Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp giáo viên dạy tốt môn Lịch sử Lớp 5

doc 20 trang Chăm Nguyễn 07/10/2025 360
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp giáo viên dạy tốt môn Lịch sử Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giup_giao_vien_day_to.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giúp giáo viên dạy tốt môn Lịch sử Lớp 5

  1. học tập của học sinh lớp ...đã nắm bắt được những hạn chế ở học sinh trong giờ học Lịch sử như sau: - Hầu hết học sinh chưa yêu thích môn học Lịch sử. - Giờ học còn thụ động, không khí học tập trong giờ học Lịch sử trầm, học sinh lâu ghi nhớ kiến thức mà lại chóng quên. - Kỹ năng hợp tác nhóm chưa tốt, chưa mạnh dạn, chưa tự tin khi chia sẻ kết quả học tập trong nhóm, trước lớp. - Kĩ năng xem bản đồ, phân tích thông tin còn hạn chế, kĩ năng chỉ bản đồ chưa thuần thục. - Kĩ năng phân tích tổng hợp kiến thức còn chậm. Kết quả khảo sát về Thái độ học tập và Năng lực học tập môn Lịch sử vào đầu năm học của học sinh lớp 5A: * Thái độ học tập môn học Lịch sử: Lớp Số HS khảo sát Yêu thích môn học Chưa yêu thích môn học 5A 31 10 21 100% 32,3% 67,7% * Năng lực học tập môn học Lịch sử: Số lượng học sinh tham gia khảo sát là 31 học sinh. Lớp 5A Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Số HS: 31 4 20 7 100% 12,9% 64,5% 22,6% 3.2 Thuận lợi: - Nhà trường cung cấp đầy đủ các loại sách, tài liệu tham khảo, phương tiện dạy học. - Nhà trường tổ chức phong trào làm đồ dùng dạy học hàng năm, góp phần xây dựng Bộ đồ dùng dạy học chung nhằm hỗ trợ tiết dạy mang lại hiệu quả cao. - Hàng tháng tổ chuyên môn tổ chức học tập, chia sẻ kinh nghiệm thông qua hoạt động giảng dạy, học tập chuyên san, chuyên đề giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn. - Học sinh có đủ sách vở và đồ dùng học tập phục vụ cho môn học Lịch sử. - Việc học tập Bồi dưỡng thường xuyên hàng tháng, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm trong tổ cũng góp phần bồi dưỡng về năng lực chuyên môn cũng như góp phần khêu gợi sự sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên. - Tài liệu “Bồi dưỡng hướng dẫn giáo viên về dạy học Lịch sử ở Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực” cũng được triển khai học tập trong tổ chuyên môn trong năm học .......... 3
  2. góp phần hỗ trợ giáo viên trong việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học tạo được hứng thú ở học sinh trong giờ học Lịch sử. - Bản thân nhiều năm liền làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm đối tượng học sinh lớp 5 nên nắm rõ chương trình, đặc điểm tâm lí của học sinh cũng như có kinh nghiệm trong giảng dạy. - Học sinh đã nắm được kiến thức cơ bản cũng như làm quen với cách học môn Lịch sử ở lớp 4 làm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức môn học khi lên lớp 5. 3.3 Khó khăn: * Về học sinh: - Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại. Câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì chưa tư duy khi trả lời. - Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử chưa bền vững. - Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên. - Học sinh và gia đình chưa thật sự quan tâm, còn xem nhẹ môn Lịch sử cho là một môn học phụ chỉ cần học thuộc lòng nội dung ghi nhớ là đủ. - Phụ huynh quan tâm đến việc học của con em nhưng kiến thức, sự hiểu biết của cha mẹ lại có hạn. * Về giáo viên: - Một số ít giáo viên chưa thật sự quan tâm, còn xem nhẹ môn Lịch sử, chỉ tập trung vào kèm