Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường Mầm non

docx 29 trang Chăm Nguyễn 26/02/2026 80
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_giao_duc_ky_nang_song.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường Mầm non

  1. * Phạm vi nghiên cứu: Trẻ lớp mẫu giáo nhỡ 4 tuổi B3 trường mầm non II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề. Như chúng ta đã biết kỹ năng sống là tập hợp các hành vy tích cực và khả năng thích nghi cho phép mỗi cá nhân đối phó hiệu quả với các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội. kỹ năng sống có chức năng đem lại hạnh phúc và hỗ trợ cá nhân trở thành người tích cực và có ích cho cộng đồng. Chính vì vậy chúng ta cần: Dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Theo các chuyên gia giáo dục kỹ năng sống và kiến thức cơ bản sẽ tạo nền tảng tốt cho quá trình học hỏi, phát triển sau này của trẻ. Các bé được học kỹ năng từ sớm đúng phương pháp sẽ tự tin và nhanh nhẹn hơn trong cuộc sống. Việc dạy kỹ năng sống cho trẻ là giúp trẻ làm chủ suy nghĩ, cảm xúc và hành động của mình, nhưng điều quan trọng hơn nữa là việc trẻ sẽ vận dụng những kỹ năng sống đó như thế nào trong cuộc sống. Việc áp dụng một cách linh hoạt các kỹ năng sống cần thiết vào cuộc sống sẽ giúp cho trẻ có những nền tảng vững chắc trong việc tạo dựng tư thế chủ động sáng tạo của một đứa trẻ năng động. Đó cũng là cách giúp trẻ đối đầu và tìm cách vượt qua những áp lực tâm lý về công việc, học tập cũng như các mối quan hệ phức tạp khác. Trong cuộc sống có rất nhiều kỹ năng sống khác nhau, nếu ta đưa tất cả các kỹ năng sống đó vào dạy trẻ thì sẽ không có hiệu quả. Chính vì vậy đòi hỏi mỗi giáo viên cần lựa chọn các kỹ năng sống sao cho phù hợp với từng lứa tuổi để dạy trẻ đạt hiệu quả cao. Cụ thể với trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi, tôi lựa chọn các kỹ năng: Kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự tin, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng sống hợp tác, kỹ năng ứng xử, để đưa vào dạy trẻ với mục đích nhằm giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, độc lập, sáng tạo, linh hoạt, tự giác, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ hình thành nếp sống văn minh, có hành vi ứng sử, giao tiếp theo quy tắc, chuẩn mực phù hợp. Không những vậy, việc dạy trẻ kỹ năng sống còn giúp trẻ biết xử lý các tình huống trong từng hoàn cảnh cụ thể: Biết bày
  2. tỏ tình cảm phù hợp, đúng lúc, biết tránh những vật, những nơi không an toàn, gây nguy hiểm đến tính mạng và cách phòng tránh, tự lập trong các tình huống quen thuộc. Để dạy trẻ kỹ năng sống, thì trước tiên chính người lớn phải là người có kỹ năng và hình thành kỹ năng sống cho trẻ thông qua việc thực hiện các hành động trong giao tiếp cũng như trong việc bảo vệ chính bản thân trẻ. * Khảo sát thực trạng: *Đặc điểm tình hình nhà trường: Trường mầm non nơi tôi đang công tác nằm trên địa bàn một xã miền núi, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Trường gồm 2 điểm trường cách xa nhau 2 - 3 km. Trường có 12 nhóm lớp tổng số trẻ ra lớp là 240 trẻ, với 40 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trường được xây dựng khang trang cơ sở vật chất đủ điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ. Trường được đón danh hiệu “Trường chuẩn quốc gia mức độ I”. Tuy các khu khác nhau nhưng giáo viên luôn đoàn kết, nhiệt tình, yêu nghề, mếm trẻ và tạo được lòng tin trong lòng phụ huynh nên số trẻ ra lớp ngày một tăng. Trong năm học 2024 - 2025 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp mẫu giáo nhỡ 4 tuổi B3 với tổng số học sinh là 17 cháu, trong đó 9 cháu nam và 8 cháu nữ. Đây là lứa tuổi bắt đầu nhận thức, phân biệt được những hành vi đúng sai, biết được những gì mình nên hay không nên, thậm trí bước đầu trẻ còn biết tự giải quyết được một số tình huống do cô tạo ra trong các hoạt động. Khi nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi trong trường mầm non” * Thuận lợi: - Về phía nhà trường: + Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên. + Phát tài liệu, tập san để giáo viên tham khảo. - Về giáo viên:
