Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh Lớp 4 học tốt văn miêu tả
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh Lớp 4 học tốt văn miêu tả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giup_hoc_sinh_lop_4_h.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp học sinh Lớp 4 học tốt văn miêu tả
- Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách viết bài văn miêu tả chân thực, có trình tự hợp lý, có trọng tâm và chọn được những nét tiêu biểu của đối tượng miêu tả, bộc lộ được cảm xúc chân thành khi viết văn và có lời văn sinh động, gợi tả- gợi cảm. 3. Hướng dẫn học sinh xác định đúng trọng tâm của đề. Mục tiêu: Giúp định hướng quá trình làm bài của học sinh, tránh làm bài lạc đề. 4. Hướng dẫn quan sát đối tượng miêu tả, ghi chép những điều quan sát được. Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách quan sát để nhận biết sự vật và tìm ra các đặc điểm nổi bật của sự vật, ghi chép lại một cách hợp lí. 5: Hướng dẫn học sinh sắp xếp ý để được một dàn bài chi tiết và viết thành đoạn, bài, diễn đạt có nghệ thuật. Mục tiêu: Giúp học sinh có kĩ năng sắp xếp ý- lập dàn bài chi tiết cho : Mở bài - Thân bài - Kết bài. Biết dùng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm và các biện pháp nghệ thuật khi viết đoạn, bài. 6. Giúp học sinh phát hiện ra lỗi sai trong bài làm và tự sửa lỗi. Mục tiêu: Nhằm giúp các em thấy được ưu, nhược điểm trong bài viết của mình, tìm ra cách sửa sai để tiến bộ. 7. Khen ngợi, động viên học sinh kịp thời. Mục tiêu: Giúp học sinh tăng thêm lòng tự tin với bản thân, khích lệ các em phấn đấu học tập tốt hơn. II. NỘI DUNG VÀ CÁCH THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP: 1. Tìm hiểu và phân loại đối tượng học sinh. Sau bài kiểm tra tuần 2, tôi tiến hành phân loại học sinh. Căn cứ vào đó để nắm được từng đối tượng học sinh, từ đó đề ra kế hoạch dạy học phù hợp. Chẳng hạn: Học sinh đã viết được bài văn miêu tả đúng bố cục, tôi hướng dẫn thêm để học sinh biết sử dụng nhiều từ ngữ miêu tả giàu hình ảnh và sử dụng các biện pháp nghệ thuật vào bài để bài viết hay hơn. VD: Tả cây hoa hồng. - Dùng từ ngữ gợi tả “Những chiếc lá hồng non óng mượt, màu nâu đỏ pha sắc tím. Mặt trên như láng mỡ, mặt dưới mịn màng, nổi bật những đường gân nhỏ li ti”. - Dùng biện pháp so sánh: “Nụ hồng mới ra búp chúng như những chiếc đèn ngủ được bao bọc bởi đài hoa xanh biếc. Khi hoa hé nở, những cánh hoa nhỏ úp vào nhau, tạo thành những nụ hoa chúm chím như đôi môi đỏ hồng của người thiếu nữ”. - Dùng biện pháp nhân hoá: “Khi ông mặt trời nhô lên phía sau ngọn núi, cánh hoa lại nghiêng mình hứng lấy những tia nắng ban mai”. Còn học sinh yếu, tôi hướng dẫn bước đầu học sinh viết đúng và đủ bố cục bài văn miêu tả, dùng từ ngữ phù hợp, viết đúng chính tả. Ví dụ tả con mèo: Trước tiên, tôi cho học sinh nhắc lại cấu tạo bài văn miêu tả con vật gồm mấy phần? Hệ thống cho học sinh từng phần viết như thế nào? 3/15
- Chẳng hạn: Mở bài: Giới thiệu con vật ở đâu? Ai nuôi? (Nhà em nuôi được một chú mèo trông rất đáng yêu). Thân bài: Tả ngoại hình: Bộ lông thế nào? (Bộ lông màu xám tro, rất mượt). Hai mắt ra sao? (Hai mắt sáng và tinh). Tai như thế nào? (Tai vểnh lên như luôn nghe ngóng. Mỗi khi có tiếng động nhẹ là chú phát hiện ngay). Bốn chân như thế nào? (Bốn chân thon thon và rất nhanh nhẹn. Chú đi lại thật nhẹ nhàng, không gây một tiếng đông nhỏ nhờ có miếng thịt mềm dưới bàn chân. ...) Tả hoạt động: Bắt chuột thế nào? (Sau mỗi bữa ăn buổi tối là chú ngồi ngay gần bao