cặp cho các em chủ yếu là hai môn Toán và Tiếng Việt. - Giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy; giúp các em tự suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức. - Giáo viên chưa tạo sự tập trung, chú ý bài dạy ngay từ hoạt động đầu tiên hoặc chưa tóm tắt lại các nội dung bài dạy ở phần củng cố giúp cho các em ghi nhớ bài sâu, kĩ hơn. - Giáo viên tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình) trong sách giáo khoa chưa khoa học. Trong quá trình dạy có sáng tạo, nhưng làm và sử dụng đồ dùng dạy học, trò chơi học tập chưa thường xuyên và hiệu quả. - Giáo viên không thật sự yêu thích môn Lịch sử thì không thể truyền cho các em niềm đam mê, hứng thú và rất khó để học sinh phát huy hết năng lực học tập tích cực trong giờ học Lịch sử. * Với kết quả khảo sát nêu trên tôi thấy bản thân cần phải nỗ lực vận dụng những phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp đồng thời lên kế hoạch thực hiện tốt: “Một số giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong môn lịch sử lớp 5 ”, tôi tin chắc rằng sẽ khắc phục được những mặt hạn chế còn tồn tại ở lớp 5B và mong muốn những giải pháp này sẽ triển khai phổ 4
  3. biến rộng cho giáo viên trong khối cùng thực hiện nhằm giúp học sinh toàn khối 5 cảm thấy hứng thú, tham gia học tập tích cực hơn đối với môn Lịch sử. III. NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN * Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môn Lịch sử trong giảng dạy và giúp học sinh phát huy năng lực học tập tích cực môn học này là một việc làm hết sức cần thiết của mỗi giáo viên. Để thực hiện tốt việc giúp học sinh phát huy năng lực học tập tích cực môn lịch sử lớp 5, tôi phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu các tài liệu về “Phương pháp dạy học Lịch sử”; sách giáo khoa, sách giáo viên môn Lịch sử. - Nghiên cứu tài liệu gây hứng thú về dạy học ở tiểu học. - Quan sát quá trình tham gia học tập của từng học sinh trong giờ học Lịch sử nhằm nắm bắt năng lực học tập của từng em để có biện pháp phù hợp với từng đối tượng nhằm kích thích sự hứng thú giúp các em tham gia giờ học tích cực hơn. - Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh học để từ đó có hướng điều chỉnh và bổ sung những thiếu sót kịp thời giúp các em hoàn thiện hơn trong việc lĩnh hội kiến thức môn học. - Thao giảng, dự giờ đồng nghiệp, trao đổi rút kinh nghiệm qua từng tiết dạy. * Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn quan tâm đến việc tổ chức giờ học như thế nào cho hấp dẫn, lôi cuốn và định hướng học sinh tham gia giờ học Lịch sử sao cho tích cực, chủ động. Cụ thể, tôi đã thực hiện một số giải pháp như sau: Giải pháp 1: Sử dụng dụng cụ trực quan và khai thác kênh hình trong giảng dạy môn Lịch sử. Như chúng ta đã biết muốn cho các em tiếp nhận những thông tin lịch sử một cách tốt nhất cần tái tạo lại lịch sử một cách có hệ thống. Vậy tái tạo bằng cách nào? Trước hết, phải kể đến những lời nói sinh động, giàu hình ảnh của giáo viên. Đó là tường thuật, miêu tả, kể chuyện, nêu đặc điểm của nhân vật lịch sử thông qua tranh, ảnh, lược đồ, biểu đồ,.... 