Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong Trường Mầm non

docx 23 trang Chăm Nguyễn 21/12/2025 130
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_h.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong Trường Mầm non

  1. phá khoa học đòi hỏi trẻ phải sử dụng tích cực các giác quan chính vì vậy sẽ phát triển ở trẻ năng lực quan sát, khả năng phân tích, so sánh, tổng hợp Nhờ vậy khả năng cảm nhận của trẻ sẽ nhanh nhạy, chính xác, những biểu tượng, kết quả trẻ thu nhận được trở nên cụ thể, sinh động và hấp dẫn hơn. Qua những thí nghiệm nhỏ trẻ được tự mình thực hiện trong độ tuổi mầm non sẽ hình thành ở trẻ những biểu tượng thiên nhiên chính là cơ sở khoa học sau này của trẻ. Là một giáo viên mầm non tôi luôn tìm hiểu xem đề tài nào phù hợp, kỹ năng nào phù hợp thực tiễn của lớp và đảm bảo an toàn với trẻ lớp mình để trẻ cùng cô khám phá trải nghiệm mang lại hiệu quả cao giúp trẻ phát triển toàn diện. Nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ khám phá và làm sao để những giờ học đó trở nên thú vị, không khô khan với trẻ tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình. Mong rằng kinh nghiệm nhỏ này có thể vận dụng vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ của các đồng nghiệp. 1.2. Mục đích nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm nghiên cứu: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non” Từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ lớp 3 - 4 tuổi. 1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục khám phá của trẻ trong nhà trường. - Rút ra những kết luận và ý kiến đề xuất một số biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ 3 - 4 tuổi. 1.4. Đối tượng nghiên cứu. - Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 3 - 4 tuổi. - Phạm vi nghiên cứu:
  2. + Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ 3 - 4 tuổi trong trường mầm non hiện nay. 1.5. Phương pháp nghiên cứu. Qua thực tế giảng dạy và làm đề tài bản thân đã sử dụng một số phương pháp sau: - Phương pháp quan sát và đàm thoại. - Phương pháp ghi chép, tổng hợp. - Phương pháp trực quan. - Phương pháp thực hành. - Phương pháp kiểm tra, đánh giá. - Phương pháp động viên trẻ kịp thời. - Trong khi nghiên cứu đề tài tôi luôn sử dụng lồng ghép và linh hoạt các biện pháp để đạt kết quả tốt. 2. NỘI DUNG 2.1. Cơ sở lý luận Trẻ 3 - 4 tuổi là giai đoạn trẻ đang ở những bước phát triển mạnh về nhận thức, tư duy, ngôn ngữ, tình cảm. Ở tuổi mầm non trẻ rất thích tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh bởi thế giới xung có bao điều hấp dẫn. Hoạt động khám phá là phương tiện để trẻ giao tiếp và làm quen với thế giới xung quanh, để giao lưu và bày tỏ nguyện vọng của mình hình thành và nhận thức sự vật hiện tượng xung quanh. Thông qua hoạt động khám phá khoa học trẻ được lĩnh hội tiếp thu kiến thức về thế giới xung quanh trẻ. Từ đó giúp trẻ có thái độ ứng xử đúng đắn với thiên nhiên, với xã hội. Giáo viên mầm non có vai trò quan trọng giúp trẻ tiếp thu lĩnh hội kiến thức một cách đơn giản mà hiệu quả phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ, giáo dục trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm trong mọi hoạt động. Bằng những thí nghiệm đơn giản giáo viên có thể sử dụng vào trong các hoạt động khám phá khoa học để