  3. + Bản thân tôi có trình độ trên chuẩn, là một giáo viên có tâm với nghề, có tác phong nhanh nhẹn, có tinh thần trách nhiệm nhiệt tình trong mọi phong trào. - Về trẻ: + Trẻ cùng một độ tuổi có nhận thức đồng đều. Trẻ đi học đều, tích cực tham gia các hoạt động. - Về Phụ huynh: Đa số phụ huynh luôn quan tâm đến trẻ, trao đổi với giáo viên cách để dạy trẻ một cách khoa học nhất. - Cơ sở vật chất: + Nhà trường trang bị cho các lớp tivi, loa + Sân trường rộng, thoáng mát, sạch sẽ có khu vui chơi cho trẻ. * Khó khăn: - Đối với giáo viên: Việc lựa chọn các kỹ năng đưa vào từng chủ đề dạy trẻ còn chưa khoa học Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho môn học chưa nhiều, chưa bền. Với những khó khăn như thế tôi phải dần khắc phục, sửa đổi làm sao để cho giờ hoạt động có kết quả tốt nhất. - Đối với trẻ: Một số trẻ được bố mẹ nuông chiều, thường làm hộ trẻ mọi việc. Một số trẻ hiếu động, còn chưa chú ý và chưa nghe theo lời hướng dẫn của cô giáo. Một số trẻ hiếu động, chưa biết đoàn kết khi chơi với bạn. Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều, có nhiều trẻ mới đến lớp lần đầu, do đó lớp tôi gặp nhiều khó khăn, văn hóa nhận thức còn chưa cao. Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho môn học chưa nhiều, chưa bền. - Đối với phụ huynh: Một số phụ huynh chưa hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
  4. Một số phụ huynh không cho con đi lớp nhà trẻ và mẫu giáo bé vì không tiện trong việc đưa đón trẻ tới trường do việc đi lại còn nhiều khó khan. * Số liệu điều tra trước khi thực hiện: Qua điều tra thực tế về vốn kỹ năng sống của 17 trẻ lớp 4 tuổi B3 tôi nhận thấy kết quả khảo sát trước khi thực hiện như sau: BẢNG KHẢO SÁT TRẺ ĐẦU NĂM STT Nội dung khảo sát đánh giá Số trẻ đạt Số trẻ chưa đạt Số trẻ Tỉ lệ (%) Số trẻ (Tỉ lệ %) 1 Trẻ mạnh dạn, lễ phép trong giao 8/17 47% 9/17 53% tiếp tự tin thể hiện mình 2 Trẻ có kỹ năng nhường nhịn, chia sẻ 7/17 41% 10/17 59% hợp tác 3 Trẻ kỹ năng cất dọn sắp xếp đồ dùng 8/17 47% 9/17 53% đồ chơi đúng nơi quy định 4 Trẻ kỹ năng giữ gìn vệ sinh cá nhân, 9/17 53% 8/17 47% vệ sinh môi trường 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề: 2.1: Giải pháp 1: Giáo viên nâng cao nhận thức tự học, tự bồi dưỡng về việc dạy trẻ kỹ năng sống. Muốn trẻ có kỹ năng sống tốt thì trước hết phải đòi hỏi giáo viên mầm non phải nghiên cứu và nắm vững mục đích yêu cầu của hoạt động, ngoài ra giáo viên còn cần phải nắm chắc được các phương pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng để giúp trẻ hiểu sâu và vận dụng được những điều đã học vào thực tế hàng
  5. ngày của trẻ. Vậy để trẻ 4 - 5 tuổi lớp tôi có được những kỹ năng sống cơ bản đó thì giáo viên cần có sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề. Tham gia các đợt kiến tập và các chương trình chuyên đề do phòng tổ chức. Tìm đọc tham khảo biện pháp dạy trẻ kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí mầm non. Trên thực tế hiện nay ở trường mầm non nơi tôi đang công tác, đội ngũ giáo viên còn chưa được đồng đều. Các cô giáo trẻ chưa có kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Qua kiểm tra, đánh giá đầu năm có rất nhiều trẻ còn chưa biết chào cô, chào khách, chưa có kỹ năng giao tiếp, chưa có kỹ năng tự phục vụ Hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng chưa thực hiện tốt, chưa lồng ghép tích hợp vào các hoạt động, giáo viên hầu như không mấy để ý và đi sâu vào hoạt động này. Tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan trọng vì nó quyết định tới nhân cách của trẻ sau này. Chính vì vậy qua việc tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Nhận thấy đây là việc quan trọng và cần thiết đối với trẻ nên trong các buổi họp sinh hoạt chuyên môn của khối tôi chia sẻ với đồng nghiệp về các giải pháp “Dạy kỹ năng sống cho trẻ”. Để dạy trẻ được kỹ năng sống thì việc đầu tiên cô phải là tấm gương để trẻ soi vào. Ví dụ: Khi cô nhìn thấy bé này đẩy bé khác cô hãy nói với bé bị đẩy, nói một cách cương quyết, nhưng phải ôn tồn với bạn mình như: “Mình không thích bạn xô đẩy mình như vậy, cánh tay là để ôm nhau, không phải là để đẩy nhau”. Không mớm ý cho trẻ phát biểu ý kiến mà người lớn trông đợi. Không nên bắt trẻ hoạt động liên tục mà phải để dành thời gian và khoảng chống cho trẻ suy nghĩ. Thỉnh thoảng cô giáo có thể tổng kết, kết luận nhưng với thái độ thư giãn, thoải mái, gợi mở.