1. Sử dụng lược đồ trong giờ học Lịch sử: Lược đồ là một trong những đồ dùng trực quan tạo ra hình ảnh lịch sử cụ thể, sinh động, chính xác hơn, giúp các em thuận lợi hơn trong việc tạo biểu tương lịch sử. Lược đồ thể hiện các trận đánh của ta như: Chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947; Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950; Chiến dịch Điện Biên Phủ, ... Khi khai thác các lược đồ cần chú ý đến mục tiêu của tiết học, bài học. * Ví dụ: Bài: Thu – đông 1947, Việt Bắc “Mồ chôn giặc Pháp” Ở hoạt động 2: Diễn biến chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, tôi sử dụng các bước sau: - Giáo viên giới thiệu lược đồ sách giáo khoa trang 32. - Hướng dẫn học sinh đọc và phân tích những kí hiệu trên lược đồ: (biểu tượng cái dù: nơi quân Pháp nhảy dù; mũi tên màu đen: đường tiến công của địch; mũi tên màu đỏ: quân ta tiến công, chặn đánh; mũi tên không liền nét màu đen: quân địch rút lui, tháo chạy). (Bước làm 5
  4. này giúp học sinh hình thành kĩ năng đọc và phân tích bản đồ để tìm kiếm thông tin cần thiết nhằm giải quyết các yêu cầu học tập.) - Giáo viên tổ chức cho học sinh khai thác nội dung lược đồ bằng hệ thống câu hỏi gợi ý: + Lực lượng của địch khi bắt đầu tấn công lên Việt Bắc? + Quân địch tấn công lên Việt Bắc theo mấy đường? Nêu cụ thể? + Quân ta tiến công, chặn đánh quân địch như thế nào? + Sau hơn một tháng tấn công lên Việt Bắc, quân địch rơi vào tình thế như thế nào? + Sau hơn 75 ngày đêm chiến đấu, quân ta thu được kết quả ra sao? - Học sinh làm việc theo nhóm: Dựa vào thông tin trong sách giáo khoa và lược đồ trình bày diễn biến của chiến dịch. - Giáo viên tổ chức cho học sinh trình bày diễn biến của chiến dịch theo lược đồ. - Giáo viên tuyên dương khen ngợi học sinh đã mạnh dạn trình bày trước lớp. * Các bước làm trên sẽ giúp học sinh dễ dàng thuật lại diễn biến của chiến dịch một cách dễ dàng. Từ đó các em cảm thấy không còn sợ môn học này và dần yêu thích, tạo sự hứng thú tham gia học tập tích cực ở các em trong giờ học Lịch sử. 2. Sử dụng sơ đồ, bảng so sánh trong tiết dạy môn Lịch sử: Sơ đồ, bảng so sánh là những đồ dùng trực quan thể hiện rất nhiều thông tin và sự kiện lịch sử được người dạy thiết kế lại từ kênh chữ. Những kiến thức từ kênh chữ nhiều khó nhớ được hệ thống bằng sơ đồ, bảng so sánh thì bài học sẽ trở nên ngắn gọn và dễ hiểu, kích thích tư duy và hứng thú học tập cho học sinh giúp các em sẽ hiểu bài và ghi nhớ kiến thức bền vững hơn. a) Sơ đồ: * Ví dụ: Bài: “Bình Tây đại nguyên soái” Trương Định, Ở cuối hoạt động 3: Lòng biết ơn, tự hào của nhân dân ta với “Bình Tây đại nguyên soái” Trương Định. Sử dụng sơ đồ thay thế cho phương pháp hỏi đáp (thầy hỏi – trò đáp). Đây cũng là kiến thức giúp học sinh cũng cố toàn bài học. Phiếu giao việc nhóm - Việc 1: Cá nhân hoàn thành yêu cầu. - Việc 2: Thống nhất ý kiến trong nhóm. Hãy điền nội dung thích hợp vào chỗ chấm, hoàn thành sơ đồ sau thế hiện được quyết định của Trương Định giữa lệnh vua và tình cảm của nhân dân đối với ông. 6
  5. Triều đình: . Nhân dân:......................... → Trương Định Quyết tâm:................. - Giáo viên phát phiếu giao việc. - Học sinh hoàn thành phiếu giao việc theo cá nhân, sau đó thống nhất trong nhóm. - Các nhóm trình bày kết quả. - Các nhóm nhận xét, đánh giá kết quả làm việc của nhóm mình và nhóm bạn. Triều đình: Kí hòa ước với giặc Pháp, và lệnh cho ông giải tán lực lượng nghĩa binh và đi nhận chức Lãnh binh. Nhân dân: Suy tôn ông là “Bình Tây đại nguyên soái”. TRƯƠNG ĐỊNH Quyết tâm: Không tuân lệnh vua, ở lại cùng nhân dân chống giặc. - Giáo viên kết luận: Trương Định là một trong những tấm gương tiêu biểu trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Nam Kì. Nhân dân biết ơn ông đã lập đền thờ ghi lại những chiến công của ông, lấy tên ông đặt tên cho đường phố, trường