Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Lớp 1

docx 28 trang Chăm Nguyễn 01/12/2025 310
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Lớp 1", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_hinh_thanh_va_phat_tr.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Lớp.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp hình thành và phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Lớp 1

  1. 3 PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG 1. Một số vấn đề liên quan 1.1. Cơ sở lý luận Giao tiếp là kĩ năng sống quan trọng, giúp con người trao đổi thông tin với nhau xây dựng mối quan hệ và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống một cách hiệu quả. Vì vậy giao tiếp là một vấn đề không thể thiếu được của mỗi con người, nhờ có kĩ năng giao tiếp mà con người có thể chung sống và hòa nhập trong xã hội không ngừng biến đổi như hiện nay. Kĩ năng giao tiếp tốt là chìa khóa để bắt đầu những thành công của con người. Kĩ năng giao tiếp của con người không phải sinh ra là đã có mà phải trải qua quá trình tập luyện, rèn luyện của bản thân. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng giáo dục cho các em học sinh cấp tiểu học nói chung, học sinh lớp 1 nói riêng thì mỗi người giáo viên cần quan tâm tới việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh ngay từ những buổi đầu đến trường và nó phải được rèn luyện thường xuyên, xuyên suốt quá trình học tập và các hoạt động giáo dục khác cho các em. Giao tiếp của các em học sinh không những phụ thuộc vào năng lực cá nhân mà nó còn phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa của từng địa phương nơi các em sinh sống. Nó còn chịu ảnh hưởng của giáo viên, môi trường xung quanh các em. 1.2. Cơ sở thực tiễn Giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa con người với con người trong xã hội, nhằm truyền đạt cho nhau những nhận thức, những tư duy hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tình cảm, thái độ, đối với nhau cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Như vậy, điều kiện trước tiên đảm bảo cho một cuộc giao tiếp diễn ra bình thường là phải có ít nhất hai đối tượng tham gia:1 đóng vai người nói và 1 đóng vai người nghe. Hai vai này sẽ luân phiên thay đổi nhau trong suốt quá trình giao tiếp, họ cũng phải sử dụng một thứ ngôn ngữ nhất định, cùng chịu sự chi phối của hoàn cảnh và nội dung giao tiếp để hướng đến mục đích đề ra cho mỗi lần thực hiện giao tiếp. Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp,hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc Kĩ năng giao tiếp giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết giữ gìn các mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình - nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui trong cuộc sống. Kỹ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kỹ năng khác: như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc.
  2. 4 Người có kĩ năng giao tiếp tốt sẽ biết dung hoà đối với mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng. Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học nói chung là một vấn đề hết sức cần thiết mà đòi hỏi các yếu tố nhà trường, gia đình và xã hội cần chung tay góp sức giáo dục đặc biệt là Nhà trường mà lực lượng nòng cốt để giáo dục trực tiếp các em ở đây là giáo viên. Trong quá trình dạy học giao tiếp giúp giáo viên có sự định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đề ra. Thường xuyên tạo ra môi trường giao tiếp rộng cho các em. Để qua đó nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh. Vì vậy, đòi hỏi giáo viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành những tình huống giao tiếp gần gũi, giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của mình thực hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó học sinh sẽ có kỹ năng giao tiếp và tất nhiên sẽ phát triển được kỹ năng giao tiếp của bản thân mình. 2. Thực trạng Năm học 2019 - 2020 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 1A. Sĩ số lớp có 39 em. Trong đó: Nam 21 em chiếm 53,85%. Nữ 18 em chiếm 46,15%. Kết quả điều tra đầu năm học 2019 - 2020 HS đứng lên HS chưa biết HS nói nhỏ, HS nói chưa HS nói đúng TSHS Thời không dám nói thành rụt rè, thiếu đúng chủ đề chủ đề to, rõ gian nói câu tự tin ràng SL % SL % SL % SL % SL % 39 Tháng 6 15,38 8 20,51 8 20,51 7 17,95 10 25,64 9 2.1.Thuận lợi 2.1.1. Đối với giáo viên Tôi nhận được một tập thể học sinh khá ngoan các con biết vâng lời cô, biết quan tâm giúp đỡ bạn trong các hoạt động giáo dục, các em luôn gần gũi với cô giáo. Bên cạnh đó tôi có được sự ủng hộ của phụ huynh trong việc cùng nhà trường giáo dục các em. Ngoài ra Ban giám hiệu nhà trường, Phòng giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân nhân thị trấn Tân An luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất cho tôi trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục.