thóc để rình chuột. Hễ con chuột nào bén mảng đến là mèo nhảy ra vồ ngay. ...). Các hoạt động hoặc thói quen khác? (Buổi sáng chú thường chơi đùa với con cún, có khi đùa với chính cái bóng của mình hay con bướm nhỏ. Đùa giỡn chán chú nằm dài ra giữa sân phơi nắng...) Kết bài: Cảm nghĩ của em về con vật ? (Em rất thích chú mèo này. Nhờ có chú mà quanh nhà em không còn bóng dáng một con chuột nào nữa). Như vậy, để nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh cần phân loại đối tượng học sinh và giảng dạy theo đối tượng. Từ đó giúp các em dần tiến bộ và yêu thích môn học hơn. 2. Hướng dẫn học sinh nắm được những yêu cầu chung của bài văn miêu tả. 2.1. Bài văn miêu tả chân thực. Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc (nghe) bức tranh về một đối tượng (một cây cụ thể, một loài cây, một con vật cụ thể, một loài vật, ) đã làm ta chú ý và cảm xúc sâu sắc. Do vậy, bài văn miêu tả trước hết cần có tính chân thực (đúng thực tế, đúng bản chất của đối tượng). Nhà thơ Tố Hữu có viết: "Văn chương là sáng tạo, là tưởng tượng, nhưng đừng có nói dối, đừng bịa đặt những điều mà mình không nghĩ, không cảm nhận chân thật''. Dạy cho học sinh tiểu học miêu tả chân thực một đối tượng, trước hết phải đi từ yêu cầu tả đúng thực tế. Nghĩa là thông qua việc quan sát trực tiếp, bằng nhiều giác quan, chọn được từ ngữ thích hợp, diễn tả đúng được đối tượng, không làm cho người đọc hiểu sai hoặc không hình dung được đối tượng đó. 2.2. Bài văn miêu tả có trình tự hợp lý. Để giúp người đọc (nghe) tái hiện được đối tượng miêu tả một cách chân thực, sinh động, bài văn miêu tả phải tuân theo một trình tự hợp lý. Thường là trình tự theo thời gian, theo không gian, theo cấu tạo hoặc kết cấu..., cũng có thể là trình tự của sự hứng thú, sở thích, theo mạch diễn biến của tâm lí con người.... Điều quan trọng là văn miêu tả phải diễn tả liền mạch, trong sáng, tình cảm, không miêu tả lộn xộn, trùng lặp hay tản mạn, rườm rà....Do vậy, trong văn miêu tả tôi thường hướng dẫn học sinh quan sát, miêu tả theo những trình tự như sau: 4/15
- - Tả theo trình tự thời gian: Cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước, cái gì xảy ra sau (có sau) thì miêu tả sau. Trình tự này thường được vận dụng trong bài tả cây cối theo từng thời kì phát triển của cây. Ví dụ: Cây gạo già mỗi năm lại trở lại tuổi xuân, cành nặng trĩu những bông hoa đỏ mọng Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn. Cây gạo chấm dứt những ngày tưng bừng ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư. Cây đứng im cao lớn, hiền lành, làm tiêu cho những con đò cập bến và cho những đứa con về thăm quê mẹ. Ngày tháng đi thật chậm mà cũng thật nhanh. Những bông hoa đỏ ngày nào đã trở thành những quả gạo múp míp, Sợi bông trong quả đầy dần, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho những múi bông nở đều, chín như nồi cơm chín đội vung mà cười, trắng lóa. Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới. (Bài "Cây gạo"- Vũ Tú Nam, Trích "Tiếng Việt 4 tập II - SGK). - Tả theo trình tự không gian: Từ xa đến gần, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ trái qua phải... hoặc ngược lại. Trình tự này thường được vận dụng khi miêu tả lần lượt từng bộ phận của cây, của đồ vật. Ví dụ: Đoạn văn tả cây chuối của bạn Hồng Nhung: Nhìn từ xa, cây chuối như chiếc ô xanh mát rượi. Thân cây cao hơn đầungười, mọc thẳng, không có cành, chung quanh là mấy cây con đứng sát lại thành bụi. Cây chuối có nhiều tàu lá, có tàu đã già khô, bị gió đánh rách ngang và rũ xuống gốc. Các tàu lá còn xanh thì liền tấm, to như cái máng nước úp sấp. (Trích Vở bài tập Tiếng Việt 4 Tập II). Khi đã nắm được các trình tự trên, học sinh có thể vận dụng linh hoạt trong việc trình bày bài viết (hoặc nói). 