học. (Ở phần kết luận này giáo viên có thể mở rộng hỏi thêm: Tên đường, tên trường mang tên Trương Định có ở thành phố, tỉnh nào mà em biết? nhằm phát huy năng lực học tập, tự tìm tòi tri thức ở các em. Nếu học sinh chưa biết thì giáo viên gợi ý cung cấp thêm kiến thức nhằm mở rộng vốn hiểu biết trong thực tiễn: Tên đường Trương Định (phố Trương Định) thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, tên trường Trương Định thuộc quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh) b) Bảng so sánh: * Ví dụ: Bài “Xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX” - Giáo viên hướng dẫn thực hiện ở hoạt động 3: Lập bảng so sánh tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. - Giáo viên phát phiếu giao việc cho nhóm và bảng so sánh tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. - Giáo viên yêu cầu cá nhân học sinh đọc thông tin sách giáo khoa, tìm kiếm thông tin liên quan hoàn thành bảng so sánh theo yêu cầu. Trước khi thực dân Pháp Sau khi thực dân Pháp đặt Tiêu chí so sánh xâm lược ách thống trị Các ngành nghề chủ yếu 7
  6. Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Đời sống nông dân và công nhân - Các nhóm trưng bày kết quả thảo luận. - Đại diện nhóm trình bày, các nhóm khác bổ sung, nếu thắc mắc (nếu có). - Giáo viên nhận xét, hoàn thiện phần trả lời của học sinh. Trước khi thực dân Pháp Sau khi thực dân Pháp đặt Tiêu chí so sánh xâm lược ách thống trị Nông nghiệp Thủ công nghiệp Nông nghiệp Khai thác mỏ Các ngành nghề chủ yếu Thủ công nghiệp Sản xuất điện, nước, xi măng, dệt Lập và khai thác đồn điền cao su, cà phê, chè... Địa chủ phong kiến Địa chủ phong kiến Các giai cấp, tầng lớp trong xã Nông dân hội Nông dân Công nhân; Chủ xưởng; Viên chức; Nhà buôn; Trí thức Càng cơ cực và đói nghèo Đời sống nông dân và công nhân Rất cực khổ, đói nghèo hơn. - Giáo viên kết luận: Dựa vào bảng so sánh các em nhận thấy trước đây xã hội Việt Nam chủ yếu chỉ có địa chủ phong kiến và nông dân, nay xuất hiện những giai cấp, tầng lớp như: Chủ xưởng, nhà buôn, viên chức, trí thức thành thị phát triển, lần đầu tiên ở Việt Nam có đường ô tô nhưng đời sống nông dân và công nhân thì ngày càng cơ cực dưới ách thống trị của thực dân Pháp. * Ví dụ: Bài “Ôn tập: Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858 – 1945)” - Để chuẩn bị cho tiết học này, ngay từ tiết học trước tôi cho các em kẻ sẵn bảng các sự kiện lịch sử tiêu biểu từ năm 1858 – 1945, yêu cầu các em về nhà dựa vào nội dung các bài đã được học hoàn thành bảng thống kê sau: Nội dung cơ bản (ý Các nhân vật lịch sử Thời gian Sự kiện tiêu biểu nghĩa lịch sử) của sự tiêu biểu kiện 8
  7. 1/9/1958 Nửa cuối thế kỉ XIX Đầu thế kỉ XX. 3/2/1930 19/8/1945 2/9/1945 - Vào tiết học, giáo viên treo bảng thống kê đã hoàn chỉnh nhưng che kín các nội dung. - Học sinh đọc lại bảng thống kê mình đã làm ở nhà theo yêu cầu chuẩn bị của tiết học trước. - Giáo viên chọn 1 học sinh giỏi điều khiển hoạt động, nêu câu hỏi. + Ngày 1/9/1858 xảy ra sự kiện lịch sử gì? + Sự kiện này có nội dung cơ bản hay ý nghĩa gì? + Kể tên nhân vật tiêu biểu cho sự kiện lịch sử đó? - Học sinh cả lớp trả lời, bổ sung ý kiến. - Học sinh điều khiển kết luận đúng sai, nếu đúng thì mở bảng thống kê, nếu sai yêu cầu bạn khác bổ sung. - Tôi đóng vai trò làm trọng tài khi học sinh không giải quyết được vấn đề. Cách làm này đã giúp các em rèn luyện năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, biết chia sẻ sự hiểu biết của mình với