  3. 5 2.1.2. Đối với học sinh Đa số các em ngoan ngoãn, lễ phép, biết vâng lời thầy cô, ông bà, người lớn. Các em luôn nhận được sự quan tâm hướng dẫn, dìu dắt của nhà trường, của đoàn đội, đoàn thanh niên của thị trấn trong mọi hoạt động. Hầu hết các bậc phụ huynh học sinh đều rất quan tâm đến việc học của con em mình. Các em có đầy đủ đồ dùng học tập khi đến trường. 2.2. Khó khăn 2.2.1. Đối với giáo viên Là một giáo viên có nhiều năm tuổi nghề, nhưng kinh nghiệm làm công tác chủ nhiệm các em học sinh lớp 1 còn quá ít. Chính vì thế mà năng lực chuyên môn cũng như năng lực quản lý, ổn định tổ chức của bản thân tôi còn gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ. 2.2.2.Đối với học sinh Là trường học nằm trên địa bàn thị trấn tương đối rộng, còn một số phụ huynh đi làm ăn xa chưa có thời gian, điều kiện quan tâm đến con em mình, còn có quan điểm phó thác vào nhà trường. Hầu hết gia đình học sinh trong lớp đều làm nông nghiệp, nhiều phụ huynh còn suy nghĩ đơn giản rằng con mình bây giờ còn nhỏ, lớn hơn chút nữa các con sẽ tự có ý thức về lời nói và hành động của mình mà chưa thường xuyên bảo ban và chỉnh sửa mỗi khi con nói chưa đủ câu. Một số em có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, mồ côi bố, bố mẹ ly hôn ở với ông bà nên sự quan tâm chăm sóc của các em còn thiéu vắng bàn tay của bố, mẹ. Nhiều học sinh đến lớp còn nhút nhát, ngại giao tiếp. Sau khi nhận lớp tôi tìm hiểu và nhận thấy tình trạng của lớp như sau: Với tất cả các thực trạng như trên cùng với việc nghiên cứu chương trình lớp 1 và đúc kết kinh nghiệm từ năm học trước tôi đã tìm ra các giải pháp và vận dụng thành công trong năm học 2019-2020 cụ thể như sau: 3.Đề xuất các giải pháp 3.1. Hình thành và phát triển kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ qua các môn học. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong quá trình dạy học, nghiên cứu các môn học. Học sinh sử dụng ngôn ngữ để nói, viết, mô tả hoặc giải thích các ý tưởng, các vấn đề trong các bài học. Giao tiếp giúp học sinh rèn luyện kĩ năng diễn đạt, biết lắng nghe và hiểu những điều người khác trình bày. Thông qua giao tiếp học sinh có thể tự đánh giá mình và đánh giá người khác, rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân cũng như của bạn. Vì vậy phát triển kĩ năng giao tiếp thông