2.3. Bài văn miêu tả có trọng tâm và chọn được những nét tiêu biểu của đối tượng miêu tả. - Thông thường, trọng tâm miêu tả phụ thuộc vào yêu cầu của đề bài cho trước. Ví dụ: Tả vườn rau (vườn hoa) thì trọng tâm là các luống rau - cây rau (hoặc những luống hoa, cây hoa) với những nét nổi bật, tiêu biểu của nó; cảnh xung quanh có liên quan (cây cối - chim chóc - người...) chỉ là phụ, không cần tả kĩ. - Tuy nhiên, trọng tâm miêu tả không chỉ phụ thuộc vào yêu cầu của đề bài mà còn phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể và những nét đặc biệt nổi bật của đối tượng đó. Ví dụ: Tả cây sầu riêng, nhà văn Mai Văn Tạo tập trung vào những điểm nổi bật của hương vị sầu riêng: “Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam. Hương vị nó hết sức đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa, lâu tan trong không khí. Còn hàng chục mét mới tới nơi để sầu riêng, hương đã ngào ngạt xông vào cánh 5/15
- mũi. Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái ngọt của mật ong già hạn. Hương vị quyến rũ đến kì lạ”. Tả cây phượng, nhà văn Xuân Diệu tập trung vào những điểm nổi bật của hoa mà không tả kĩ các bộ phận của cây: "Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành; phượng đây là cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cả xã hội thắm tươi; người ta quên đóa hoa, chỉ nghĩ đến cây, Nhưng hoa càng đỏ, lá lại càng xanh. Vừa buồn mà lại vừa vui mới thực sự là nỗi niềm bông phượng. Bình minh của hoa phượng là màu đỏ còn non, nếu có mưa, lại càng tươi dịu.” - Như vậy, tả có trọng tâm và chọn được những nét riêng tiêu biểu sẽ làm cho đối tượng được miêu tả hiện ra sinh động, có những nét riêng độc đáo, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc. 2.4. Bài văn miêu tả bộc lộ được cảm xúc chân thành của người viết. Miêu tả không phải là tái hiện lại đối tượng theo kiểu "chụp ảnh", mà chính là bộc lộ tình cảm và ý nghĩ của mình đối với vật được miêu tả. Những bài miêu tả thiếu cảm xúc thường khô khan, không truyền cảm được cho người đọc. Do vậy, ngoài việc quan sát kĩ đối tượng, học sinh cần phải có suy nghĩ, phát hiện ra những nét đẹp, nét đáng yêu của đối tượng; cần có sự liên tưởng, tưởng tượng để bộc lộ cảm xúc của mình, thể hiện rõ mối quan hệ giữa người tả và đối tượng được miêu tả. "Cách cảm, cách nghĩ" chân thành, giàu tình cảm yêu thương, quý trọng những vẻ đẹp của đối tượng sẽ làm cho bài văn miêu tả có tâm hồn, sẽ đem đến cho người đọc những cảm xúc. Đó là yếu tố cần thiết của một bài văn hay. Ví dụ: Tả hàng cây quen thuộc bên đường đi học. Học sinh cần nêu được những nét đáng yêu của hàng cây; sự thân thiết của mình với cây ra sao; sự thay đổi của nó so với hôm qua như thế nào và tương lai, hàng cây ấy sẽ có gì đẹp đẽ hơn, ý nghĩa hơn với bản thân và với mọi người... Chính vì vậy, chỉ khi nào người viết có tình cảm thực sự với vật được miêu tả thì bài văn mới bộc lộ được những cảm xúc chân thành. Người đọc mới thật sự rung cảm trước đối tượng được miêu tả. 2.5. Bài văn miêu tả diễn đạt bằng lời văn sinh động, gợi tả- gợi cảm. Vận dụng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm vào viết văn và lựa chọn được từ ngữ miêu tả hợp lí là yêu cầu quan trọng, đòi hỏi phải được đặt ra một cách nghiêm túc. Muốn làm được yêu cầu này thì người viết trước hết phải có vốn từ phong phú. Ngoài ra còn đòi hỏi học sinh phải hiểu nghĩa từ, tác dụng của từ, cách sử dụng từ. Ví dụ: Khi tả cây ăn quả, tôi đã gợi ý để học sinh tìm ra những từ chỉ màu sắc thích hợp tả quả khi chín như: vàng tươi, vàng ươm, đỏ mọng, Còn khi tả 6/15
