Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Lớp Mẫu giáo 3- 4 tuổi
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Lớp Mẫu giáo 3- 4 tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_phat_trien_kha_nang_g.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Lớp Mẫu giáo 3- 4 tuổi
- năng biết bảo vệ bản thân, thân thiện với bạn bè, lễ phép với người lớn, hình thành các chuẩn mực của đạo đức. Tất cả những gì đã trình bày ở trên chính là lý do mà tôi quyết định chọn Sáng kiến “Một số giải pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi”. 1.2. Mục đích nghiên cứu: Với mục tiêu chung là "lấy trẻ làm trung tâm" nên việc trẻ phát triển khả năng giao tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 - 4 tuổi là một trong những nhiệm vụ cần thiết giúp trẻ phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của trẻ, giúp trẻ hứng thú trong các hoạt động học tập, giao tiếp, ứng xử phù hợp với tình huống, góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Giáo dục trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm. Đưa ra những phương pháp nghiên cứu và những vấn đề, lý luận về việc phát triển khả năng giao tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường Mầm Non. Nhằm tìm ra những biện pháp giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng cho việc phát triển khả năng giao tiếp của mình thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường Mầm Non. Nêu lên những kết quả thực hiện được khi ứng dụng đề tài. Có những kiến nghị lên các cấp có thẩm quyền để nâng cao chất lượng cho tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ 3 - 4 tuổi tại trường Mầm Non. Sau khi đọc đề tài này tôi đã có phương pháp và biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ 3 - 4 tuổi để nâng cao kết quả đạt được trên trẻ. 1.3. Nhiệm vụ của sáng kiến Hướng dần cho trẻ một số kinh nghiệm cần thiết để tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ. Qua rèn kỹ năng sống của trẻ giúp trẻ giao tiếp tự tin, lễ phép, hiểu sâu rộng hơn về sự vật, hiện tượng thiên nhiên quanh bé. Tìm ra những ưu điểm, tồn tại của trẻ khi giao tiếp với mọi người để uốn nắn kịp thời nhằm nâng cao phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi . Đánh giá kết quả khi tiến hành thực nghiệm so với lớp đối chứng. 3
- Thực nghiệm hình thành. Để từ đó làm sáng tỏ hiệu quả các biện pháp đã đề ra. 2.4. Phương pháp nghiên cứu. * Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, thu thập những vấn đề đã được đúc kết về cơ sở của vấn đề . Phân tích tổng hợp để rút ra những tri thức lý luận cần thiết cho đề tài. * Phương pháp quan sát. Quan sát việc giao tiếp với trẻ mẫu giáo của giáo viên. Quan sát trẻ hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi. * Phương pháp trò chuyện. * Phương pháp tổng kết, đúc rút kinh nghiệm. 2.5. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu biện pháp phát triển khả năng giao tiếp có văn hóa thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo 3- 4 tuổi * Khách thể nghiên cứu. Nghiên cứu trẻ 3 - 4 tuổi. * Phạm vi nghiên cứu Trẻ 3 - 4 tuổi 2. NỘI DUNG. 2.1. Cơ sở lý luận. 2.2. Thực trạng: 2.2.1.Thuận lợi: Được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường tạo điều kiện cho Tôi tham gia dự giờ thao giảng ở các lớp trong trường. Giáo viên trẻ tuổi, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ. Và bản thân Tôi được giao nhiệm vụ là giáo viên chủ nhiệm lớp. 4