  3. giải thích cho trẻ một cách rõ ràng có minh chứng cụ thể và tính thuyết phục cao về đặc tính của sự vật hiện tượng đáp ứng nhu cầu khám phá tìm tòi của trẻ và kích thích ở trẻ khả năng tư duy sáng tạo. Đối với trẻ, được trực tiếp làm các thí nghiệm với các vật là một điều vô cùng lý thú. Trẻ được tự mình trải nghiệm, tạo cơ hội cho trẻ chủ động lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc. 2.2. Thực trạng Trường mầm non Tân Tiến nơi tôi công tác là ngôi trường luôn đi đầu trong công tác thi đua dạy tốt, học tốt của Thành Phố. Công tác xây dựng trường học lấy trẻ làm trung tâm luôn được nhà trường quan tâm đặt lên hàng đầu. Trong đó việc nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Để thực hiện nhiệm vụ đó đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của lớp 3 - 4 tuổi, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: * Thuận lợi: - Nhà trường luôn được sự hướng dẫn và chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng Giáo dục thành phố Bắc Giang . - Ban giám hiệu luôn tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như việc nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên. - Trẻ mẫu giáo bé rất hứng thú và thích tham gia những trò chơi trải nghiệm khám phá đặc biệt là những thí nghiệm trẻ được trực tiếp tham gia cùng với các bạn và cô giáo. - Cô giáo có chuyên môn vững, có kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp mẫu giáo bé, luôn tìm tòi học hỏi, sưu tầm nghiên cứu tài liệu. - Trẻ có cùng độ tuổi nên nhận thức khá đồng đều. - Đặc biệt là phụ huynh cũng hưởng ứng rất nhiệt tình, cùng tham gia đóng góp nguyên vật liệu cho trẻ hoạt động. * Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên tôi còn gặp một số khó khăn khi thực hiện:
  4. - Một số phụ huynh chưa coi trọng bậc học mầm non vì nghĩ trẻ mẫu giáo bé chỉ chơi chứ chưa học gì, đặc biệt có những phụ huynh còn nói trẻ mầm non thì khám phá cái gì? Nên đưa con đi học chưa chuyên cần, chưa coi trọng việc học của trẻ. Vì vậy việc rèn nề nếp của trẻ cũng gặp khó khăn. - Nhiều trẻ chưa học qua nhà trẻ, trẻ mới bắt đầu đi học nên chưa có nề nếp học tập. - Giáo viên còn ngại tổ chức những thí nghiệm cho trẻ trực tiếp khám phá. Việc tổ chức thí nghiệm đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt, sáng tạo và có kinh nghiệm tổ chức. - Mức độ khó hay dễ của các thí nghiệm không giống nhau. Có những thí nghiệm đối với trẻ có thể phát hiện được ngay nhưng có những thí nghiệm đòi hỏi trẻ phải tư duy. - Thời gian có thể tổ chức cho trẻ thí nghiệm rất hạn hẹp có thể là vào hoạt động ngoài trời, có thể là vào cả một hoạt động vì vậy mà giáo viên phải sắp xếp giờ hoạt động cho phù hợp. -Trong lớp còn nhiều trẻ rụt rè, nhút nhát, thiếu tự tin không dám tham gia vào các các hoạt động của lớp. * Kết quả khảo sát đầu năm. Ngay từ đầu năm học khi học sinh đã ổn định, tôi khảo sát học sinh chuyên đề để nắm bắt tình hình phát triển của trẻ trong lớp 3 - 4 tuổi. Kết quả thu được như sau: Trước khi thực hiện STT Nội dung Tỉ lệ Số trẻ đạt %