bạn, mạnh dạn, tự tin trình bày ý kiến đồng thời phát huy được năng lực tự quản dưới sự hướng dẫn của giáo viên. * Ví dụ: Bài “Sấm sét đêm giao thừa” Phần củng cố, tôi có thể dùng sơ đồ sau (giáo viên tự vẽ) để khái quát nội dung bài. Học sinh trình bày tóm tắt nội dung bài bằng sơ đồ hình vẽ. - Sơ đồ sẽ được đưa về các nhóm. - Mỗi nhóm sẽ tổng hợp nội dung bài vừa học, trình bày những hiểu biết của mình sau bài học bằng sơ đồ hình vẽ. (học sinh dựa vào sơ đồ, khái quát lại nội dung bài học (Cuộc tấn công mang tính bất ngờ vì: về thời gian: đêm giao thừa; Về địa điểm: tại các thành phố lớn, tấn công vào các cơ quan đầu não của địch; cuộc tấn công mang tính đồng loạt có quy mô lớn: tấn công vào nhiều nơi, trên một diện rộng vào cùng một lúc.) - Tổ chức thi đua cho hai nhóm hoàn thành xong trước nhất. (Các nhóm khác làm trọng tài – nhận xét) - Tuyên dương cá nhân, nhóm năm được nội dung bài học thông qua việc trình bày nội dung vừa học qua sơ đồ. 9
  8. * Với cách tóm tắt nội dung bài học bằng sơ đồ hình vẽ giúp học sinh dễ ghi nhớ và là điểm tựa để các em phát huy năng lực diễn đạt trước lớp. Từ đó, các em cảm thấy dễ dàng khi ghi nhớ kiến thức từ trực quan hình ảnh đến phát triển tư duy trừu tượng ở học sinh. 3. Khai thác kiến thức từ kênh hình sách giáo khoa: Một vấn đề cũng không kém phần quan trọng để tạo hứng thú cho các em trong học tập đó là các kênh hình. Kênh hình trong sách không chỉ có ý nghĩa minh họa cho bài viết, góp phần tạo ra sinh động, hấp dẫn của bài học mà còn là nguồn tư liệu giúp tôi tổ chức cho học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức. Để khai thác được kênh hình một cách tốt nhất tôi phải nắm chắc nội dung kênh hình, xác định rõ kiến thức cơ bản của bài và phải chuẩn bị một số câu hỏi phù hợp với trình độ của các em để gợi ý các em tự khai thác kiến thức từ kênh hình. * Ví dụ: Bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” - Quan sát hình 3 sách giáo khoa trang 25, em hãy mô tả nội dung bức ảnh và cho biết bức ảnh đó giúp em hiểu được điều gì? - Giáo viên hướng dẫn các em khai thác bức ảnh bằng các câu hỏi gợi mở như: (Nhân dân ta học tập trong điều kiện như thế nào? Lớp học bao gồm những thành phần nào? Tinh thần và thái độ học tập của mọi người thể hiện điều gì?). - Học sinh quan sát bức ảnh và trả lời (Nhân dân ta học tập trong đêm tối, dưới ngọn dầu le lói, mọi người đều chăm chú say sưa học tập. Lớp học lôi cuốn mọi lứa tuổi, mọi thành phần, không phân biệt trẻ, già, trai gái, giàu nghèo đều đi học chữ. Tinh thần và thái độ học tập của mọi người thể hiện khí thế của một dân tộc đang vươn lên làm chủ vận mệnh của chính mình). Kênh hình về bản đồ lịch sử, về nhân vật lịch sử với ưu thế của nó: rõ ràng, sinh động, dễ nhớ, dễ ấn tượng, dễ đi vào lòng người... sẽ là một thế mạnh trong việc hỗ trợ đắc lực cho việc truyền thụ kiến thức lịch sử thông qua đó góp phần giáo dục đạo đức, lòng biết ơn đối với truyền thống tổ tiên, với các lãnh tụ, các danh nhân cũng như những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh, đã đóng góp xương máu của mình để làm rạng rỡ thêm lịch sử nước nhà cũng như lịch sử văn minh nhân loại. Việc cho các em tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình) trong sách giáo khoa giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì không thể nhận thức và phát triển tư duy. * Một số lưu ý khi thực hiện giải pháp này: - Lược đồ, sơ đồ, bảng so sánh, bảng thống kê, kênh hình là phương tiện không thể thiếu được trong hoạt động dạy học. Khi thực hiện, tôi chọn và sử dụng cùng với phương pháp tốt nhất giúp học sinh tự khai thác, lĩnh hội kiến thức nhằm phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong quá trình học tập. - Trong khi sử dụng những dụng cụ trực quan cần phải phù hợp với nội dung bài dạy, với trình độ nhận thức của học sinh, đặc biệt là những dụng cụ trực quan tạo ấn tượng, giúp học sinh khắc sâu, nhớ kỹ, tái hiện lại những kiên thức đã học. 10