- Trường tổ chức lớp học bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, giúp đỡ cho giáo viên nắm vững về kiến thức chuyên môn. Trường còn tạo điều kiện cho tôi giao lưu các chuyên đề cùng với trường bạn. Lớp học nằm ở trung tâm, địa bàn rộng rãi, thoáng mát. Học sinh hầu hết là người kinh. Phụ huynh thường xuyên quan tâm trao đổi việc học tập của con em mình với cô giáo. Thực hiện chương trình giáo dục Mầm non mới nên giáo viên chủ động lựa chọn đề tài phù hợp với lớp đang trực tiếp giảng dạy. 2.2.2. Khó khăn: - Năm học vừa qua, tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo nhỡ gồm: 25 cháu. Trong đó các cháu chưa được học qua lớp nhà trẻ, chưa được học qua chương trình giáo dục mầm non nên các cháu còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, còn nhút nhát, nói chưa sõi còn ngọng nhiều... - Trên thực tế hiện trạng giao tiếp của trẻ mầm non những năm gần đây chưa thực sự được tốt, có chiều hướng xuống cấp, biểu hiện: - Trẻ không chào khách khi có khách đến thăm. - Trẻ thiếu tự tin trong giao tiếp, không dám nhìn thẳng vào người đối diện để hỏi và trả lời câu hỏi. - Trẻ trao đổi to, quát thẳng vào mặt bạn, thậm chí đánh nhau khi không thỏa thuận được với bạn. Không biết rủ bạn cùng chơi, không thích chơi cùng bạn. Xưng hô với bạn và người lớn chưa phù hợp. - Trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp với ông bà, bố mẹ và mọi người xung quanh. Qua tìm hiểu cho thấy nguyên nhân của những hiện trạng trên là do: - Ảnh hưởng của môi trường giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội: Trẻ chứng kiến những mâu thuẫn, các hành xử của những người trong gia đình và những người xung quanh - Sự ít tiếp xúc và gần gũi của những người thân trong gia đình và kể cả cô giáo trong trường mầm non. - Do gia đình quá nuông chiều trẻ. Cha, mẹ chưa biết cách giáo dục trẻ. - Từ chính bản tính của trẻ. Có khi trẻ bị bắt phải phản ứng thiếu tế nhị vì phải bảo vệ bản thân. 5
- - Một phần là vì một số giáo viên trong trường mầm non chưa thật sự quan tâm và làm gương cho trẻ cũng như chưa chú trọng đến việc giáo dục trẻ kỹ năng giao tiếp có văn hoá. - Do sự trao đổi, cách xưng hô của các thành viên trong gia đình và nhà trường chưa hay: Còn xưng hô “Mày, tao”, “Bà này, bà nọ”, có khi còn cãi nhau trước mặt trẻ Trước khi nghiên cứu đề tài này tôi đã khảo sát trẻ đầu năm học tại lớp tôi chủ nhiệm nhận thấy một số khó khăn vướng mắc trong khi rèn luyện kỹ năng giao tiếp có văn hoá cho trẻ như sau: Trẻ chưa mạnh dạn, tự tin giao tiếp trong các hoạt động với người thân và với người lạ. Trẻ bị ảnh hưởng của môi trường giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội: Trẻ chứng kiến những mâu thuẫn, cách ứng xử của người thân trong gia đình và những người xung quanh. Một số trẻ ít tiếp xúc và gần gũi với người thân trong gia đình và kể cả cô giáo trong trường mầm non. Về phía các bậc cha mẹ trẻ luôn nóng vội trong việc dạy con. Do đó khi trẻ về nhà mà chưa biết đọc, viết chữ, hoặc chưa biết làm toán thì lo lắng một cách thái quá. Đồng thời lại chiều chuộng con cái khiến trẻ không có kỹ năng giao tiếp có văn hóa. Từ thực trạng trên tôi khảo sát thực tế đầu năm học về khả năng giao tiếp có văn hóa trên 25 cháu lớp tôi phụ trách như sau: Nội dung Tỷ lệ Trẻ biết chào hỏi lễ phép. 50% Trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp. 47% Giao tiếp lễ phép với người lớn, thân mật với bạn bè, em 50% nhỏ. Thói quen cư xử nói năng lịch sự và đúng mực. 55% Trẻ biết tôn trọng ý kiến của người khác và biết lắng 47% nghe khi người khác nói. Trẻ nói thành câu hoàn chỉnh, không nói trống không. 41% Trẻ diễn đạt gắn với tình huống giao tiếp phù hợp. 56% Từ những vấn đề trên, việc tìm ra giải pháp tốt nhất để phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi một cách chính xác, bền 6