  6. Ví dụ: Các con ơi cô con mình vừa hoạt động ngoài trời về, bây giờ sẽ đến hoạt động gì các con? Nào chúng ta cùng chuẩn bị bắt đầu. - Biết nắm phản hồi của nhóm khi hoạt động kết thúc. Kết quả: Qua giải pháp này tôi nắm vững được mục đích yêu cầu của hoạt động mà giáo viên cần nắm chắc được các phương pháp thưc hiện để có kiến thức chuyên môn, giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng, hiểu bài sâu và vận dụng những điều đã học vào thực tế hàng ngày. 2.2. Giải pháp 2: Xác định, xây dựng nội dung, kỹ năng sống cơ bản cần dạy trẻ lứa tuổi mẫu giáo 4 - 5 tuổi. * Xác định nội dung, kỹ năng sống cơ bản: Đế xác định được những nội dung giáo dục kỹ năng sống cơ bản, trước hết chúng ta cần phải hiểu được kỹ năng sống là gì? Mục đích của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non? Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có trong hành vi lành mạnh, cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Mục đích của việc dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Từ đây, chúng ta xác định được những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 4 - 5 tuổi bao gồm: Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. * Hoạt động học làm quen với văn học: Xuất phát từ đặc điểm tâm lý của trẻ mầm non là rất thích nghe kể chuyện, nội dung các câu chuyện thường để lại ấn tượng cho trẻ khó phai mờ. Tùy từng nội dung câu
  7. chuyện mà tôi đưa nội dung kỹ năng sống vào để dạy trẻ sao cho, phù hợp với trẻ lớp mình. Ví dụ: Qua câu chuyện “Cáo, thỏ và gà trống”, tôi dạy trẻ học tập bạn gà Trống tính mạnh dạn, tự tin. Tuy nhỏ bé nhưng gà Trống đã biết dùng trí thông minh của mình để đuổi cáo ra khỏi nhà. * Hoạt động học khám phá: Với hoạt động học này thông qua các chủ đề mà tôi giáo dục cho trẻ những kỹ năng sống cơ bản như: Chủ đề “Bản thân” Thông qua hoạt động khám phá đề tài “Bé cần gì để lớn lên và khỏe mạnh” bé cần ăn đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng, cần tham gia các hoạt động chơi đùa chạy nhảy, thể dục thể thao và điều quan trọng nữa bé cần được sống trong môi trường không khí trong lành qua đó giáo dục trẻ biết cách chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho bản thân bằng cách giữ gìn đồ dùng, vệ sinh cá nhân sạch sẽ. Khi chơi xong phải biết rửa tay. Bên cạnh đó trong đề tài “Cơ thể bé” Tôi cung cấp cho trẻ kỹ năng phòng tránh xâm hại “tình dục”. Trong chủ để “Giao Thông” tôi dạy trẻ kỹ năng ứng ứng xử khi tham gia giao thông như: Đi bộ trên vỉa hè. Ngồi trên xe phải ngồi ngoan, không nghịch, không thò đầu, thò tay ra ngoài vv Qua việc tổ chức bữa ăn cho trẻ, tôi tập cho trẻ làm một số công việc tự phục vụ qua đó hình thành ở trẻ một số kỹ năng sử dụng đồ dùng ăn, uống đúng cách và hành vi văn hoá văn minh như: Cách dùng ca, cốc, bát, thìa. Tham gia chuẩn bị bữa ăn (tự kê ghế, gấp khăn lau, tự chia đĩa, chia bát) Qua việc dạy kỹ năng sống cho trẻ trong các hoạt động hàng ngày, tôi thấy trẻ lớp tôi tiến bộ rất nhiều. Kỹ năng tự bảo đảm an toàn:
  8. Giáo viên cần dạy trẻ học cách nhận biết những hành động đúng và kịp thời bảo vệ bản thân qua các tình huống nguy hiểm. Ngoài ra, ở trường mầm non giáo viên cần dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa hoặc biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. Không làm ảnh hưởng đến người khác. Kết quả: Việc lồng ghép kỹ năng sống vào các hoạt động hàng ngày đảm bảo tính liên tục để mỗi kỹ năng, phẩm chất mới được hình thành sẽ trở thành thói quen, thành thuộc tính vững chắc trong nhân cách trẻ. Sau mỗi hoạt động tôi nhận xét đánh giá các kỹ năng đạt được trên trẻ bởi đây cũng là một trong những giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ rất hiệu quả. 2.3. Giải pháp 3: Dạy trẻ các kỹ năng sống vào các hoạt động hàng ngày: Trẻ ở lứa tuổi này dễ nhớ nhưng cũng rất nhanh quên nên việc lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng sống vào hoạt động học có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi có văn hóa. Giáo viên cần thường xuyên tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ một cách thích hợp tuân theo một số quan điểm: Giúp trẻ phát triển đồng đều các lĩnh vực: Thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Phát huy tính tích cực của trẻ, giúp trẻ hứng thú, chủ động khám phá tìm tòi, biết vận dụng vốn kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các tình huống khác nhau. Thông qua các hoạt động học, trẻ có cơ hội chia sẻ với các bạn thông qua hoạt động nhóm. Ví dụ: Hoạt động khám phá: Các con vật sống trong rừng.
  9. Khi cô đưa ra bộ tranh về con voi và yêu cầu 1 nhóm tìm hiểu con voi qua bộ tranh, ngay lập tức trẻ đã biết ngồi gần nhau hơn và cùng nhau xem tranh rồi trao đổi với nhau về những gì mình thấy trong bức tranh được xem. Như vậy ta thấy, trẻ đã biết cách hoạt động nhóm, có tinh thần hợp tác với nhau và cùng nhau chia sẻ những cảm nhận về con voi thông qua bộ tranh đó. Giáo dục kỹ năng sống trong các hoạt động góc, hoạt động ngoài trời. Thông qua hoạt động góc trẻ được trải nghiệm nhiều vai chơi khác nhau trong cuộc sống từ đó biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Qua các góc chơi khác nhau: Xây dựng, tạo hình, thực hành cuộc sống Cô giáo luôn là người bạn chơi cùng trẻ như người bạn thật sự của trẻ để cho trẻ học cách ứng xử với nhau khi chơi, biết đối đáp trong quá trình chơi. Ví dụ: Qua góc chơi “bán hàng” thông qua trò chơi này ngoài việc trẻ hiểu được công việc của người bán hàng và mua hàng trẻ còn phải biết thưa gửi lễ phép. Giai đoạn đầu trẻ còn chưa mạnh dạn trong khi chơi, tôi nhập vai làm người bán hàng khi cháu mua hàng tôi chủ động hỏi trẻ “Bác ơi bác mua thứ gì nào? Trẻ nói mua rau - trả tiền. Tôi phải sửa ngay cho trẻ. Khi mua hàng con phải hỏi bác ơi bao nhiêu tiền một mớ rau ạ, nếu trẻ đã biết thưa gửi lễ phép tôi sẽ thưởng cho trẻ một bông hoa và cuối ngày nhận xét trước lớp. Với hình thức này các cháu rất thích. Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn. Ở kỹ năng này tôi sử dụng trò chơi để dạy trẻ. Ví dụ: Trò chơi đóng vai. Với góc chơi xây dựng chủ đề nhánh sự kiện về giao thông trong khi xây dựng thì tất cả trẻ trong nhóm phải cùng nhau thảo luận, phân công công việc cho nhau và cùng làm công việc được giao cuối cùng trẻ hoàn thành công trình đã xây dựng. Đó là một cách hợp tác cùng làm việc.