- cây đang lên xanh tốt học sinh phải chọn nhóm từ chỉ sắc xanh của lá: xanh non, xanh mượt mà, xanh thẫm, Tả cánh hoa màu đỏ, có thể lựa chọn từ ngữ phù hợp (đỏ tươi, đỏ thắm, đỏ rực...). Để nói lên tình cảm, sự chăm sóc của con người đối với cây cối, con vật, đồ vật (tưới nước, bắt sâu, tỉa lá, vuốt ve, nựng, nâng niu, ) Hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng các từ ngữ phù hợp văn cảnh nhằm diễn tả sinh động đối tượng được nói đến, giúp người đọc cảm nhận được vật đó như đang ở trước mặt. Ví dụ: "Mặt trời đã lên cao" (câu văn kể); "Mặt trời đỏ lựng, tròn vành vạnh như cái mâm con, đã lên cao trên đỉnh núi khoảng một con sào" (câu văn tả). Bài văn miêu tả thiếu đi các từ ngữ có sức tạo hình, gợi cảm thì chắc chắn sẽ không thể hay. Nhưng cũng cần ý thức được rằng nếu dùng từ ngữ, hình ảnh tuỳ tiện hoặc khuôn sáo, bắt chước một cách lộ liễu thì cách miêu tả cũng không có sức thuyết phục. Cụ thể từ ngữ trong văn miêu tả phải thật chính xác. Dùng từ hay không có nghĩa là từ đó phải “kêu”. Dùng từ phong phú không có nghĩa là liệt kê ra thật nhiều. Điều quan trọng là người tả cần chọn đúng từ ngữ diễn tả chính xác nhất cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả. Ví dụ: Cùng tả về hoa gạo có em viết: “Nhìn từ xa cây gạo đỏ rực như lửa. Những bông hoa gạo nở bung ra như thắp lên những đốm lửa đỏ hồng làm bừng sáng cả khúc sông”. Còn nhà văn Vũ Tú Nam lại viết: “Những bông hoa gạo rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng nom thật đẹp”. Rõ ràng cùng tả hoa gạo nhưng có nhiều cách dùng từ, đặt câu khác nhau. Việc sử dụng nhiều từ ngữ gợi tả, gợi cảm khác nhau không chỉ tạo nên những câu văn hay mà còn khơi dậy cho các em những ước mơ tốt đẹp, lòng yêu thiên nhiên, yêu cái thiện, cái đẹp. Bên cạnh việc lựa chọn từ ngữ gợi tả, gợi cảm, vấn đề tạo hình ảnh trong văn miêu tả cũng không kém phần quan trọng. Có thể thấy rõ câu văn miêu tả giàu hình ảnh bao nhiêu thì sức gợi cảm của nó sẽ lớn bấy nhiêu. Vì vậy, giáo viên cần giúp các em viết được câu văn có giá trị nghệ thuật. Tôi rất tâm đắc với quan điểm của Phạm Hổ: ”Không có cái mới thì không có văn học”. Trước khi viết học sinh phải lựa chọn được những chi tiết nào có thể miêu tả theo cách so sánh hay nhân hoá. Chọn được chi tiết rồi ta mới lựa chọn xem so sánh với gì và nhân hoá như thế nào. Ví dụ: Bài tả cây cam đang mùa quả chín. Câu văn: ” Những chùm cam chín vàng trông thật ngon”. Học sinh có thể viết thành: ” Những chùm cam chín vàng, da căng mọng như mời gọi mọi người đến thưởng thức”. 7/15
- 3: Hướng dẫn học sinh xác định đúng trọng tâm của đề bài. Đây là một bước rất quan trọng. Nó là bước định hướng quá trình làm bài của học sinh. Định hướng đúng học sinh sẽ làm bài đúng, định hướng sai dẫn đến HS làm bài sai (lạc đề). Vậy để giúp học sinh lớp 4 làm đúng đề bài, tôi đã yêu cầu như sau: 3.1. Đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu của đề: Tôi yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ, những vế câu, chọn ra những từ ngữ quan trong nhất, gạch dưới những từ ngữ đó. 3.2. Trả lời những câu hỏi sau: + Đề bài thuộc kiểu bài gì? (Tả đồ vật, cây cối hay tả con vật). + Đối tượng miêu tả là gì? (Ví dụ: Đồ chơi, đồ dùng học tập, Cây hoa, cây bóng mát, cây ăn quả, Con vật nuôi trong gia đình, con vật gặp trên đường, con vật thấy trên truyền hình, ). + Phạm vi miêu tả? (Ví dụ: Đồ vật của em hay của ai?...Cây trồng ở trường, ở nhà hay ở hai bên đường, ... ). Ví dụ đề bài: Em hãy tả một cây cho bóng mát. - HS đọc kỹ đề bài gạch chân dưới các từ ngữ quan trọng: Tả một cây cho bóng mát. - HS trả lời các câu hỏi sau: + Đề bài thuộc kiểu bài gì? (Tả cây cối) + Đối tượng miêu tả là gì? (Tả cây bàng, cây sà cừ,...) + Phạm vi miêu tả? ( Ở sân trường, hai bên đường, sân nhà văn hoá thôn...) 4: Hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng miêu tả và ghi chép lại những điều quan sát được. 4.1. Cách quan sát. Học sinh muốn miêu tả hay phải tập quan sát, phải có công quan sát tỉ mỉ, phải sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật và tìm ra các đặc điểm nổi bật của sự vật. Nếu học sinh không được hướng dẫn quan sát đúng thì dẫn đến miêu tả sự vật một cách chung chung không đúng thực tế. Chính vì vậy, tôi thường hướng dẫn học sinh quan sát như sau: a. Quan sát bằng nhiều giác quan. Học sinh tiểu học thường quen quan sát bằng mắt nhiều hơn các giác quan khác, do đó bài văn thường nghèo ý. Tập cho học sinh có thói quen quan sát bằng nhiều giác quan sẽ làm cho bài văn có nội dung phong phú, diễn tả sinh động hơn. - Dùng mắt, ta thường phân biệt được hình khối, màu sắc của sự vật. Nhìn kỹ và tinh, có thể phát hiện ra nhiều nét đặc biệt của sự vật. Nhờ đó tác giả đã vẽ ra được hình ảnh những cái cây thật gần gũi, đáng yêu như: „Ở đầu bản tôi có mấy 8/15
- cây trám đen. Thân cây cao vút, thẳng như một cột nước từ trên trời rơi xuống. Cành cây mập mạp, nằm ngang, vươn tỏa như những gọng ô. Trên cái gọng ô ấy xòe tròn một chiếc ô xanh ngút ngát. Lá trám đen chỉ to bằng bàn tay đứa trẻ lên ba, nhưng dài chừng một gang tay”(Theo Vi Hồng, Hồ Thủy Giang). - Dùng tai, ta nghe thấy được âm thanh, nhịp điệu và gợi được cảm xúc tới người đọc, người nghe. Ví dụ: Từ xa nhìn lại, cây dừa cao to, xùm xòa. Thân cây được bao bọc bên ngoài bằng lớp vỏ cứng, sần sùi. Các tàu lá dừa màu xanh sẫm, to và xòe ra mọi phía. Những tàu lá đang dùng chiếc vĩ cầm của mình kéo thành một bản nhạc, hòa tấu cùng tiếng sóng biển, tiếng gió rì rào tạo nên những âm thanh êm dịu( Trích Tiếng Việt 4 tập II trang 84). - Dùng mũi, ta phân biệt được các mùi vị khác nhau có tác động đến cảm giác của con người. Chỉ một mùi thơm của rừng hồi xứ Lạng được nhà văn nhà văn Tô Hoài quan sát và cảm thấy bay xa vô tận : “Rừng hồi ngào ngạt, xanh thẫm trên các quả đồi quanh làng. Những cơn gió sớm đẫm mùi hồi, từ các đồi trọc Lộc Bình xôn xao, tràn vào cánh đồng Thất Khê, lùa lên những hang đá Văn Lãng trên biên giới, ào xuống Cao Lộc, Chi Lăng. Một mảnh lá gãy cũng dạy mùi thơm....”. - Có nhiều đối tượng, có thể dùng vị giác, xúc giác giúp ta quan sát và cảm nhận được đặc điểm nổi bật của chúng. Nhờ cách quan sát đó nhà văn Mai Văn Tạo đã giúp cho những người chưa từng ăn sầu riêng cũng như cảm nhận được hương vị của nó trên đầu lưỡi (Sầu riêng thơm cái thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái ngọt của mật ong già hạn). Và chỉ khi ta chạm tay, sờ tay tận nơi ta mới cảm nhận được cảm giác đặc biệt riêng của sự vật: “Đến gần mới thấy rõ thân chuối như cột nhà. Sờ vào thân thì không còn cảm giác mát rượi vì cái vỏ nhẵn bóng của cây đã hơi khô” (Trích SGV TV 4). Ví dụ: Tả cây ăn quả, tôi yêu cầu HS quan sát theo định hướng sau: - Sử dụng thị giác: Quan sát hình dáng của cây như thế nào? Màu sắc của lá, hoa, quả như thế nào? - Sử dụng xúc giác: Sờ tay lên thân cây em thấy thế nào? - Sử dụng khứu giác: Ngửi mùi quả chín em thấy thế nào? Tóm lại, muốn tái hiện chân thực các sự vật, hiện tượng, cách quan sát tốt nhất là phải dùng kết hợp các giác quan nếu có thể được. Có như vậy, bài văn mới đa dạng, phong phú và lột tả được vẻ đẹp riêng biệt của sự vật. b. Quan sát tỉ mỉ, nhiều lượt. Quan sát một đối tượng, nếu chỉ một lần và thoáng qua, khó nắm bắt được nhiều đặc điểm của sự vật. Do vậy, cần quan sát thật tỉ mỉ ở nhiều góc độ, nhiều 9/15
- khía cạnh và quan sát nhiều lượt để hiểu rõ hơn về đối tượng. Đọc đoạn văn tả “cây bàng thay lá” dưới đây, ta thấy rõ kết quả quan sát rất kĩ của nhà văn. „Chỉ vài hôm lộc non đã tràn đầy trên bàn tay mùa đông của cây bàng. Dáng mọc của lộc rất lạ, thẳng đứng trên cành, như thể đêm qua có ai đã thả ngàn vạn búp lá nhỏ xíu từ trên trời, xanh biếc chi chít đầy cành và xoay thành những tán tròn quanh thân cây. Lá non lớn nhanh, đứng thẳng và cao chừng gang tay, cuộn tròn như những chiếc tai thỏ. Khi những tai thỏ xòe ra thành vài ba chiếc lá nhỏ, cây bàng nảy thêm một lứa lộc lần thứ hai màu đỏ đọt giữa những chùm lá; tán bàng bây giờ là một màu áo lục non lỗ đỗ những vệt hoa hồng thắm (Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường). c. Xác định rõ vị trí, thời điểm và trình tự quan sát. Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu quan sát đối tượng, ta có thể chọn vị trí (gần hay xa, trên cao hay dưới đất, ...), thời điểm (sáng hay trưa, chiều, tối; mùa xuân hay mùa hạ, mùa thu...) và trình tự quan sát (thời gian hay không gian...). Đứng ở đền Hùng, trên cao, nhà văn Đoàn Minh Tuấn mới thấy được: “Bên phải là đỉnh Ba Vì vòi vọi, bên trái là dãy Tam Đảo như bức tường sừng sững. Trước mặt, ngã ba Hạc như một hồ lớn”. Ví dụ : Tả cây bàng, tôi hướng dẫn quan sát trình tự theo mùa trong năm hoặc theo từng thời kỳ phát triển của cây. Dưới đây là một cách để quan sát lá bàng: - Mùa hè lá bàng như thế nào? - Sang thu lá bàng thay đổi màu sắc ra sao? - Cuối đông lá bàng như thế nào? - Mùa xuân lá bàng ra sao? Như vậy, quan sát theo một trình tự hợp lí, vừa giúp học sinh tường thuật mạch lạc, vừa tạo điều kiện cho học sinh miêu tả sinh động bức tranh về sự vật. d. Chú ý tìm những nét riêng, nét tiêu biểu để phân biệt đối tượng được tả với đối tượng khác cùng loại: Đúng như nhà thơ Tô Hoài - người có tài quan sát rất giỏi, đã nói : “Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề. Nhiều khi chẳng cần dàn đủ sự việc, chỉ chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhất, mình đã khổ công ngắm, nghe, nhìn, nghĩ kĩ mới thấy bật lên được thì thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được”. (Trích “Sổ tay viết văn”- NXB Tác phẩm mới 1977). Tìm được những nét riêng, nét tiêu biểu của sự vật trong quá trình quan sát chính là đã: “Cụ thể hóa” đối tượng. Khi đưa vào bài văn, những nét đó sẽ gây được ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc. Ví dụ: Tả cây bàng ở sân trường. 10/15