- vững khắc phục những khó khăn của địa phương, phát huy tính tích cực chủ động của trẻ là thiết thực, là cấp bách và cũng là quan trọng trong thực tế hiện nay. 2.3. Các biện pháp Để có một môi trường văn hóa học đường lành mạnh chúng ta cần phải kết hợp cả 3 phía: Gia đình - Nhà trường và xã hội. Trong đó cô giáo mầm non đóng vai trò hết sức quan trọng, là tấm gương cho trẻ noi theo. Hơn thế nữa, chúng ta cần phải biết giáo dục hành vi trong giao tiếp cho trẻ thường xuyên được lặp lại và liên tục thì trẻ mới khắc sâu, hình thành thói quen tốt cho trẻ. Chính vì vậy mà trong quá trình giao tiếp với những người xung quanh như: bạn đồng nghiệp, phụ huynh, trẻ Cô giáo cần phải khéo léo. Sự khéo léo, ứng xử của người thầy - Nhà sư phạm trong giao tiếp là điều cần thiết để xây dựng các mối quan hệ giáo dục và giảng dạy tốt. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo dựng môi trường sư phạm lành mạnh có tác động tích cực tới trẻ. Qua nghiên cứu để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ tôi đã thực hiện một số biện pháp cụ thể như sau: 2.3.1. Biện pháp 1: Giáo viên luôn gương mẫu, chuẩn mực trong giao tiếp Giáo viên mầm non là người mẹ thứ hai của trẻ. Việc làm và hành vi của giáo viên tác động trực tiếp đến nhận thức của trẻ. Trẻ bắt chước theo từng lời nói, hành động của cô giáo nên khi nói và làm người giáo viên phải hết sức chú ý để tránh làm gương xấu cho trẻ. Tất cả những gì trẻ thấy sẽ được tái hiện lại qua lời nói cũng như hành động của trẻ. Việc làm tốt cũng như gương sáng của giáo viên sẽ để lại những dấu ấn đầu tiên trên đường đời của trẻ. Không chỉ đối với trẻ mà còn thể hiện qua giao tiếp với đồng nghiệp, với phụ huynh thì tác phong và lời nói, cử chỉ của người giáo viên cũng làm trẻ bắt chước. Ví dụ: Giáo viên yêu thương, chăm sóc trẻ tốt, lời nói dịu dàng thì trẻ cũng sẽ học và tái hiện lại hành động yêu thương, chăm sóc đối với người thân của trẻ. Ngược lại, nếu giáo viên ngôn phong không chuẩn, những thái độ, hành vi nóng nảy, lời nói bất nhã trong giao tiếp với những người xung quanh thì trẻ cũng sẽ học và áp dụng những lời nói tiêu cực ấy. 7
- Vì vậy giáo viên cần luôn gương mẫu, chuẩn mực trong lúc giao tiếp. Khi giao tiếp luôn niềm nở, lịch thiệp, khi đến trường chào hỏi đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, có cách xưng hô phù hợp với mọi người. Đối với trẻ không to tiếng quát tháo, xưng hô dịu dàng bằng cô và con, khi giao tiếp với trẻ luôn tôn trọng lời nói của trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ. Giờ đón trả trẻ luôn ân cần dịu dàng thương yêu trẻ, khiêm tốn lịch sự trong giao tiếp với phụ huynh. Do đó gương sáng của giáo viên ảnh hưởng không nhỏ trong việc hình thành thói quen nơi trẻ nên mỗi giáo viên cần quan tâm đến việc rèn luyện bản thân để cô giáo thực sự là tấm gương sáng cho trẻ noi theo. Đối với lứa tuổi mầm non còn trong giai đoạn hình thành nhân cách. Vì vậy, muốn hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi giao tiếp có văn hóa, đòi hỏi giáo viên phải thật kiên nhẫn mới rèn được cho trẻ như Bác Hồ đã dạy giáo viên mầm non chúng ta: “Làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn làm được thế thì trước hết phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng giống như trồng cây non. Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt. Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành người tốt. Công tác giáo viên và mẫu giáo có khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích là đào tạo những người công dân tốt, cán bộ tốt cho Đất nước. Điều trước tiên là dạy các cháu về đạo đức. Giáo viên mầm non cần luôn luôn gương mẫu về đạo đức để các cháu noi theo”. 2.3.2. Biện pháp 2: Giáo viên luôn là người bạn thân của trẻ Để hình thành thói quen giao tiếp có văn hóa cho trẻ người giáo viên còn phải là người bạn đáng tin cậy của trẻ, giúp trẻ trải lòng ra mà bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc, qua đó giáo viên có thể điều chỉnh những biện pháp giáo dục cho phù hợp. Ví dụ: Khi tôi tạo được sự gần gũi với trẻ, trẻ kể với tôi rằng: “Cô ơi! Cạnh nhà con có một bạn ở bẩn lắm, vì nhà bạn đó nghèo không có tiền mua quần áo mặc, nên bạn mặc mãi một hai bộ thôi. Bạn hôi quá nên mỗi lần qua nhà con chơi là con lại đuổi bạn ấy về”. Nghe vậy tôi đã giải thích cho trẻ hiểu: “Bạn ấy chỉ vì nhà nghèo nên mới thế, nếu con cũng ở hoàn cảnh như bạn và bị bạn bè xua đuổi thì con sẽ cảm thấy như thế nào? Sẽ buồn và tủi thân. Bởi vậy, từ nay con đừng đuổi bạn nữa nhé. Nếu con có quần áo cũ nào đó mà con không mặc nữa con hãy xin phép bố mẹ đem tặng bạn để bạn có 8
- thêm những bộ đồ thay đổi hàng ngày. Như vậy bạn sẽ rất vui và biết ơn con và ngược lại con có thêm một người bạn mới và con đã làm được một việc tốt”. Đó chính là hiệu quả của việc gần gũi trẻ đúng lúc, đúng chỗ và hình thành cho trẻ thói quen tốt. Vì thế tạo mối quan hệ tốt với trẻ là một điều rất quan trọng trong việc giáo dục văn hóa giao tiếp cho trẻ, hình thành những bài học đạo đức văn hoá đầu đời cho trẻ. Cô luôn gần gũi trẻ, tạo cho trẻ niềm tin tưởng để chia sẻ niềm vui nỗi buồn. Cô giáo phải đặt mình vào vị trí hoàn cảnh của trẻ để tiếp xúc, để cùng rung cảm, cùng suy nghĩ với trẻ. Biết sống trong niềm vui nỗi buồn của trẻ; phải yêu thương và đồng cảm với trẻ. Ứng xử khéo léo trong các tình huống giao tiếp cụ thể đối với trẻ. Luôn quan tâm tới trẻ, biết mỉm cười khi tiếp xúc với trẻ. Giọng nói của cô biểu hiện một thái độ thiện cảm, nhẹ nhàng, dịu hiền, ôn tồn ngay cả lúc kiên quyết, dứt khoát. Sau mỗi lần tiếp xúc nên tạo cho trẻ những niềm vui mới, không nên gây căng thẳng trong tâm trí trẻ. Luôn tạo cho trẻ một cảm giác an toàn, dễ chịu trong suốt quá trình giao tiếp. Nếu phải nghe một trẻ tâm sự, hãy cố gắng khuyến khích để trẻ nói hết tâm tư nguyện vọng của mình. Cô thường xuyên trò chuyện với trẻ về những mong muốn của trẻ qua đó giáo dục trẻ thói quen giao tiếp có văn hoá. Giáo viên nói chuyện với trẻ một cách tự nhiên và cởi mở về những mong muốn của trẻ. Bên cạnh đó đặt ra những giới hạn và hướng trẻ tin rằng việc tuân theo các giới hạn đó là tốt cho bản thân trẻ. Tuy nhiên tôi không làm điều đó một cách áp đặt, tôi luôn để trẻ nghĩ rằng: Cô giáo là một người bạn lớn, đáng tin cậy của trẻ. Trẻ mầm non rất thích đươc khen ngợi động viên khích