  4. 6 qua ngôn ngữ trong các môn học cho các em học sinh lớp 1 là rất cần thiết. Chính vì vậy mà bản thân tôi đã thực hiện việc làm này cụ thể như sau: 3.1.1. Phát triển kĩ năng nghe - nói Biết lắng nghe, tiếp nhận thông tin và sử lí thông tin để hiểu vấn đề được nghe; biết thể hiện qua điểm, ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ. Sử dụng chính xác ngôn ngữ khi điễn đạt ý tưởng hoặc trình bày một vấn đề nào đó. Mạnh dạn thể hiện suy nghĩ, ý tưởng của mình trước nhóm hoạc tập hoặc trước toàn lớp. Qua đó giúp các em có cơ hội được chia sẻ, khám phá các ý tưởng của bạn, khắc phục hạn chế khả năng trình bày, diễn đạt của chính bản thân mình. Để làm tốt vấn đề này tôi đã tổ chức cho các em học sinh trong lớp mình thực hiện tốt các bước sau: Bước 1: Trong tất cả các giờ học, tôi tập cho các em học sinh biết lắng nghe và hiểu các vấn đề nghe được. Tôi luôn tạo ra môi trường học tập để các em có điều kiện lắng nghe và hiểu điều người khác muốn nói. Ban đầu tôi áp dụng tập cho các em nghe những vấn đề đơn giản, ngắn gọn, để giúp các em dễ dàng nắm được nội dung. Sau đó tôi nâng dần mức độ phức tạp của nội dung để phát triển tư duy cho các em. Bước 2: Tôi rèn cho các em trình bày lại vấn đề nghe được. Tôi thường tạo cơ hội cho các em trình bày lại vấn đề bằng khả năng lập luận, ý diễn đạt của mình. Tôi có thể đưa ra các câu hỏi yêu cầu học sinh trình bày. Ví dụ trong môn Tiếng Viêt khi học sinh tham gia trả lời câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài tập đọc. Bạn trả lời xong tôi yêu cầu: Bạn trả lời đúng chưa? Em nhắc lại câu trả lời của bạn? Trong môn Toán: Bạn đã thực hiện phép tính trên như thế nào? Qua đó giúp các em nắm vững vấn đề hơn, đồng thời bản thân tôi cũng đánh giá được mức độ nghe, hiểu của các em học sinh. Bước 3: Tôi hình thành cho học sinh kĩ năng nhận xét về ý tưởng của bạn và trình bày cách giải quyết vấn đề của chính bản thân các em qua các tiết học. Tôi luôn tạo cơ hội, khuyến khích các em nêu ý kiến của mình về cách trả lời, cách đọc, cách viết, cách làm bài của bạn, cách giải quyết vấn đề của bản thân. Tôi có thể đặt câu hỏi: Em đồng ý với ý kiến của bạn không? Tại sao? Em có câu trả lời khác không? Các câu hỏi đưa ra của tôi nhằm giúp các em phát triển khả năng lập luận. Từ đó giúp các em hiểu, nắm kiến thức bài nhanh, sâu, có sự liên kết nội dung trong các bài học tốt hơn. Bước 4: Tôi giúp các em biết cách nhận xét, đánh giá ý tưởng của bạn, của mình thông qua các bài học. Sau khi tôi nêu vấn đề. Tôi cho các em tìm phương án để giải quyết vấn đề tôi đưa ra. Sau đó tôi cho các em nêu cách giải quyết của bản thân. Tôi tổng hợp các ý kiến tôi cho các em tìm cách giải quyết, hay câu trả lời tối ưu nhất. Sau đó tôi là người chốt và kết luận vấn đề. Tôi luôn động viên khích lệ các em trong học tập.