  9. - Luôn luôn phải sử dụng tư liệu, kết hợp với đồ dùng trực quan, tranh ảnh, lược đồ để miêu tả, tường thuật, kể chuyện. Bên cạnh lời nói sinh động cùng chất giọng phù hợp với nội dung từng bài cũng góp phần quan trọng trong việc tạo hứng thú cho học sinh học tốt môn học này. Bên cạnh lược đồ, sơ đồ, bảng so sánh, bảng thống kê, kênh hình, kênh chữ thì việc đưa công nghệ thông tin vào dạy học như: Các thước phim tài liệu, lược đồ động đã hỗ trợ rất nhiều trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử. Giáo viên tổ chức được những tiết học sinh động, nhẹ nhàng, hiệu quả, xóa đi kiểu dạy học nhồi nhét một cách vô cảm về những sự kiện, con người, ngày tháng. Các em rất thích thú với những tiết học có áp dụng công nghệ thông tin trực tiếp được nghe nhiều âm thanh, nhìn hình ảnh minh hoạ về các sự kiện, nhân vật lịch sử, được làm chủ những kiến thức của bài học. Từ đó, học sinh tiếp thu kiến thức một cách hào hứng, vui tươi... và qua đó tăng thêm lòng yêu nước, tự hào dân tộc, chủ động tìm tòi, khám phá, thêm yêu lịch sử nước nhà. Giải pháp 2: Sử dụng thơ-ca để tạo hứng thú cho học sinh khi học Lịch sử: Trong thực tế, Lịch sử là môn học có kiến thức liên quan với các môn học khác, chúng có mối quan hệ tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là môn Tiếng việt. Lịch sử đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống cho nên việc lồng ghép thơ - ca vào trong giờ dạy Lịch sử là điều không thể thiếu được. Nếu như thơ- ca mô tả những sự kiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ bằng những con số, sự kiện cụ thể, điều đó đã tác động lớn đến nhận thức của học sinh. Đã có không ít tác phẩm văn học từ bản thân nó là một tư liệu lịch sử (“Hịch Tướng Sĩ”; “Bình Ngô Đại Cáo”) hay nhạc phẩm (Hành quân xa, ...) là những minh chứng hùng hồn cho mối quan hệ tương đông giữa lịch sử và văn học. Việc vận dụng thơ ca trong tiết học giúp cho tiết học trở nên sinh động, bớt nhàm chán hoặc tạo điều bất ngờ lí thú, kích thích sự tò mò, hứng thú trong tiết học. Giải pháp này có thể sử dụng linh hoạt, tùy vào từng thời điểm đưa thơ ca vào sao cho phù hợp trong tiết học: có thể đưa thơ ca vào phần giới thiệu bài tạo sự lôi cuốn học sinh bước vào tiết học, hoặc đưa vào giữa tiết minh chứng cho nội dung bài học và cũng có thể đưa thơ ca vào cuối tiết học nhằm khắc sâu nội dung bài học. * Ví dụ: Bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” Giáo viên đặt câu hỏi: Thông qua bài học, em hiểu Bác Hồ là người như thế nào? Nếu không có Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì nước ta sẽ như thế nào? Giáo viên liên hệ: sau khi rời cảng Nhà Rồng, từ năm 1911 đến 1917, Bác đã bôn ba nhiều năm ở Pháp, Anh, Đức, châu Phi, châu Mĩ,... làm nhiều nghề như làm vườn, quét tuyết, phục vụ khách sạn, chụp ảnh,... và cuối cùng Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn. Hình ảnh của Người đã được nhiều nhà thơ viết như bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của tác giả Chế Lan Viên. Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre, 11
  10. Đêm xa nước đầu tiên, ai nỡ ngủ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở Xa nước rồi, càng hiểu nước đau thương. Mỗi lần đọc đến bài thơ này, một cảm giác xúc động khó tả khi nghĩ đến việc một mình Bác ra đi tìm đường cứu nước. Cảm giác xúc động ấy sẽ truyền tải đến với các em học sinh. * Ví dụ: Bài “Thu- Đông 1947", "Việt Bắc" “Mồ chôn giặc Pháp” Giáo viên liên hệ: Khi biết được địch có âm mưu tấn công quy mô Việt Bắc, Trung ương Đảng đã họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu quyết tâm “phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp”. Nhà thơ Tố Hữu có một số câu thơ viết về Việt Bắc: Ở đâu u ám quân thù Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi Ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền. * Ví dụ: Bài “Xô Viết Nghệ - Tĩnh” - Giáo viên giới thiệu thêm: Phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh là phong trào đấu tranh lớn nhất của nhân dân ta trong những năm 1930 – 1931 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đã có nhiều áng thơ, văn hay viết về phong trào này. Các em hãy nghe một đoạn thơ viết về phong trào này: Than ôi nước mất nhà xiêu Thế không chịu nổi, liệu chiều tính mau! Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trước Nọ Thanh Chương tiếp bước, bước lên Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyện Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi Không có lẽ ta ngồi chịu chết Phải cùng nhau cương quyết một phen Tổng này xã nọ kết liên Ta hò ta hét thét lên thử nào 12
  11. Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng. * Ví dụ: Bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”. Hoạt động củng cố: Giáo viên có thể hát hoặc cho học sinh nghe hát qua băng đĩa một bài hát tiêu biểu về chiến thắng Điện Biên Phủ như Hành quân xa của nhạc sĩ Đỗ Nhuận: Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi Mắt ta sáng chế căm thù bảo vệ đồng quê ta tiến bước đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi Dù đôi chân qua những chặng đường có mỏi vẫn bước dồn ta hãy hỏi vì đâu Mấy năm trước sống cơ cực vì bọn giặc kia nó áp bức đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi Bọn xâm lăng kia nó gây nhiều đau khổ kia đồng bào ta mắt đỏ chờ ta. Qua bài hát giáo dục các em tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của nhân dân ta. Giải pháp 3: Sử dụng trò chơi học tập tạo không khí học tập sinh động: Vui chơi không những giúp cho các em được rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với bạn bè, đồng đội trong nhóm, trong tổ... Thông qua đó, các em sẽ dần được hoàn thiện những kĩ năng giao tiếp. Một số trò chơi rèn kĩ năng thực hành và củng cố kiến thức tạo được hứng thú trong giờ học Lịch sử: 1. Trò chơi “Ô chữ kì diệu”: Vận dụng vào bài: “Ôn tập” trang 23 (SGK) Mục tiêu: Giúp học sinh: - Ghi nhớ các sự kiện lịch sử với nhân vật lịch sử theo trình tự mốc thời gian. - Tìm từ được ẩn giấu ở cột dọc. - Phát triển kĩ năng nhanh nhẹn, ghi nhớ lâu. Chuẩn bị: - Một bảng phụ có kẻ săn ô chữ gồm 14 hàng ngang và 1 hàng dọc. - 3 chuông reng. - Hệ thống các câu hỏi: 1. Tên của Bình Tây đại nguyên soái (10 chữ cái) 2. Một phong trào yêu nước do Phan Bội Châu tổ chức (6 chữ cái) 3. Một trong hai tỉnh nổ ra phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (6 chữ cái) 4. Phong trào yêu nước diễn ra sau cuộc phản công ở kinh thành Huế (8 chữ cái) 13