Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong dạy học giúp tạo hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh ở trường THCS

docx 18 trang Chăm Nguyễn 10/05/2026 110
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong dạy học giúp tạo hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh ở trường THCS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_trong_day_hoc_giup_ta.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong dạy học giúp tạo hứng thú học tập môn Lịch sử cho học s.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp trong dạy học giúp tạo hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh ở trường THCS

  1. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận Hứng thú là gì và thế nào là hứng thú học tập? Các nhà tâm lí học đã đưa ra định nghĩa về hứng thú: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống vừa có khả năng mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”. Như vậy, hứng thú có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động của con người. Nếu như có hứng thú chúng ta sẽ học tập, làm việc với niềm vui vẻ, hào hứng và say mê; sẽ tự giác tìm hiểu và nghiên cứu, từ đó đem lại kết quả cao nhất. Ngược lại, nếu không có hứng thú với bất cứ hoạt động nào, chúng ta sẽ chỉ làm với tâm trạng chán nản, mệt mỏi, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động. Vậy thế nào là hứng thú học tập? Hiểu một cách đơn giản, hứng thú trong học tập nghĩa là học sinh có niềm yêu thích với môn học, hào hứng với mỗi giờ học đó; từ đó các em tự giác, chủ động nghiên cứu và ghi nhớ bài học. Hứng thú học tập cũng chính là động lực giúp học sinh cố gắng để đạt được kế quả học tập cao nhất. Lịch sử là môn học mang nhiều tính đặc trưng riêng. Học lịch sử là học tập và nghiên cứu, đánh giá về những sự vật, hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ. Học sinh không chỉ cần ghi nhớ các mốc thời gian mà còn phải đánh giá, phân tích các sự kiện; biết rút ra bài học kinh nghiệm cho các hoạt động sống ngày nay. Từ những bức tranh qua mỗi thời kì trong quá khứ, học sinh sẽ có cái nhìn đúng đắn về sự phát triển của đất nước, của thế giới. Lịch sử dân tộc Việt Nam cũng chính là lịch sử phát triển của loài người; và có những vấn đề của quá khứ vẫn còn tiếp diễn tới hôm nay. Môn Lịch sử đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước. Chính bởi vậy, để có thể giúp học sinh có niềm yêu thích, say mê với việc tìm hiểu quá khứ, chúng ta cần tạo được hứng thú học tập cho các em. Và để làm được điều đó – các thầy, cô giáo cần áp dụng một số biện pháp trong dạy học để khơi gợi được sự yêu thích và hứng thú học tập môn Lịch sử của các em. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng việc giảng dạy và học tập môn lịch sử ở trường THCS Phú Sơn 3
  2. 2.1.1. Thuận lợi - Những năm gần đây bộ môn Lịch sử đã được nhà trường cũng như phụ huynh, học sinh quan tâm hơn. - Nhà trường trang bị đầy đủ các trang thiết bị cần thiết để phục vụ quá trình giảng dạy môn học. - Đội ngũ giáo viên của nhà trường có trình độ chuyên môn, nhiệt huyết với công việc, tận tâm trong quá trình giảng dạy. -Đa số các em học sinh ngoan ngoãn, lễ phép, một số em có tinh thần học tập cao. 2.1.2. Khó khăn - Nhiều phụ huynh, học sinh còn coi môn Lịch sử là môn phụ, chưa thực sự quan tâm đến môn học. - Một bộ phận học sinh ý thức học tập chưa cao, ngồi trong giờ không chú ý, làm việc riêng, ảnh hưởng đến chất lượng giờ học. - Chưa phân luồng học sinh nên giữa các lớp cũng như trong cùng một lớp học sinh có trình độ nhận thức khác nhau dẫn đến khó khăn trong quá trình giảng dạy cũng như áp dụng các biện pháp trong dạy học. - Nhiều học sinh chưa có hứng thú với môn học, cảm thấy đây là môn học khó, khô khan với nhiều các mốc thời gian và sự kiện. - Giáo viên gặp khó khăn trong việc thiết kế bài giảng để tạo được hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh. 2.2. Biện pháp nâng cao chất lượng và kết quả học tập của bộ môn Lịch sử Để nâng cao được chất lượng dạy và học môn Lịch sử ở trường THCS Phú Sơn, trước hết giáo viên cần nghiên cứu để đề ra các biện pháp giúp học sinh có niềm yêu thích với môn học. Từ sự yêu thích đó, học sinh sẽ chủ động học tập và nghiên cứu, đạt được kết quả học tập tốt nhất. 3. Một số biện pháp tạo hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh 3.1. Lồng ghép các câu chuyện lịch sử gắn với nội dung bài học. Lịch sử chính là cuộc sống. Việc giảng dạy gắn với các câu chuyện lịch sử sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về nhân vật, sự kiện; tạo được sự tò mò, khiến các em muốn lắng nghe. Thông qua câu chuyện của giáo viên, học sinh sẽ dễ dàng tiếp thu 4