  5. 7 Trong quá trình phát triển kĩ năng nghe - nói cho học sinh tôi luôn duy trì môi trường học tập đảm bảo tất cả học sinh đều có thể tham gia bình đẳng trong suốt quá trình học tập. Ví dụ: Phát triển kĩ năng nghe - nói khi dạy bài: Phép cộng dạng 14 + 3 (Sách Toán 1 trang 108) Hoạt động 1: Giới thiệu cách làm tính cộng dạng 14 + 3 Bước 1: Tập cho học sinh biết lắng nghe và hiểu vấn đề được nghe. Tôi vừa nói, vừa yêu cầu học sinh thực hiện trên que tính. Các em lấy 14 que tính (gồm 1 bó chục và 4 que tính rời) rồi lấy thêm 3 que tính nữa. Có tất cả bao nhiêu que tính? Học sinh lắng nghe và thực hiện thao tác trên que tính. Học sinh trả lời có tất cả 17 que tính. Tôi quan sát thấy các em thao tác lấy số que tính đúng và biết được có 17 que tính thì đồng nghĩa là các em đã hiểu được vấn đề vừa nghe được từ yêu cầu của tôi. Bước 2: Trình bày vấn đề tôi yêu cầu 1, 2 học sinh mô tả lại thao tác các em vừa thực hiện lại bằng ngôn ngữ nói trước lớp để các bạn khác có thể hiểu được. Chẳng hạn các em có thể mô tả như sau lúc đầu có 14 que tính em lấy thêm 4 que tính rời nữa. Vậy em có tất cả 17 que tính. Bước 3: Nêu nhận xét về ý tưởng của bạn và trình bày cách giải quyết vấn đề của bản thân. Tôi yêu cầu các bạn nhận xét vấn đề chia sẻ của bạn và mô tả lại quá trình đó trên qua tính. Sau khi học sinh đã mô tả chính xác các hoạt động trên que tính. Tôi hướng dẫn học sinh mô tả một cách ngắn gọn nhất đó là “14 thêm 3 bằng 17” hoặc “14 cộng 3 bằng 17” Sau đó tôi chuyển ý để hướng dẫn học sinh hiểu được không cần sử dụng que tính vẫn thực hiện được phép tính trên. Tôi cho các em thực hiện trên bảng con, rồi cho các em chia sẻ cách thực hiện, học sinh nghe nhận xét và thống nhất cách thực hiện. Học sinh nhắc lại cách đặt tính, tính của phép cộng 14 + 3. Bước 4: Nhận xét, đánh giá ý tưởng. Tôi nhận xét đánh giá các cách trình bày sau mỗiquy trình diễn ra của học sinh. Ví dụ: Phát triển kĩ năng nghe - nói khi dạy môn Tự nhiên xã hội bài: “Cây rau” sách Tự nhiên xã và hội lớp 1 trang 46 và 47. Hoạt động 1: Quan sát cây rau Tôi tổ chức cho các em học sinh hoạt động nhóm đôi: Quan sát cây rau mà các em đã chuẩn bị. Trao đổi trong nhóm để trả lời các yêu cầu sau: Chỉ và nói tên các bộ phận của cây rau đó? Bộ phận nào ăn được? Bước 1: Giúp học sinh nghe và hiểu vấn đề
  6. 8 Tôi yêu cầu các nhóm trình bày kết quả về cây rau của nhóm mình ví dụ một nhóm trình bày nhóm tôi trình bày về cây rau cải. Cây rau cải gồm có rễ, thân, lá. Cây rau cải ăn được cả phần thân và lá. Bước 2: Trình bày lại vấn đề. Tôi gọi một học sinh nhóm khác trình bày lại vấn đề của nhóm vừa chia sẻ kết quả. Nếu em đó không trình bày được tôi dùng câu hỏi gợi mở và cho em quan sát trực tiếp lại cây rau cải của nhóm bạn để em nêu lại được từ đó giúp em khắc sâu được vấn đề mà em đã nghe được tự nhóm bạn để hiểu được các bộ phận của cây rau. Bước 3: Nhận xét kết quả chia sẻ của nhóm vừa trình bày. Nhóm em có chia sẻ gì khác không? Nhóm bạn nêu và trình bày đúng các bộ phận, phần ăn được của cây rau cải. Nhóm em chia sẻ về cây xu hào, Bước 4: Nhận xét kết quả quan sát. Tôi giúp học sinh nhận xét được tất cả quá trình quan sát của các nhóm và rút ra được có rất nhiều loại rau khác nhau. Các loại rau đều có rễ, thân, lá. Có loại rau ăn được thân, lá; có loại ăn được lá; có loại ăn được rễ; có loại ăn được thân. Phát triển ngôn ngữ nghe - nói qua hoạt động nhóm là một việc làm mang lại hiệu quả rất cao giúp các em hình thành năng lực giao tiếp tốt. Thảo luận nhóm là một hình thức dạy học có sự tham gia tích cực của học sinh. Bạn và tôi là giao tiếp thân thiện trong nhóm. Tổ chức nhóm là nhằm tạo cơ hội cho mọi đối tượng được nói, được trình bày miệng trước tổ, được mạnh dạn trình bày và biết cách trình bày một vấn đề nào đó trước tập thể. Từ đó, giúp các em rèn kỹ năng giao tiếp, biểu hiện thái độ cử chỉ khi trình bày để tăng thêm sức biểu cảm, tăng sức thuyết phục của vấn đề mà mình trình bày, cũng nhờ đó các em tự tin hơn trong giao tiếp, mạnh dạn hơn khi nói trước đông người. Tôi xác định cần tạo ra môi trường học tập thân thiện cho các em, giúp các em hợp tác tốt hơn trong hoạt động nhóm, phát huy tinh thần “Học thầy không tầy học bạn” tôn trọng lắng nghe ý kiến của bạn, suy nghĩ và lựa chọn đểđưa ra ý kiến riêng của mình. Tránh làm mất đi tính tự tin dẫn đến tiêu cực. Trong giờ học của môn Tự nhiên xã hội bài 11 “Gia đình” ở hoạt động 2. Tôi yêu cầu học sinh làm việc cá nhân đó là em vẽ nhanh bức tranh về gia đình của mình bằng bút chì minh họa không cần tô màu. Khi các em vẽ xong, tôi cho học sinh chia sẻ nhóm đôi. Giới thiệu cho nhau nghe về gia đình của em. Trong hoạt động này học sinh sẽ được chỉ vào tranh vẽ của mình và giới thiệu cho bạn nghe về gia đình của mình. Ví dụ: Gia đình tớ có bốn người bố, mẹ, chị và tớ. Bố mẹ tớ đều là công nhân may. Chị tớ học lớp 6,...Khi học sinh tham gia vào hoạt động tôi sẽ quan sát các em để nắm được thực trạng diễn ra sự giao tiếp của các em trong từng nhóm bàn. Tôi hỗ trợ các nhóm có em còn rụt rè, giúp học sinh tự tin hơn. Sau đó tôi có thể thay đổi chỗ ngồi sắp xếp những em mạnh dạn, tự tin ngồi gần những em nhút nhát, rụt rè để các em hỗ trợ lẫn nhau. Thông qua hoạt động này giúp các em biết cách quan sát bạn
  7. 9 khi bạn nói, ánh mắt, lời nói, cử chỉ ra sao để mình rút ra bài học cho bản thân, có được kinh nghiệm giao tiếp làm sao cho cuốn hút trước mọi người. Qua đây các em cũng học tập được điểm mạnh, điểm yếu của bạn trong khi giao tiếp. Học sinh biết chia sẻ và lắng nghe Trong tiết Đạo đức, qua việc tổ chức học theo nhóm, đóng vai rèn cho học sinh kĩ năng giao tiếp trước các bạn, kĩ năng hợp tác cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, tự tin và tự giác cùng trao đổi, bàn bạc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm, các em dám nói ra suy nghĩ hoặc bảo vệ ý kiến của nhóm mình trước tập thể, trước các nhóm khác một cách đúng đắn, theo hướng tích cực. Khi thực hiện xong nhiệm vụ; tổ chức cho các nhóm trình bày trước lớp để cả lớp cùng nhận xét về cách trình bày của nhóm bạn. Tôi thận trọng quan sát tất cả hoạt động giao tiếp của học sinh, sau đó nhẹ nhàng nhắc nhở. Mỗi khi báo cáo kết quả, tôi chú ý rèn học sinh ý thức tôn