  10. Ngoài ra tôi còn xây dựng góc thực hành kỹ năng sống cho trẻ chơi thường xuyên như: Cách đóng mở cửa, lấy và uống nước, quét rác trên sàn, cách sâu dây qua các đối tượng có khuyết nhỏ, cách tự tết tóc cho mình, cho bạn. Đây là cơ hội tốt nhất để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Vì vậy tôi đã thường xuyên tổ chức cho trẻ các trò chơi mang tính lành mạnh để trẻ được tham gia học tập và vui chơi. Giờ hoạt động ngoài trời: Cô luôn nhắc nhở trẻ khi ra sân trường chơi phải đi theo hàng, bạn nọ nối đuôi theo bạn kia, không đẩy bạn để bạn ngã Nếu trẻ làm gì sai với bạn, với cô thì phải biết xin lỗi cô, xin lỗi bạn. Khi đi chơi gặp các bác, các cô làm việc trong trường phải biết chào hỏi lễ phép. Ai cho gì phải biết nhận bằng hai tay và nói cảm ơn. Ví dụ: Khi cô nhìn thấy bé này đẩy bé khác cô hãy nói với bé bị đẩy, nói một cách cương quyết, nhưng phải ôn tồn với bạn mình như: “Mình không thích bạn xô đẩy mình như vậy, cánh tay là để ôm nhau, không phải là để đẩy nhau”. Và bạn đẩy phải biết xin lỗi bạn. + Qua trò chơi dân gian: Trẻ em được tiếp cận và trực tiếp tham gia trò chơi dân gian sẽ giúp cho trẻ sớm hình thành các thói quen hoạt động có hệ thống, tính tập thể giúp trẻ tự tin, linh hoạt hơn trong mọi hoạt động cũng như sự phát triển sau này của trẻ. Thông qua trò chơi dân gian, trẻ sẽ phát triển được các giác quan (thị giác, thính giác, vị giác, xúc giác, khứu giác), phát triển trí nhớ, phát triển tư duy, trí tưởng tượng, ngôn ngữ. Trò chơi trí tuệ còn được gọi là trò chơi học tập, nhằm thúc đẩy hoạt động trí tuệ, giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh thông qua các thao tác trí óc kết hợp với hành động chơi như: Ô ăn quan, cờ chiếu tướng Giờ ăn cơm: Ở trường mầm non giáo viên cần dạy trẻ nghi thức văn hóa trong ăn uống qua đó dạy trẻ kỹ năng lao động tự phục vụ, rèn tính tự lập như: Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn,
  11. ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa hoặc biết giúp cô dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất. Không làm ảnh hưởng đến người xung quanh. Giờ hoạt động chiều: Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các truyện bằng tranh, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ. Ví dụ: Khi kể chuyện “Ba cô gái” giáo viên đặt những câu hỏi gợi mở như: Nếu là con khi hay tin mẹ bị ốm, con sẽ làm gì? gợi mở tính tò mò thay đổi đoạn kết của truyện có hậu hơn, đặt tên khác cho câu chuyện Hoạt động khác: tổ chức vui tết trung thu, tổ chức các hoạt động chào mừng các ngày lễ hội như Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11, quốc tế phụ nữ 8/3, tổ chức chợ quê. Ví dụ: Vào ngày sinh nhật hoặc ngày hội ngày lễ cô dạy các trẻ biết cách chúc những lời chúc rất là hay và ý nghĩa không những thế mà các cô còn dạy trẻ làm những món quà để mang về tặng bà, mẹ, chị Qua đó đã giúp trẻ hiểu và luôn quan tâm đến mọi người xung quanh. Ví dụ: Một số kỹ năng phối hợp cùng cô giáo dạy trẻ kỹ năng cất dép, kỹ năng gấp quần áo. Vậy muốn trẻ làm tốt được những kỹ năng này tôi phối hợp với phụ huynh hướng dẫn và quan sát trẻ khi con ở nhà. Cha mẹ cần có niềm tin với sự hướng dẫn của giáo viên và năng khiếu bẩm sinh của trẻ bên cạnh đó cha mẹ cần dạy trẻ từ từ để trẻ hiểu và cha mẹ chính là tấm gương sáng để trẻ noi theo. Ví dụ: “Các con đã tự mình làm được nhiều việc mà không phụ thuộc vào người khác, các con là những em bé rất giỏi các con xứng đáng nhận được một tràng pháo tay”. Điều này sẽ giúp cho trẻ tự tin hơn, dám tự tìm tòi và suy nghĩ, giám đưa ra ý kiến của mình.