lệ, muốn được quan tâm trò chuyện với cô giáo, nên cô cần tranh thủ lựa chọn thời cơ tạo tình huống để giao tiếp với trẻ. Chính vì vậy giáo viên phải là người bạn thân của trẻ, hoà đồng cùng trẻ trong mọi hoạt động, luôn tin tưởng vào trẻ, vỗ về yêu thương tôn trọng trẻ thì khả năng giao tiếp của trẻ sẽ phát triển tốt. 2.3.3. Biện pháp 3: Lồng ghép các nội dung giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi thông qua các hoạt động của trẻ tại trường mầm non Việc lồng ghép các nội dung để phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá cho trẻ vào các hoạt động tại trường mầm non có nhiều ưu thế. Nhằm hình thành cho trẻ những thói quen hành vi giao tiếp có văn hoá (Trẻ biết chào hỏi 9
- lễ phép, nói lời cảm ơn xin lỗi phù hợp với tình huống, biết chú ý nghe cô nghe các bạn nói, biết trao đổi thoả thuận với bạn để cùng thực hiện hoạt động chung ) có thể tích hợp lồng ghép giáo duc trẻ thói quen giao tiếp có văn hoá trong các hoạt động cụ thể như sau: * Trong giờ đón trẻ và trả trẻ Khi phụ huynh đưa đón trẻ, cô chủ động chào phụ huynh, đồng thời nhắc nhở trẻ chào tạm biệt người thân khi chia tay. Trong lúc đón hay trả trẻ cô trò chuyện với trẻ, cô chú ý đặt câu hỏi cho trẻ phải đủ từ đủ ý, làm khuôn mẫu cho câu trả lời của trẻ. Khi trẻ trả lời cô giáo dục trẻ nói cho đủ câu, biết lễ phép thưa gửi trước khi nói với người lớn. * Trong giờ hoạt động học có chủ đích Trong các giờ hoạt động học, giáo viên luôn là người tạo cơ hội, quan tâm tới từng cá nhân trẻ, tích cực cho trẻ phát biểu ý kiến, đặt ra nhiều câu hỏi, tạo ra nhiều tình huống để trẻ giao tiếp. Mỗi trẻ khi đến trường đều thích được học, được vui chơi. Trong các hoạt động của trẻ ở trường thì hoạt động có chủ đích giữ vai trò quan trọng, bởi vì thông qua giờ học của trẻ tại lớp người giáo viên phải bao quát và quan sát trẻ, ghi nhận lại những hành vi giao tiếp của trẻ, những thái độ của trẻ đối với môi trường xung quanh, với bạn bè, cô giáo trong lớp. Trong giờ học cô giáo dạy trẻ, cung cấp kiến thức cho trẻ biết sau đó cô trò chuyện, đàm thoại, đặt hệ thống các câu hỏi nhằm giúp trẻ phát huy khả năng tư duy, sáng tạo và đặc biệt là thông qua hoạt động học giáo viên ghi nhận lại khả năng giao tiếp của trẻ. Tìm hiểu xem trẻ có biết thể hiện những lời nói có văn hóa hay những hành vi ứng xử có văn hóa thông qua giờ học hay không. Cách trả lời của trẻ có biết dạ thưa hay nói chống không, nói leo khi cô hỏi hay không. Từ đó cô có biện pháp uốn nắn trẻ kịp thời. Với trẻ mẫu giáo thì những lời thơ, câu hát, truyện kể được xem như chiếc nôi thứ hai của trẻ. Trẻ đi vào thế giới của cảm xúc, ước mơ, thế giới thần tiên. Chính thế giới ấy sẽ hình thành ở trẻ những cảm xúc tình cảm thật dạt dào. Trẻ vui buồn với những nhân vật trong lời thơ, truyện kể và học hỏi rất nhiều từ những hành động, lời nói giao tiếp văn hóa của các nhân vật ấy. Giúp trẻ phân biệt được các hành vi đúng sai, tốt xấu từ những nhân vật trong tác phẩm. 10