- Tôi hướng dẫn học sinh tìm các chi tiết để phân biệt cây bàng ở sân trường khác với những cây bàng khác ra sao? Học sinh đã tìm được chi tiết: „Thân cây ở phần gần gốc nhẵn thín vì giờ chơi nào đám học trò cũng nô đùa quanh gốc cây, bám lấy thân cây mà âu yếm vuốt ve”. Quan sát cần biết xác định đúng trọng tâm, thường là những điểm chính nổi bật. Có như vậy, bài viết mới tránh khỏi dàn trải, chung chung.Vì vậy, ngay trong cách quan sát để miêu tả, tôi luôn hướng dẫn học sinh tìm ra cái mới, cái riêng. Nhưng cái mới, cái riêng phải gắn với chân thật. 4.2. Ghi chép những điều quan sát được bằng những từ ngữ chính xác, phù hợp, giàu hình ảnh. Qua những giờ học Tiếng Việt, học sinh đã được tích luỹ vốn từ để miêu tả. Học sinh có vốn từ rồi nhưng phải biết dùng chúng phù hợp với văn cảnh. Muốn vậy học sinh phải biết coi trọng việc lựa chọn từ ngữ khi diễn đạt. Ví dụ Miêu tả cây cam: Học sinh đã lựa chọn từ ngữ miêu tả như sau: “Mới ngày nào, quả còn tí xíu như đầu ngón tay, da dày, xanh đậm, có vỏ xù xì. Nhưng chỉ vài tháng sau làn da ấy cứ mỏng dần, chuyển từ màu xanh sang màu vàng. Những quả cam đã căng tròn, mọng nước treo lơ lửng trên cây như những chiếc đèn lồng nhỏ.” 5. Hướng dẫn học sinh cách sắp xếp ý để tạo được một dàn bài chi tiết và viết thành đoạn, bài diễn đạt có nghệ thuật. Để học sinh có bài văn tốt tôi rèn cho học sinh kĩ năng sắp xếp ý- lập dàn bài chi tiết cho : Mở bài - Thân bài - Kết bài. 5.1. Mở bài. Mở bài thường có hai cách: trực tiếp và gián tiếp. Tùy trình độ và sở thích của mỗi học sinh, có thể mở bài theo cách trực tiếp hay gián tiếp. Điều quan trọng là mở bài phải tự nhiên, không gò bó hoặc thô thiển. * Mở bài theo cách trực tiếp: Trong vườn nhà em trồng rất nhiều loại hoa như lan, huệ, hồng.... Mỗi loại hoa có một vẻ đẹp riêng. Nhưng em thích nhất vẫn là cây mai vàng mà ông nội trồng trong chậu đặt ngay ở góc sân nhà. * Mở bài theo cách gián tiếp: Chưa có mùa xuân nào vườn hoa nhà em lại nở nhiều bông như xuân năm nay. Hình như chúng đua nhau thi tài, khoe sắc, xem ai đón xuân đúng ngày, đúng tháng theo "dự kiến" của cô chủ. Vừa mới 26, 27 Tết, chúng đã rục rịch hé nở. Nào hồng, nào huệ, rồi lay ơn, thược dược... loài nào cũng đẹp, cũng thơm. Nhưng đẹp nhất vẫn là cây mai vàng mà ông nội trồng trong chậu đặt ngay ở góc sân nhà. 5. 2.Thân bài. 11/15
- *Thân bài là phần chính bao gồm nhiều ý, đòi hỏi sự sắp xếp các ý theo một trình tự nhất định, bảo đảm tính hợp lí - chặt chẽ, làm nổi rõ yêu cầu của đề bài. *Việc sắp xếp ý ở phần thân bài tùy thuộc vào từng loại bài và nội dung cụ thể cần làm rõ trong bài viết (hoặc nói). Dựa vào trình tự quan sát- tìm ý và dàn bài chung được học ở mỗi thể loại, học sinh có thể sắp xếp ý theo trình tự quan sát hoặc theo trình tự các ý cơ bản của phần thân bài và đối tượng miêu tả. *Ví dụ: Miêu tả con vật: Có thể quan sát, miêu tả đặc điểm nổi bật về hình dáng bên ngoài của con vật rồi miêu tả đến hoạt động và thói quen của con vật đó. Hoặc miêu tả từng bộ phận của con vật kết hợp với hoạt động của bộ phận đó. Dàn ý: Miêu tả con gà trống: - Tả bao quát về hình dáng: Thân hình chắc nịch. - Bộ lông: Màu đỏ thẫm. - Mào: Đỏ chót. - Đôi mắt: Tròn xoe. - Hai cánh: Như hai chiếc quạt mo. - Đuôi: Đỏ, đen, xanh. - Chân: Cao, to, vàng óng, có cựa và móng sắc, nhọn. Sau khi đã có dàn ý và được sắp xếp theo trình tự, tôi hướng dẫn học sinh dựa vào dàn ý xây dựng đoạn văn và diễn đạt có nghệ thuật, biết bộc lộ cảm xúc. „Mẹ em bảo chú gà trống này thuộc vào thế hệ "lão thành" sống với gia đình em từ lâu, cứng rắn và khỏe mạnh nhất trong số những con còn lại. Thân chú to như chiếc ấm ủ, chắc nịch. Mỗi khi chú cất tiếng gáy đều làm cho gia đình xung quanh thức giấc. Bộ lông đầy màu sắc sặc sỡ nhưng màu sắc chủ đạo nhất vẫn là màu đỏ thẫm. Cái đầu của chú rất to với hai con mắt tròn xoe, nhỏ như hai hạt đậu long lanh, sáng quắc. Có lẽ đây là lợi thế tìm mồi nhanh hơn bất kì con gà nào. Chú có điểm riêng khác biệt với những con gà khác chính là chiếc mào đỏ chót nhưng dày và nặng trĩu xuống che gần kín một bên mắt. Có lẽ bộ lông của gà trống mềm mại nhất là ở cổ. Những chiếc lông đầy đủ màu sắc khiến cho chiếc cổ của gà trống trở nên dài và khỏe khoắn hơn. Hai cánh chú như hai chiếc quạt mo úp vào hai bên sườn của chú. Mỗi lần định cất tiếng gáy nó đều có thói quen nhảy phốc lên cây rơm, vỗ cánh phành phạch và bắt đầu cất cao giọng gáy vang ò...