  3. bài học. Các em vừa học, vừa được nghe kể chuyện; điều đó sẽ khiến cho giờ học trở nên nhẹ nhàng và thoải mái hơn; giúp các em không còn thấy “sợ” mỗi khi đến giờ học lịch sử. Ví dụ: Khi dạy bài 30, tiết 49 – Lịch sử 9: “Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918”, phần II. 3. “Những hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau khi ra đi tìm được cứu nước”. Sau khi cho học sinh tìm hiểu về tiểu sử và hoàn cảnh ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành, giáo viên có thể dẫn dắt một câu chuyện cho học sinh: “Cô tin chắc rằng các bạn ngồi đây đều biết người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ấy chính là Bác Hồ vĩ đại của chúng ta. Như các em vừa tìm hiểu, năm 1911 tại bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước. Cô sẽ kể các em nghe một câu chuyện: “ Trong thời gian sinh sống tại Sài Gòn trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Bác đã được một người bạn đưa đến một tiệm cà phê của Pháp để xem đèn điện, xem chiếu bóng; rồi được người bạn đó mời đi ăn kem. Ít hôm sau, Bác hỏi người bạn đó của mình: - “Anh Lê, anh có yêu nước không?” - “Tất nhiên là có chứ” – người bạn đó trả lời. - Bác tiếp tục hỏi: “Anh có thể giữ bí mật không?” - “Có” - Bác liền nói: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví dụ như khi đau ốm,... Anh muốn đi với tôi không?” - “Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu tiền mà đi?” – anh Lê hỏi Bác. - “Đây, tiền đây” – Bác vừa nói vừa giơ hai bàn tay – “Chúng ta sẽ làm việc, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?”. Ngày hôm đó, người bạn ấy đã đồng ý với Bác; thế nhưng đến cuối cùng lại không có đủ can đảm để giữa lời hứa”. 5
  4. Mặc dù chỉ có một mình, tại bến cảng Nhà Rồng, vào ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước ấy vẫn quyết tâm xuống con tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin để đến với nước Pháp, đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc.” Như vậy, qua phần câu chuyện giáo viên kể, học sinh có thể hiểu thêm về người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, hiểu được tại sao Bác lại lựa chọn con đường đến với phương Tây để tìm đường cứu nước cho dân tộc. Cũng qua câu chuyện ấy, học sinh thấy được lòng can đảm, sự quyết tâm cũng như thấu hiểu một tình yêu nước vô bờ của Bác. Vượt qua tất cả những khó khăn và trở ngại – người thanh niên trẻ yêu nước khi ấy đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Quan trọng hơn, tất cả những điều đó được học sinh tiếp nhận một cách tự giác và chủ động qua câu chuyện. Các em sẽ cảm thấy thích thú, muốn được lắng nghe nhiều hơn những câu chuyện như thế. Từ đó, tạo được hứng thú học tập môn Lịch sử cho học sinh. 3.2. Liên hệ các vấn đề thời sự hiện nay có liên quan đến nội dung bài học Những vấn đề thời sự về chính trị, mối quan hệ giữa các quốc gia luôn là chủ để nóng, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận. Trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử tại trường THCS Phú Sơn, tôi nhận thấy rằng các em học sinh cũng rất quan tâm và có hứng thú với các vấn đề thời sự. Khi cô giáo nói đến một nội dung nào đó, các em đều rất chú ý lắng nghe; nhiều em còn đặt thêm câu hỏi, đưa ra các vấn đề mà mình muốn tìm hiểu hay thảo luận với giáo viên. Điều đó cho thấy các em rất hứng thú với việc học tập và tìm hiểu lịch sử thông qua sự liên hệ với các vấn đề thời sự ngày nay. Từ những cái đã xảy ra trong quá khứ để kết nối với hôm nay, và từ những vấn đề của hôm nay để nhìn lại quá khứ. Bởi vậy, tôi nhận thấy việc liên hệ các vấn đề thời sự vào bài dạy là cần thiết và sẽ kích thích sự tìm tòi, ham học hỏi ở học sinh; các em sẽ thực sự hứng thú với việc học tập và tìm hiểu lịch sử. Ví dụ: Khi dạy bài 11, tiết 13 – Lịch sử 9: “Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai”. Sau khi học sinh tìm hiểu được nội dung chính của bài, giáo viên chốt ý và liên hệ đến mối quan hệ quốc tế giữa các nước lớn trong giai đoạn hiện nay. 6
  5. “Sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới được hình thành - “trật tự hai cực I-an-ta” do Liên Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực. Hai nước đã tiến hành thỏa thuận về phạm vi chiếm đóng và khu vực ảnh hưởng sau chiến tranh. Điều đó thể hiện được vai trò của hai nước trong cuộc chiến chống phát xít và vị thế của hai cường quốc trên trường quốc tế lúc bấy giờ. Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới thứ hai không lâu, Mĩ và Liên Xô đã nhanh chóng chuyển từ liên minh chống phát xít sang tình trạng ngày càng mâu thuẫn, đối đầu gay gắt – đó là tình trạng “chiến tranh lạnh”. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc vào năm 1989, tình hình thế giới có nhiều biến chuyển. Hiện nay, qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, Mĩ vẫn giữ vị thế là một siêu cường về kinh tế, chính trị và quân sự; Nga có tiềm lực quân sự sánh ngang với Mĩ; nhưng tiềm lực kinh tế lại chưa xứng tầm. