao tiếp Tiếng Anh dưới bốn hình thức nghe, nói, đọc, viết, học sinh Tiểu học bắt đầu hình thành và phát triển khả năng nhận biết và tư duy ngôn ngữ. Ngoài ra, việc học Tiếng Anh còn giúp học sinh hình thành năng lực diễn đạt ý tưởng cá nhân một cách tự tin, độc lập và sáng tạo, có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện tính kiên trì và ghi nhớ từ, các thao tác tư duy cần thiết cho việc tiếp cận và hình thành một ngôn ngữ mới.
- 5 Như vậy, việc người giáo viên truyền đạt kiến thức một cách rập khuôn, máy móc, học sinh học tập một cách thụ động có còn phù hợp nữa hay không? Tất nhiên, ở một góc độ nào đó nó đã không còn phù hợp nữa. Thay vào đó, giáo viên cần phải gây hứng thú học tập cho các em bằng cách lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập. 2. Cơ sở thực tiễn: 2.1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu: Bản thân luôn nhận được sự hỗ trợ từ đồng nghiệp, luôn cố gắng học tập về chuyên môn. Đa số các em học sinh đều yêu thích môn Tiếng Anh và chuẩn bị tốt sách vở, đồ dùng học tập. Phần lớn phụ huynh đều quan tâm và tạo điều kiện để con em mình học tập. Chương trình học thú vị nhiều chủ đề lôi cuốn gần gũi với cuộc sống của các em. Song song đó, chúng ta có thể nhận thấy được, việc sử dụng Tiếng Anh của trẻ em vẫn còn nhiều hạn chế như các em còn khá nhút nhát, lạ lẫm trong phân môn Tiếng Anh Tiểu học. Đối với bộ giáo trình sách giáo khoa Tiếng Anh ở bậc Tiểu học, nội dung kiến thức, mẫu câu và từ vựng tương đối nhiều vì thế đòi hỏi mỗi người giáo viên Tiếng Anh Tiểu học phải làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học hiệu quả nhất, nhằm tăng cường khả năng tiếp thu, thực hành cho học sinh. Về phía học sinh, đa số các em còn ham chơi nên lơ là trong việc học Tiếng Anh. Về phía phụ huynh học sinh, đa phần là những người lao động chân tay, trình độ học vấn còn khá thấp nên cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở nhà. Do vậy, nhiều học sinh đâm ra chán học và bỏ quên.
- 6 Vào đầu năm học, sau vài tiết học đầu tiên, tôi cho học sinh làm một số bài tập để kiểm tra kiến thức cho học sinh, đa số các em còn nhầm lẫn hoặc quên những kiến thức mà mình đã học, một số học sinh có thể nhớ được những kiến thức trọng tâm, nhưng khi vận dụng vào những bài tập khó thì vẫn còn sai sót. Qua kiểm tra, khảo sát Tiếng Anh đầu năm học 2022 – 2023, tôi thu được kết quả như sau: Lớp Tổng Yêu thích môn Tiếng Anh Chưa yêu thích môn Tiếng Anh số Số lượng % Số lượng % 3A 35 18 51,4% 17 48,6% 3B 38 20 52,6% 18 47,4% 3C 38 19 50,0% 19 50,0% 3D 36 19 52,8% 17 47,2% Tổng 147 76 51,7% 71 48,3% 2.2. Sự cần thiết của sáng kiến: Trong quá trình giảng dạy cho học sinh khối 3 tại trường Tiểu học Phạm Hùng, tôi đã quan sát và nhận thấy đa phần các em đều rất thích học Tiếng Anh. Tuy nhiên, có những tiết học có quá nhiều từ khó hay là mẫu câu quá dài, thì sự không tập trung của các em dần bắt đầu xuất hiện, các em cảm thấy sợ khi giáo viên gọi tên, không tự tin vì sợ nói sai, chính vì thế mà sự say sưa và hứng thú học tập của các em dần mất đi. Từ đó, việc học Tiếng Anh đối với các em luôn gặp khó khăn, các em thực sự bị áp lực dẫn đến sự yêu thích học Tiếng Anh của các em không còn như lúc đầu. Điều này chính là nguyên nhân dẫn đến các em không còn đam mê học Tiếng Anh nữa.
- 7 Bên cạnh đó, đa số phụ huynh là công nhân hoặc buôn bán nên không có nhiều thời gian ở nhà để giúp đỡ các em trong việc học mà hoàn toàn nhờ vào giáo viên. Một số phụ huynh chỉ chú trọng vào các môn Toán, Tiếng Việt. Cũng có những phụ huynh chưa đủ kiến thức để giúp con em trong việc luyện các kĩ năng Tiếng Anh. Hay còn một bộ phận phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con mình mà chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng của các em. Do đó, tôi đã mạnh dạn thực hiện sáng kiến “Một số giải pháp tạo hứng thú, phát triển tính tích cực học Tiếng Anh cho học sinh khối 3, trường Tiểu học Phạm Hùng”. 3. Nội dung vấn đề: 3.1. Vấn đề đặt ra: Ngày nay, ngành giáo dục luôn tạo điều kiện cho giáo viên không ngừng tiếp cận với các phương pháp giảng dạy mới nhằm nâng cao năng lực giảng dạy từ đó giáo viên có thể cập nhật và đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh khi tiếp thu kiến thức. 3.2. Biện pháp thực hiện: Từ thực tế nói trên, tôi đưa ra một số giải pháp tạo hứng thú, phát triển tính tích cực học Tiếng Anh cho học sinh nhằm giúp cho việc dạy và học đạt hiệu quả. Các giải pháp trong sáng kiến này cũng đã được đề cập nhiều trong các tài liệu hướng dẫn giảng dạy ở bộ môn Tiếng Anh. Tuy nhiên, để áp dụng vào thực tế cho phù hợp, sinh động và hiệu quả cao thì còn tùy thuộc vào phương tiện giảng dạy của từng tiết học và sự linh hoạt của giáo viên để biến mỗi hoạt động trở thành trò chơi lí thú, dễ lôi cuốn học sinh, gây cho các em sự hứng thú học tập, đồng thời phải biết kết hợp các giải pháp đó một cách khoa học để mang lại hiệu quả cao trong quá trình học Tiếng Anh. Đối với các tiết dạy truyền thống thì giáo viên cần
- 8 chuẩn bị nhiều hơn bằng các dụng cụ trực quan như bảng phụ, vật thật, hình ảnh, mô hình,... Khi dạy cho học sinh Tiểu học chúng ta cần đảm bảo nguyên tắc: Học mà chơi – chơi mà học. Để tạo cho học sinh cảm giác thoải mái, nhẹ nhàng, giáo viên cố gắng rút ngắn khoảng cách giữa thầy và trò, xóa bớt mặc cảm tâm lí “sợ cô, thầy”, thầy, cô và trò cùng học cùng vui chơi như những người bạn. Để giải quyết vấn đề này, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp sau: - Lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình giảng dạy. - Phát huy các hoạt động thảo luận nhóm, cặp. - Sử dụng hiệu quả âm nhạc, bài hát hoặc bài chant vào tiết học. - Tạo hứng thú cho học sinh thông qua sử dụng các đồ dùng trực quan. - Phát triển tính tích cực của học sinh thông qua việc sử dụng các trò chơi trong giảng dạy. - Xây dựng lòng say mê với Tiếng Anh của học sinh qua hoạt động ngoại khóa. Các giải pháp này được tôi áp dụng vào các tiết học Tiếng Anh của học sinh khối 3, trường Tiểu học Phạm Hùng. 3.2.1. Lấy học sinh làm trung tâm trong quá trình giảng dạy: Phương pháp “lấy người học làm trung tâm” đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển. Với phương pháp này, người học sẽ là người tự khai thác tri thức, thầy cô giáo chỉ là người hướng dẫn và cung cấp thông tin. Những vấn đề, những thắc mắc phát sinh trong quá trình học, cũng phải tự tìm hiểu. Thầy cô giáo chỉ đóng vai trò làm trọng tài, làm cố vấn.
- 9 Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ phải chủ động hơn, tích cực hơn, tự giác hơn trong việc tham gia vào việc học, vận dụng cũng như học hỏi kiến thức mới. Mỗi học sinh sẽ phải tự tìm ra phương pháp học tối ưu cho mình, phải độc lập sử dụng các tài liệu được thầy cô giáo gợi ý, chuẩn bị bài vở, từ đó tính tích cực, độc lập và sáng tạo ngày một phát huy. 3.2.2. Phát huy các hoạt động thảo luận nhóm, cặp: Trong các tiết học, việc tổ chức các hoạt động theo cặp để học sinh tự do trao đổi chủ đề mà giáo viên đưa ra nên được áp dụng thường xuyên. Vì đây là lúc những học sinh còn nhút nhát, rụt rè, không dám phát biểu trước lớp có cơ hội thực hành ngôn ngữ với bạn cùng nhóm với mình. Các bạn học sinh lớp 3B tích cực làm việc theo cặp Qua đó, giúp các em phát huy sở trường của mình, những học sinh nhút nhát dần tự tin hơn trong giao tiếp. Với hình thức này, giáo viên là người quan sát, động viên các em hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời, đánh giá, bổ sung và cung cấp kiến thức khi học sinh chưa nắm vững. Ví dụ: Unit 5: My hobbies: Lesson 2: 1, 2, 3 (sách Tiếng Anh 3 Global success)
- 10 What’s your hobby? It’s / I like Sau khi học xong những kiến thức chính của bài, giáo viên có thể cho học sinh rèn luyện kĩ năng nói như làm việc theo nhóm 4 hoặc 6 bạn để thực hành mẫu câu hỏi về sở thích của bạn mình. Qua đó, học sinh có thể ôn lại các từ vựng liên quan đến chủ đề đã học (my hobbies) và thực hành mẫu câu với các bạn cùng nhóm. Các nhóm sẽ thực hành trước lớp hoặc sẽ thực hành với bất kì bạn nào trong lớp tùy theo từng đối tượng học sinh. Sau đó, các bạn còn lại sẽ lắng nghe và nhận xét phần trình bày. 3.2.3. Sử dụng hiệu quả âm nhạc, bài hát, bài chant vào tiết học: a. Sử dụng hiệu quả âm nhạc và bài hát vào tiết học. Sử dụng âm nhạc là một giải pháp hiệu quả để giúp quá trình học Tiếng Anh trở nên vui vẻ và đầy hào hứng. Âm nhạc có thể thay đổi bầu không khí trong lớp học nhanh chóng, học sinh có thể thực hành kiến thức một cách tích cực, tự nhiên hơn thông qua các giai điệu bài hát. Bên cạnh đó, các em có thể nhớ bài học, nhấn trọng âm tốt hơn, góp phần củng cố và nâng cao vốn từ vựng, mẫu câu và các kỹ năng nghe, nói, phát âm. Trong mỗi đơn vị bài học đều có những hoạt động Let’s sing phù hợp với chủ đề của bài. Thay vì cho các em nghe nhạc và hát theo vài lần một cách nhàm chán. Tôi thường cho các em nghe nhiều lần kết hợp với một vài bài tập nhỏ qua
- 11 bài hát để các em củng cố lại từ hoặc câu mà các em vừa mới học. Chúng ta có thể linh hoạt thay đổi các yêu cầu ở mỗi bài hát nhằm tạo hứng thú, sự tò mò, ham học hỏi ở các em. Ví dụ: Unit 4: Our bodies: Lesson 1: 4, 5, 6 (Tiếng Anh 3 Global success) Sau vài lần các em được nghe để làm quen với giai điệu bài hát. Kế tiếp là hát theo để nhớ lời bài hát. Tôi bắt đầu cho các em thực hành hát và chỉ vào các bộ cơ thể theo lời bài hát. Sau đó, tôi sẽ che các từ vựng chính của bài lại (như an eye, an ear, a face, a hand). Học sinh vẫn sẽ hát và chỉ vào bộ phận cơ thể (mặc dù không nhìn thấy từ). Nếu còn thời gian, tôi sẽ cho các bé nghe và điền từ vào chỗ trống với mục đích là củng cố và kiểm tra từ vựng của học sinh. Parts of the body What’s this? It’s _____. What’s this? It’s _____. _____ and _____ What’s that? It’s _____. What’s that? It’s ______. _____ and _____ Ngoài ra, tôi thường tìm bài hát phù hợp với chủ đề của tiết dạy cần thiết để cho các em nghe. Ngoài mục đích muốn tạo cơ hội cho các em luyện nghe, phát triển thêm vốn từ vựng, tôi còn muốn sử dụng bài hát để dẫn vào tiết dạy mới nhằm tạo sự hứng thú cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy tiết tiếp theo của bài học trên: Unit 4: Our bodies: Lesson 2: 1, 2, 3 (Tiếng Anh 3 Global success)