  5. 1 Kỹ năng quan sát 20/44 45,4 Sử dụng các giác quan để xem xét, tìm hiểu 2 18/44 40,1 đối tượng: nhìn, nghe, ngửi, sờ Phân loại các đối tượng theo dấu hiệu nổi 3 17/44 38,6 bật - Sau khi khảo sát, nắm được mặt mạnh, mặt yếu về nhận thức của cả lớp nói chung và khă năng của từng trẻ nói riêng, để nâng cao chất lượng hoạt động khám phá cho trẻ tôi đã áp dụng 1 số giải pháp sau. 2.3. Các giải pháp tiến hành để giải quyết vấn đề. 2.3.1. Giải pháp 1: Xây dựng nội dung hoạt động khám phá. Đối với mỗi giờ hoạt động khám phá khoa học, nội dung hoạt động rất quan trọng nó quyết định đến sự thành công của tiết dạy. Vì vậy trước khi tổ chức hoạt động khám phá cho trẻ tôi thường xây dựng nội dung vừa hấp dẫn vừa bất ngờ. Với chủ đề Trường mầm non: Nội dung khám phá chủ yếu là trường mầm non, nhưng tôi không tổ chức theo cách cũ là cô giới thiệu từng khu vực cho trẻ quan sát mà cho trẻ tự khám phá khu vực mà mình yêu thích nhất, làm như vậy trẻ hứng thú hơn và tích cực hoạt động. Cho trẻ kể lại với các bạn những khu vực mà trẻ khám phá được. Chủ đề Gia đình tôi tổ chức trưng bày đồ dùng gia đình do trẻ mang tới và trẻ sẽ tự giới thiệu công dụng và chất liệu về các đồ dùng đó, có thể cho trẻ dùng thử nghiệm, cô củng cố lại. Đồng thời tôi phối hợp với phụ huynh học sinh tổ chức ngày hội gia đình tại lớp, bé và mẹ sẽ cùng làm một món ăn mang đến lớp để dự thi, bé tự giới thiệu tên, giá trị dinh dưỡng của món ăn đó. Kết thúc cuộc thi cho các bé liên hoan.
  6. Chủ đề: Động vật, Thực vật, Hiện tượng tự nhiên tìm hiểu về con vật nuôi trong gia đình, tìm hiểu con vật nào tôi cho trẻ quan sát con vật đó, sau đó tôi gợi mở cho trẻ nói lên hiểu biết của mình về con vật đó. Cuối cùng cô khái quát lại về đặc điểm, cấu tạo, màu sắc hình dáng, ích lợi của con vật đó. Khi tìm hiểu về cây tôi cho trẻ tự gieo trồng cây và chăm sóc, cho trẻ tự tìm hiểu đúng cây mà mình đã trồng, trẻ sẽ thích thú hơn. Cho trẻ khám phá một số hiện tượng tự nhiên tôi tiến hành một số thí nghiệm đơn giản: sự bay hơi ngưng tụ của nước, ánh sáng đối với cây Khi cho trẻ khám phá các phương tiện giao thông tôi cho trẻ tìm hiểu về các loại phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, cô có thể cho trẻ làm kèn để giả làm tiếng kêu của các phương giao thông như: tàu hỏa, ô tô.... Tóm lại việc xây dựng nội dung hoạt động khám phá hấp dẫn trẻ sẽ hứng thú tham gia hoạt động từ đó sẽ kích thích được trí tưởng tượng, tìm tòi và tò mò khám phá về thế giới xung quanh của trẻ. 2.3.2. Giải pháp 2: Tạo môi trường cho trẻ hoạt động khám phá Môi trường hoạt động của trẻ là sự tổng hợp các mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Môi trường hoạt động tạo cho trẻ cái nhìn toàn diện về thế giới xung quanh. Nó