ó...o... Cái đuôi là một túm lông nhiều màu, cong vút và rất dài của chú là điểm nhấn khiến cho thân hình nó càng trở nên cân đối và hài hòa hơn. Cặp chân chú vàng óng, chắc nịch với những chiếc cựa và móng sắc nhọn là vũ khí tự vệ lợi hại của chú. Khi đối đầu với con gà khác thì chắc chắn chú gà trống nhà em sẽ nắm chắc phần thắng. Cho nên những con gà trống khác ít khi dám bén mảng đến gần chú.” 12/15
- *Sắp xếp ý theo trình tự các ý cơ bản của phần thân bài không do người viết (nói) đặt ra mà phụ thuộc vào đối tượng miêu tả. Tuy nhiên, ở mỗi phần- mỗi ý chính, học sinh có thể triển khai các ý nhỏ theo cách riêng, miễn sao hợp lí, chặt chẽ và mạch lạc, hướng vào ý chính. 5. 3. Kết bài Kết bài thường có yêu cầu gói ghém những ý chính trong bài rồi phát biểu cảm nghĩ bản thân về nội dung bài viết. Phần kết bài của một bài văn cần tự nhiên, để lại ấn tượng cho người đọc. Cách viết phần kết bài tôi lưu ý học sinh mấy điểm sau: - Gắn liền với phần thân bài (không chuyển ý đột ngột, nên liên hệ, mở rộng, khái quát từ những ý chính- nội dung cơ bản đã nêu ở thân bài). - Bám sát yêu cầu thể loại bài văn. - Giọng văn chân thành, tự nhiên, có cảm xúc riêng của bản thân, tránh gượng ép, “hô khẩu hiệu” như : “Em cần phải...”. Ví dụ đề bài viết về cây hoa mai: Nắng xuân ấm áp len lỏi khắp muôn nơi, chiếu rọi lên từng cành cây, kẽ lá, hoa mai vàng lại càng nổi bật. Cánh hoa kiêu hãnh khoe mình trong nắng làm đẹp cho mùa xuân của thiên nhiên, cho sự may mắn của gia đình em trong năm mới. * Sau khi học sinh có kỹ năng viết đoạn văn rồi thì việc sắp xếp các đoạn văn: mở bài, thân bài, kết luận thành một bài văn hoàn chỉnh sẽ không khó. Tuy nhiên học sinh phải lưu ý một số điều sau: - Bố cục bài cần chặt chẽ hợp lý để làm sao các đoạn văn khi ghép lại tạo thành một “ Chỉnh thể thống nhất” không rời rạc khập khiễng với nhau. - Có thể liên kết đoạn văn bằng các từ ngữ hoặc bằng cách sắp xếp ý theo trình tự đã học. Khi viết hết một đoạn văn cần chấm xuống dòng. * Từ sự hướng dẫn rõ ràng như trên, học sinh đã viết được những bài văn có bố cục rõ ràng, nội dung phong phú, các ý diễn đạt hợp lí. 6. Giúp học sinh phát hiện ra những lỗi mắc trong bài làm và tự sửa lỗi. Mỗi dạng bài đều có một tiết trả bài văn viết. Tiết học này rất quan trọng, nhằm giúp các em thấy được ưu điểm và nhược điểm trong bài viết của mình, của bạn để học hỏi, trao đổi lẫn nhau, tìm ra cách sửa sai để cùng tiến bộ. Qua đó giáo viên cũng biết được học sinh hiểu bài và vận dụng thế nào, tiến bộ so với các bài trước được bao nhiêu. Để giúp học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi, tôi tiến hành như sau: * Tiến hành chấm bài thật kĩ, xác định học sinh làm đúng bố cục hay chưa? Bố cục có chặt chẽ không? Tìm phát hiện những ưu điểm của bài văn hay, câu hay, ý hay, dùng từ sáng tạo và nắm được những lỗi mắc phải còn tồn tại: dùng từ chưa chính xác, câu văn chưa hoàn chỉnh, lặp từ, lặp ý Tôi đánh giá, nhận xét cụ thể vào từng bài của học sinh. Chẳng hạn có những nhận xét như sau: 13/15