- Chính những hành vi của các nhân vật sẽ ghi dấu ấn trong tâm hồn trẻ, trẻ sẽ sống mãi với nhân vật của mình. Qua đó giúp trẻ nhớ và hình thành những điều hay, lẽ phải. Ví dụ: Trong hoạt động văn học, qua dạy bài thơ “Em lên bốn”, cô đàm thoại cùng trẻ: Bạn nhỏ trong bài thơ làm được những điều gì khi lên bốn? Con đã làm được những gì? Tại sao con phải làm như vậy? Qua đó giáo dục trẻ biết vâng lời ông bà bố mẹ, không khóc nhè, không vòi quấy bố mẹ. Không gì hay hơn những câu chuyện, lời thơ, bài hát. Trẻ sẽ được khắc ghi rất sâu và rất khó quên. Ví dụ: Khi giáo dục trẻ thói quen chào hỏi khi đi học về. Nếu dạy trẻ, con phải thế này hay thế nọ thì trẻ sẽ rất khó nhớ và thậm chí không thực hiện. Nhưng khi tôi dạy trẻ bài hát “Mẹ yêu không nào” thông qua những hình ảnh rất gần gũi với tuổi thơ là chú cò dễ thương để qua đó dạy trẻ bài học khi đi bé biết xin phép, khi về bé biết chào, điều đó khiến mẹ vui thêm yêu bé nhiều hơn và bài học đó trẻ sẽ dễ nhớ hơn, thực hiện hiệu quả hơn. Ví dụ: trong hoạt động tạo hình “Vẽ hoa tặng mẹ”, giáo viên trò chuyện với trẻ: Con vẽ hoa tặng ai? Con hãy kể về mẹ của mình? Con làm gì để mẹ vui? Qua đó hình thành cho trẻ biết quan tâm chia sẻ với mọi người trong gia đình, biết tạo ra nhiều niềm vui nho nhỏ cho người thân, đồng thời thúc đẩy cho ngôn ngữ giao tiếp của trẻ phát triển. Như vậy để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp có văn hoá giáo viên có thể lồng ghép tích hợp vào tất cả các hoạt động học có chủ đích của trẻ như hoạt động âm nhạc, hoạt động văn học, hoạt động tạo hình, hoạt động khám phá khoa học – xã hội Trong các giờ hoạt động học có chủ đích cô chú ý rèn những trẻ còn nhút nhát trong giao tiếp và sợ đám đông, cô khuyến khích trẻ lên thể hiện trước lớp. Qua đó vừa rèn cho trẻ tinh thần thi đua trong học tập vừa rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ. Tóm lại trong tất cả các hoạt động học tập rất cần sự mạnh dạn tự tin trong giao tiếp của trẻ, từ đó giúp cho trẻ phát triển tư duy và tự tin học bài. * Trong hoạt động vui chơi Bên cạnh hoạt động học có chủ đích thì hoạt động vui chơi ở các góc luôn giữ một vai trò chủ đạo, vì thông qua hoạt động vui chơi ở các góc, giáo viên biết cần phải cho trẻ chơi cái gì, chơi như thế nào để đem lại kiến thức phục vụ cho hoạt động học. Các kỹ năng: Tư duy, thể chất, tình cảm xã hội và ngôn ngữ của trẻ, cũng như hiểu biết kiến thức về thế giới xung quanh của trẻ 11
- phát triển. Một điều rất quan trọng là thông qua hoạt động góc người giáo viên hướng dẫn trẻ đến với việc giao tiếp giữa các bạn trong góc chơi, giao tiếp như thế nào là có văn hóa (Biết xưng tên, gọi bạn, trao đổi nhẹ nhàng lịch sự với bạn ) Muốn trẻ phát triển tốt thì cô giáo phải là người thể hiện tốt nhiệm vụ của mình, luôn linh động, sáng tạo, giúp trẻ thông qua “Chơi bằng học, học mà chơi”. Chính trong quá trình hoạt động góc tại lớp giáo viên mới quan sát, ghi nhận được những thái độ, hành vi chơi của trẻ, không phải đứa trẻ nào cũng chơi ngoan, chơi tốt và có sự hợp tác với bạn khi chơi. Như vậy đòi hỏi giáo viên cần phải tổ chức hoạt động vui chơi sáng tạo thường xuyên để có thể rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng giao tiếp trong giờ chơi. Ví dụ: Qua góc chơi phân vai với trò chơi bán hàng, cô hướng dẫn gợi mở cho trẻ đóng vai người bán hàng con phải làm những công việc gì? Giao tiếp với khách như thế nào? Mời chào đón khách ra sao? Còn người mua hàng thì làm gì? Khi chủ cửa hàng đưa đồ cho phải nói thế nào?... Khi chơi trẻ được giao tiếp nhiều cách khác nhau, qua đó rèn cho trẻ kỹ năng giao tiếp (Chào hỏi, cảm ơn, thể hiện yêu cầu bằng lời nói). Hay khi trẻ chơi bác sỹ trẻ biết giao tiếp thể hiện sự ân cần giữa bác sỹ và bệnh nhân. Trẻ chơi ở góc xây dựng biết thoả thuận vai chơi, trao đổi công việc của người kỹ sư với công nhân xây dựng Trong khi vui chơi trẻ đươc giao tiếp thoải mái với các bạn. Trẻ được hoá thân vào những người gần gũi xung quanh trẻ như: ông bà, bố mẹ, bác sỹ, công an, người bán hàng Cô luôn gần gũi cởi mở với trẻ uốn nắn cho trẻ từng câu nói, cử chỉ. Như vậy trò chơi là một hình thức giao tiếp. Trò chơi tạo cơ hội để trẻ tham gia vào các mối quan hệ giao tiếp bạn bè, phát triển tốt các năng lực giao tiếp. Trò chơi đồng thời là một phương tiện (Một con đường) mà thông qua đó trẻ có thể giao tiếp với nhau một cách dễ dàng. Giáo dục thông qua trò chơi là phương pháp hiệu quả nhất với trẻ mầm non. * Trong hoạt động ngoài trời Thông qua hoạt động ngoài trời mà trẻ được chơi, được giao tiếp, được học hỏi và khám phá thế giới xung quanh một cách hứng thú và tích cực. Vì thế nên giáo viên cần dạy cho trẻ biết được nhiều kỹ năng sống cho trẻ trong vui chơi ngoài trời như: “Khi chơi với bạn không gây gổ, không xô đẩy bạn khi chơi, biết chia sẻ và nhường nhịn bạn khi chơi, biết chăm sóc cây, lau lá 12
- cây, nhặt lá vàng úa trên cây (Chỉ số 39: Thích chăm sóc cây cối nằm trong chuẩn 9 trẻ biết cảm nhận và thể hiện cảm xúc). Điều này sẽ tạo thành một thói quen tốt cho trẻ, hoạt động ngoài trời còn giúp trẻ mạnh dạn, tự tin vui chơi năng động và phát triển ngôn ngữ, khả năng giao tiếp với cô và bạn khi chơi. Bên cạnh đó, chúng ta còn giáo dục được kỹ năng chào hỏi cô giáo và người lạ khi trẻ gặp. Trong hoạt động ngoài trời trẻ được thảo luận với bạn bè, quan sát và trò chuyện cùng cô và các bạn. Tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời giúp trẻ lĩnh hội được ý nghĩa thế giới xung quanh và phát triển kỹ năng giao tiếp nhanh. * Trong giờ ăn trưa Cô giáo dục trẻ trước và sau khi ăn biết mời, xin phép mọi người từ người lớn đến người nhỏ tuổi. Khi ăn từ tốn, lịch sự, không vừa ăn vừa nói chuyện hay cười đùa trong lúc ăn uống. Thông qua giờ ăn cô giúp trẻ biết học ăn học nói, học mời chào thế nào cho có văn hoá. * Trong giờ vệ sinh cá nhân, giờ chơi tự do Hoạt động hàng ngày không thể thiếu giờ hoạt động chơi tự do và vệ sinh cá nhân của trẻ. Những lúc này trẻ được tự do trò chuyện tiếp xúc với nhau. Cô giáo là người lắng nghe và tạo tình huống để trẻ được thoải mái giao tiếp nhiều hơn. Cô luôn khuyến khích động viên trẻ để trẻ nói ra những ngôn ngữ mạch lạc thể hiện sự văn hoá trong giao tiếp. Tóm lại, thông qua các hoạt động hàng ngày của trẻ tại trường mầm non cô nên quan tâm thường xuyên để ý giúp cho trẻ phát biểu những gì mà trẻ biết và biết đề nghị những gì trẻ muốn. Từ đó giúp cho trẻ mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp với mọi người xung quanh, có hành vi và kỹ năng giao tiếp đúng chuẩn mực và đạt theo độ tuổi. 2.3.4. Biện pháp 4: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của từng trẻ Ngôn ngữ của trẻ 3-4 tuổi mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với sự vật hoàn cảnh, con người hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ. Cuối 3 tuổi ngôn ngữ của trẻ bắt đầu biết nối kết giữa tình huống hiện tại với quá khứ thành một văn cảnh. Ở trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết. Dưới sự hướng dẫn của người lớn, đặc biệt trong hoạt động vui chơi, hoạt động học có chủ đích và các nhiệm vụ người lớn giao cho trẻ. Trẻ lĩnh hội được nhiều từ mới và ý nghĩa sử dụng chúng, là tiền đề quan trọng giúp trẻ hoạt động sau này. 13