đem lại cho trẻ những tri thức tiền khoa học và trẻ đem những hiểu biết tích cực của mình tác động lại môi trường hoạt động. Từ đó mối quan hệ giữa con người và môi trường được hình thành từ thuở mẫu giáo. Do vậy, tạo môi trường hoạt động tốt là nhằm tạo cơ hội cho trẻ tìm tòi khám phá trải nghiệm củng cố những kiến thức đã lĩnh hội được trên tiết học, phát huy khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Ngoài ra còn giúp trẻ giảm bớt căng thẳng mệt mỏi trong quá trình học tập và cung cấp nhiều vốn kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như ý thức tự lao động phục vụ. Tạo môi trường hoạt động cho trẻ khám phá còn hình thành ở trẻ những tình cảm đẹp đẽ tình yêu thương đối với trường lớp, cô
  7. giáo bạn bè và những kĩ năng cần thiết trong quá trình ứng xử giao tiếp với mọi người xung quanh. Môi trường hoạt động của trẻ là sự tổng hòa nhiều yếu tố như: Không gian, đồ chơi, thời gian, mối quan hệ giữa cô với trẻ, quan hệ giữa trẻ với trẻ Nhưng hai yếu tố nổi bật hơn cả đó là: Không gian hoạt động, đồ dung - đồ chơi. * Không gian hoạt động: Để có một môi trường thuận lợi và có tính khoa học cho kế hoạch học tập này, tôi phân công, hướng dẫn các cháu cùng cô tạo một “Khám phá trải nghiệm” riêng cho lớp bằng cách dọn dẹp, sắp xếp một góc lớp hoặc một hành lang trống. Chỉ cần một chiếc giá và một số dụng cụ do cô và cháu cùng làm là tạo ra một góc nghiên cứu riêng mà không va chạm với góc chơi nào. Khu vực góc chơi thiên nhiên sinh vật cảnh làm góc thí nghiệm khoa học. Tôi bố trí ngoài hành lang phía sau của lớp học để tận dụng lấy ánh sáng tạo môi trường phù hợp cho cây xanh phát triển và quang cảnh đẹp, có diện tích rộng cho trẻ hoạt động khám phá. Đây là một góc thí nghiệm riêng tư đối với một số trẻ hứng thú tham gia tìm tòi, nó vừa đẹp mắt lại vừa mang đậm tính khoa học khiến trẻ lớp tôi rất hứng thú và hào hứng chờ đợi những giờ hoạt động trải nghiệm. * Đồ dùng - đồ chơi: Đối với trẻ mầm non đồ chơi là nhu cầu tự nhiên không thể thiếu đối với cuộc sống của trẻ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có tiền để mua hoặc mua được hết đồ chơi cho trẻ. Để thoả mãn hoạt động vui chơi của trẻ chúng ta có thể tự làm lấy đồ chơi cho trẻ. Ở trường mầm non muốn trẻ phát triển tốt thì cô giáo phải là người thể hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của mình luôn linh động sáng tạo giúp trẻ thông qua chơi mà học. Trong quá trình giáo dục trẻ nói chung, tổ chức cho trẻ khám phá khoa học nói riêng. Giáo viên cần phải biết dạy cho trẻ khám phá cái gì? Khám phá như thể nào để đem lại kiến thức phục vụ cho hoạt động học, phục vụ cho sự phát triển tư duy của trẻ.