trọng và lắng nghe ý kiến của các bạn. Với cách giao tiếp như vậy, học sinh sẽ cảm thấy tiết học nhẹ nhàng, thân thiện, cởi mở, tạo nên tiết học sinh động mang lại hiệu quả cao hơn. Từ đó tạo ra một lớp học đoàn kết và thân thiện, các em giao tiếp với nhau thoải mái và vui vẻ với nhau hơn. 3.1.2. Phát triển kĩ năng đọc - viết Chương trình các môn học của lớp 1, các em được rèn luyện rất nhiều kỹ năng trong đó có kĩ năng đọc - viết. Tôi còn nhớ những buổi học đầu tiên diễn ra. Làm sao tôi có thể quên được. Trong giờ học tôi gọi các em đứng dậy chia sẻ, có em đứng lên đọc em chỉ im lặng, không đọc được bài, đôi mắt ngây thơ, to tròn nhìn tôi không chớp, một lúc sau đôi mắt đỏ hoe, nước mắt trào ra. Có em đứng dậy hai tay đan vào nhau, miệng mấp máy đọc tôi không thể nghe được một điều gì
  8. 10 từ em cả. Làm thế nào đây? Một câu hỏi đặt ra với tôi mà chưa tìm được câu trả lời.. Trong khi đó áp lực về nội dung chương trình các môn học thì nhiều, có những hôm dạy hết giờ mà chưa được lượng kiến thức là bao. Chính vì thế mà các tiết học rơi vào tình trạng hối hả, nhưng trầm lặng, nặng nề khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều. Trở về nhà đem theo những suy nghĩ, dư âm của tiết học và cuối cùng tôi cũng đã tìm ra cho mình một hướng đi mới để tiết học đạt hiệu quả rèn được năng lực nói và giao tiết cho các em thì chính tôi phải tao ra được không khí lớp học thật sự vui vẻ, nhẹ nhàng, tạo hứng thú học tập cho các em. Tôi đã vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học. Để cải thiện giọng nói nhỏ cho một số học sinh trong lớp tôi đã thường xuyên cho các em thi đọc cá nhân, đồng thanh theo tổ, theo nhóm đôi. Tổ nào nhóm nào đọc to rõ ràng sẽ được cô và cả lớp khen ngợị. Vì tôi hiêu việc rèn cho học sinh đọc tốt, đọc to, rõ ràng, trả lời câu hỏi trong tiết học cũng là một việc làm tốt để rèn năng lực giao tiếp cho các em. Chính vì vậy trong các giờ học Tiếng việt có phần đọc cá nhân, đọc theo nhóm đôi, đọc theo tổ. Những bạn đọc tốt, mỗi khi đọc xong tôi thường khen ngợi để khích lệ tinh thần. (Ví dụ: Cô khen con đã tự tin đọc bài rất tốt, con hãy tiếp tục phát huy nhé! Con đọc giỏi lắm cô cảm ơn con!). Để các bạn đọc chưa tốt lấy đó làm động lực để tự nhủ bản thân mình cũng cần phải cố gắng. Bởi tâm lý học sinh lớp 1 là thích được khen,được động viên. Những lời khen, động viên sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để giúp các học sinh tiếp tục tự tin và cố gắng để đạt được kết quả cao. Học sinh tự tin đọc bài
  9. 11 Ngoài việc tuyên dương những em làm tốt tôi không bỏ quên việc khích lệ động viên các em làm chưa tốt khi các em có một chút cố gắng hơn. (Hôm nay con đã tự tin, đọc to hơn rồi đó, con hãy tiếp tục phát huy và cố gắng hơn chút nữa nhé!). Ngoài việc đọc bài tôi còn thường xuyên gọi các em còn hạn chế về khả năng diễn đạt ý, câu chia sẻ ý kiến cá nhân trả lời các câu hỏi. Tôi khuyến khích các em chia sẻ ý kiến trước tập thể. Khi các em chia sẻ tôi luôn lắng nghe, bày tỏ thái độ tôn trọng dành cho các em những cử chỉ, lời động viên, ánh mắt, nụ cười của tôi giúp các em tự tin hơn