- 12 Sau khi củng cố lại kiến thức đã học ở bài trước. Tôi chỉ vào từng bộ phận cơ thể và nêu lên những từ mới (về chủ đề “Our bodies”) sẽ xuất hiện trong bài hát như head, shoulders, knees, toes. Sau đó, các em sẽ xem video bài hát “Head, shoulders, knees and toes”, thực hành hát (nếu có thể) và chỉ vào bộ phận cơ thể phù hợp. b. Sử dụng hiệu quả bài chant vào tiết học. Chant là bài đọc nhịp, giống như đọc thơ, đọc các bài vè có ngữ điệu, có phách. Như vậy khi nói học sinh sẽ giữ được bản chất tự nhiên vốn có của ngôn ngữ. Khi cho học sinh thực hành với bài chant, giáo viên nên cho các em vỗ tay theo nhịp nhằm giúp các em đọc dễ dàng hơn. Ví dụ: Unit 11: My family: Lesson 3: 1, 2, 3 (Tiếng Anh 3 Global success) - Trong bài này, học sinh vừa thực hành âm “o” và âm “ure”, đồng thời ôn tập mẫu câu “How old is he/ she? – He’s/ She’s ” - Khi dạy, giáo viên có thể sử dụng tranh trong bài chant cho học sinh thực hành hỏi – đáp bằng mẫu câu với mục đích thực hành phát âm âm các em đã học, đồng thời thực hành mẫu câu. Sau khi cho các em đọc bài chant cùng với nhạc vài lần, giáo viên có thể chia nhóm ra đọc. Trong bài này có thể chia thành 2 nhóm (nhóm A sẽ đọc các dòng 1, 3, 4, 5, 7, 8; nhóm B sẽ đọc các dòng 2, 6 và ngược lại). Sau đó, giáo viên có thể thay đổi từ “brother”, “sister” bằng từ vựng về những thành viên khác trong gia đình; thay đổi từ “sixteen”, “fifteen” bằng số khác cho học sinh vận dụng rộng rãi hơn. 3.2.4. Tạo hứng thú cho học sinh thông qua sử dụng các đồ dùng trực quan. Như chúng ta đã biết, học sinh Tiểu học dễ tiếp thu kiến thức qua các đồ dùng trực quan, sinh động. Theo quan điểm của tôi, tất cả các phương tiện dạy học
- 13 như audio, CD player, ti vi, smartboard và các phương tiện trực quan như tranh, ảnh, đồ vật thật,... đều có thể gây hứng thú, phát triển tính tích cực cho học sinh trong học tập. Ví dụ: Unit 8: My school things: Lesson 1: 1, 2, 3 (Tiếng Anh 3 Global success). - Để giới thiệu từ mới giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật có thật ở trong lớp và nói: I have a pen. I have a book. I have a ruler. I have a school bag. - Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của từ. Đôi lúc giáo viên còn có thể cho học sinh làm quen với cấu trúc (I have ) thông qua việc giới thiệu từ ngay từ đầu tiết học. Phương pháp này tạo cho các em hứng thú học tập, sự tập trung cao vì các từ mà giáo viên giới thiệu là những đồ vật rất gần gũi và dễ đoán nghĩa đối với các em. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có sẵn đồ vật thật ở trường nên giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh để thay thế. Ví dụ: Unit 6: Our school: Lesson 1: 1, 2, 3 (Tiếng Anh 3 Global success). - Khi dạy các từ: school, classroom, library, playground. - Giáo viên có thể trình chiếu các bức tranh hoặc đính các bức tranh nói về các từ hoặc chủ đề cần học và treo lên bảng nhằm tạo sự chú ý của học sinh vào bài học.