  8. Chúng ta đã biết tư duy của trẻ mầm non là thao tác với đồ vật, đồ chơi, vậy khi chơi ta phải có phương tiện chơi kèm theo đó chính là những đồ dùng, đồ chơi, nguyên học liệu phục vụ cho trò chơi mà trẻ chơi. Nếu thiếu đồ chơi, nguyên học liệu đó trẻ không thể thao tác được với vai chơi và tạo ra được sản phẩm trong quá trình chơi đó. Vì vậy đồ chơi càng phong phú bao nhiêu thì càng kích thích sự hứng thú và tạo sự ham muốn được khám phá mở mang kiến thức về thế giới xung quanh ở trẻ bấy nhiêu. Thông qua đồ chơi ở giờ hoạt động khám phá giúp trẻ rèn luyện trí nhớ, tính quan sát, kỹ năng phân biệt, so sánh, nhằm giúp trẻ khắc sâu kiến thức, trẻ hiểu thêm về nội dung bài học, phát triển trí tuệ ở trẻ một cách toàn diện. Với hoạt động khám phá khoa học không yêu cầu nhiều đồ dùng cầu kỳ như các môn học khác, môn khám phá khoa học lại cần chủ yếu là những nguyên liệu sẵn có, dễ kiếm và rẻ tiền như: vỏ hộp, vỏ chai nhựa, khay, túi ni lon, bọt biển, sỏi, đá, cát, các loại hạt Vì vậy khi giáo viên vận động phụ huynh và học sinh gom góp thêm phế liệu để phục vụ môn học được phụ huynh rất nhiệt tình hưởng ứng và ủng hộ cho lớp để các cháu chơi và hoạt động. Cô giáo và trẻ cùng nhau sửa và cắt dán trang trí thêm, thế là cô và cháu đã có cả một “Kho tàng” vật dụng vui mắt phục vụ cho các bài học một cách hiệu quả. 2.3.3. Giải pháp 3: Cho trẻ tham gia trải nghiệm thực tế. Trong xã hội hiện đại khoa học đã có những bước tiến quan trọng vì vậy đối với trẻ việc trang bị cho tương lai hành trang kiến thức về thế giới xung quanh là rất cần thiết. Với trẻ mầm non thì trang bị những điều đơn giản, từ dễ đến khó, từ những sự vật xung quanh mà người lớn tưởng chừng là rất đơn giản ai cũng biết nhưng điều đó với trẻ nó lại là một điều thật kì diệu. Những thí nghiệm đơn giản, dễ tiến hành lại là những bài học cho trẻ dễ tiếp thu về thế giới xung quanh, từng bước đơn giản như thế trẻ sẽ khám phá được những bí ẩn xung quanh cuộc sống của trẻ. Dưới đây là một số thí nghiệm mà tôi và trẻ đã thực hiện tại lớp.
  9. Thí nghiệm 1: Thí nghiệm về nước và chất lỏng. * Mục đích: - Trẻ biết phân biệt các lớp chất lỏng khác nhau: dầu, nước, sirô. - Trẻ nhận biết được lớp sirô nặng hơn nước nên chìm xuống dưới, lớp dầu nhẹ hơn nước nên nổi lên trên, còn lớp nước ở giữa. - Nhận biết được một số chất liệu như: nhựa, gỗ, bọt biển, xốp, kim loại... nổi ở chất lỏng nào: nước, sirô, dầu và rút ra kết luận. * Chuẩn bị: - 1 chai dầu ăn,1 chai nước, 1 chai sirô. - 3 cốc thuỷ tinh, khay đựng. - Các vật liệu: cao su, sỏi, đồ nhựa, sắt, bọt biển, sốp..... - Các giấy màu đỏ, trắng, vàng. * Cách tiến hành + Bước 1: - Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chất lỏng: dầu, nước, sirô. - Mỗi chất lỏng cô dùng 1 miếng giấy màu tương ứng với màu chất lỏng: đỏ, vàng, trắng. + Bước 2: - Cho trẻ chọn chất lỏng thứ 1 đổ vào cốc và chọn mảnh giấy có màu tương ứng gắn lên bảng. - Cô cho trẻ chọn chất lỏng thứ 2 và đổ vào cốc và cho trẻ dự đoán chuyện gì sẽ xảy ra khi đổ chất lỏng thứ 2 vào cốc. Chọn thẻ giấy có màu tương ứng gắn lên bảng. Cô cho trẻ quan sát xem chất lỏng thứ 2 nó ở vị trí nào trong cốc có giống như dự đoán của trẻ không. Với thí nghiệm này cô phải cho trẻ quan sát từng chất lỏng đổ vào một. Lúc đầu cho trẻ thử nghiệm 2 chất lỏng trước, khi trẻ đã biết dự đoán rồi cô mới tiến hành cho 3 chất lỏng vào cùng một cốc.
  10. - Tương tự cô chất lỏng thứ 3 vào. cô cho trẻ quan sát vị trí các chất lỏng có trong cốc và rút ra kết luận: lớp sirô nặng nhất nên ở phía đáy cốc, lớp nước nhẹ hơn sirô và nặng hơn lớp dầu ăn nên ở giữa và lớp dầu ăn nhẹ nhất nên ở trên. +Bước 3: - Cho trẻ chia làm 2 nhóm , mỗi nhóm chọn vị trí xếp thẻ giấy màu khác với lúc đầu rồi mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các chất lỏng theo thẻ giấy đã chọn vào cốc cùng quan sát xem các chất lỏng đó có đứng đúng vị trí đó không? - Hai nhóm sẽ rút ra kết luận: dù đổ chất lỏng nào vào trước thì các chất lỏng nó vẫn đứng đúng theo thứ tự sirô, nước, dầu ăn. Nhiệm vụ của trẻ là phải gắn lại thẻ giấy màu đúng theo vị trí các chất lỏng trong cốc. * Mở rộng: Cho trẻ thả một số vật: cao su, nhựa, gỗ, sắt ....vào chất lỏng và quan sát xem nó nổi hoặc chìm ở chất lỏng nào và từ đó rút ra kết luận. Thí nghiệm với chất lỏng này cô có thể tổ chức thông qua rất nhiều các chủ đề tuỳ thuộc vào chủ đề nào mà có thể tích hợp được thì giáo viên cho lồng ghép. Với chủ đề “Gia đình” cô có thể cho trẻ khám phá một số đồ dùng trong gia đình như: bát, thìa, ca, cốc, đũa.... cho trẻ thí nghiệm thả các vật dụng vào nước thì vật nào chìm và vật nào nổi có thể cho trẻ giải thích tại sao. Nếu trẻ không giải thích được cô có thể giải thích cho trẻ... Thí nghiệm 3: Cốc nước thần kỳ. * Mục đích: Cho trẻ biết nước là chất không mầu, không mùi, không vị. Nước chỉ bị thay đổi mùi vị khi ta pha vào nước những chất khác như: đường, muối, sữa, * Chuẩn bị: - 4 cốc thủy tinh và 3 thìa. - Một chút đường, muối, một quả cam. * Cách tiến hành:
  11. - Cô rót nước đun sôi dể nguội vào bốn cốc nước có đánh dấu từ 1 đến 4. Cho trẻ quan sát, nếm, ngửi mùi và nhận xét xem nước có màu, mùi vị như thế nào? Và đoán xem nước có thay đổi như thế nào khi cô pha đường, muối, nước cam vào các cốc nước. - Cô pha đường, muối, cam lần lượt vào các cốc từ 1 đến 3. Sau đó cho trẻ nếm thử các cốc nước đã pha, cho trẻ nhận xét và so sánh với cốc 4 và cô giải thích sự thay đổi đó. * Giải thích và kết luận: Nước trong suốt không có mầu, mùi, vị. Đường có vị ngọt, khi hòa tan vào nước làm nước có vị ngọt. Muối có vị mặn nên khi hòa tan vào trong nước tạo cho nước có vị mặn, khi pha nước cam vào sẽ tạo cho nước có mùi cam và mầu da camm bảo an toàn cho trẻ và chú ý giáo dục trẻ khi người lớn sử dụng nước nong tại gia đình. Thí nghiệm 4: Những chiếc bát biết hát. * Mục đích: - Trẻ biết sự rung của nước và không khí tạo ra được âm thanh. - Phát triển thính giác cho trẻ. * Chuẩn bị: - 7 bát sành giống nhau, nước, 1 chiếc đũa. * Cách tiến hành: - Cô cho trẻ quan sát và nói tên, công dụng của những chiếc bát. - Cho trẻ đoán xem cô sẽ làm gì với những chiếc bát này? - Cô đổ nước vào lần lượt từng bát. Lượng nước đổ vào bát khác nhau. - Cho trẻ đoán xem nếu ta dùng đũa gõ vào bát thì sẽ có chuyện gì xảy ra? - Khi gõ đũa lên bát đã có nước sẽ nghe thấy tiếng kêu phát ra ở từng bát không giống nhau. Bát đổ ít nước thì kêu vang hơn bát đổ nhiều nước.