để nêu ý kiến cá nhân của mình mà không lo lắng sợ bị cô phê bình. Có thể câu trả lời của các em chưa chính xác nhưng tôi không phê bình hay mắng các em mà tôi nhẹ nhàng nhận xét động viên em lần sau cố gắng hơn nữa. Qua đó giúp các em hình thành thói quen tự tin trong quá trình giao tiếp. Đọc đã khó khăn để viết lại được những vấn đề các em đọc được bản thân tôi cũng gặp không ít khó khăn. Để làm tốt vấn đề này tôi thường xuyên cho học sinh luyện tập qua nhiều hình thức như điền số, điền dấu, điền âm, vần, tiếng từ vào chỗ chấm. Từ đơn giản tôi nâng mức cao hơn là viết câu, viết đoạn, rồi viết bài. Trong quá trình thực hiện tôi lưu ý rèn cho các em kĩ năng trình bày bài sao cho đẹp, khoa học, đảm bảo tốc độ viết. các em làm tốt việc đọc viết thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, viết sẽ rất thuận lợi. Học sinh chăm chỉ viết bài 3.2. Xây dựng mối quan hệ giao tiếp tốt giữa cô và trò. Học sinh Tiểu học là lứa tuổi hồn nhiên trong sáng, hiếu động nhưng cũng rất nhạy cảm. Giáo viên phải chịu khó quan tâm đến từng cá nhân học sinh. Vì vậy là người giáo viên ở bậc tiểu học, đặc biệt là cô giáo chủ nhiệm lớp1. Tôi đã hiểu rõ được trách nhiệm của mình. Trong giáo dục các em tôi luôn yêu thương các em như con của mình, khéo léo và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của các em nhưng không cho phép mình vượt quá
  10. 12 giới hạn. Để các em được học tập và vui chơi một cách vui vẻ và đạt được kết quả tốt nhất. Khi lên lớp tôi luôn tạo bầu không khí ấm cúng như một gia đình, tạo điều kiện cho các em phát triển tự nhiên một cách toàn diện. Tôi luôn luôn yêu thương các em giống nhau. Càng những em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, như nhà nghèo hay mồ côi cha hoặc mẹ, những em bố mẹ đi làm ăn xa ở cùng ông bà tôi càng muốn che chở và bảo vệ các em. Trong lớp tôi đang phụ trách có 1 em học sinh mồ côi cha từ khi còn rất nhỏ (em Hà Đình Lâm Tùng), em là một cậu học trò ngoan ngoãn, được các bạn yêu quý. Đối với em tôi luôn dành cho một tình cảm nhất định, bởi tôi nghĩ em đã mất đi một người thân, em cần nhận được nhiều sự yêu thương nhiều hơn từ những người khác. Tôi thường xuyên trao đổi với mẹ về tình hình của em ở lớp. Tôi muốn mẹ em tự hào về em, muốn em được sống hòa đồng, vui vẻ. Để em có động lực cố gắng hơn nữa trong học tập. Hay như em học sinh (em Hà Đình Dũng) là một học sinh thuộc gia đình hộ nghèo. Tai nạn giao thông đã làm cho cha em trở thành người tàn phế, ngồi xe lăn không tự phục vụ được do vậy kinh tế gia đình em rất khó khăn, nên em cũng phải chịu nhiều thiệt thòi. Trong học tập em nhận thức rất chậm, lại ít nói, thời gian đầu khi đến lớp cô giáo hỏi em thường không trả lời. Tôi thường xuyên quan tâm, gần gũi em, cho em những viên phấn, những cây bút chì khi mẹ không chuẩn bị cho em trước khi đến lớp. Kèm em đọc vào các giờ ra chơi, vào các giờ luyện đọc, hướng dẫn tỉ mỉ, những chữ em hay quên tôi thường áp vào tên một số con vật, đồ vật hàng ngày hay được nhắc đến để em dễ nhớ. Bây giờ em đã đọc được nhiều chữ, biết viết theo sự hướng dẫn của cô, hăng hái giơ tay phát biểu mỗi khi có câu hỏi phù hợp với năng lực nhận thức của em, đã biết thưa cô mỗi khi bị các bạn bắt nạt. Em mạnh dạn chia sẻ khó khăn khi em không tự mình giải quyết được. Em đã sống hòa đồng cùng các bạn, em nói cười vui vẻ, cởi mở hơn nhất nhiều so với ngày đầu em đến trường. Trong tất cả các hoạt động giáo dục, tôi luôn ứng xử với các em học sinh bằng những hành vi cử chỉ dịu hiền, nhẹ nhàng, cởi mở, vui tươi tạo cho các em một cảm giáo an toàn, bình yên, dễ chịu khi đến trường. Nhờ có cảm giác an toàn các em mới bộc lộ hết sự ngây thơ, hồn nhiên trong trắng của tuổi học trò. Từ đó các em sẽ mở sộng lòng mình, coi tôi như một người bạn lớn tuổi của mình để chia sẻ những điều các em muốn và cần chia sẻ với tôi. Tôi luôn tôn trọng, lắng nghe những chia sẻ của các em cho dù sự chia sẻ đó có như thế nào. Ví dụ trong lớp có em Trần Thị Ngọc Hân là một học sinh nhút nhát em quên bất cứ đồ dùng gì khi sử dụng đến không có là em lại khóc. Khi em đã khóc thì tôi nhẹ nhàng hay động viên thế nào thì cũng phải mất 5 hay 7 phút em mới có thể nghín khóc được. Trong lớp em ít khi chia sẻ ý kiến, nói và đọc nhỏ cô trò trong lớp phải thực sự chú ý lắng nghe mới có thể nghe được. Trước thực tế của
  11. 13 em như vậy tôi luôn nhẹ nhàng gần gũi, chia sẻ với em. Tôi nói với em là ai cũng có lúc quên. Khi quên đồ dùng gì thì con mạnh dạn hỏi bạn bên cạnh có thì cho con mượn còn không thì con có ý kiến với cô, cô sẽ giúp con. Cho đến bây giờ em đã bỏ được tính hay khóc, sự nhút nhát em đã biết nêu yêu cầu đề nghị khi cần thiết. Em đã nói, đọc to hơn so với đầu năm rất nhiều. Trước mỗi tình huống xảy ra tôi luôn giữ bình tĩnh, không vội vàng, nóng nảy. Bởi tôi nghĩ nếu thiếu sự kiềm chế sẽ có thái độ, hành vi không hợp lí với các em. Trước mỗi tình huống xảy ra tôi tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất thường của các em để có hướng giải quyết hợp lí nhất. Ví dụ: Trong lớp tôi có em Nguyễn Anh Vũ em là một học sinh nhận thức nhanh nhưng hiếu động em hay có trò nghịch dại. Em có thể dùng bút mực thẳng tay vẩy đầy mực vào vở của bạn làm bạn khóc khi đang viết bài. Em dùng chân đẩy ghế, dùng bút chì chọc vào lưng của bạn ngồi đằng trước trong giờ học. Các bạn đứng lên có ý kiến làm ảnh hưởng đến tiết học. Trước những tình huống mà em gây ra thực sự làm cho tôi rất bực mình nhưng tôi đã bình tĩnh nhắc nhở em là không được làm như vậy. Đến giờ ra chơi hay lúc tan học tôi hẹn em ở lại gặp cô. Tôi hỏi em lí do, vì sao con làm như vậy? Tôi nhẹ nhàng phân tích cho em hiểu những việc làm của em như vậy là không đúng. Đến nay em đã thay đổi em thường xuyên biết quan tâm và giúp bạn. Em còn biết giúp đỡ bạn Phương Linh một học sinh đọc, viết chậm để bạn hoàn thành bài. Em thường xuyên giao tiếp cùng cô. Sự tiến bộ của em tôi và gia đinh em cảm thấy ấm lòng. Em Nguyễn Anh Vũ hướng dẫn bạn Phương Linh làm toán Tôi đối xử công bằng với tất cả các em học sinh, không phân biệt so sánh học sinh này với học sinh kia. Tôi luôn dành tình yêu và sự quan tâm với các em là như nhau, tránh việc quan tâm đến một em nào đó. Bởi mỗi học sinh có một đặc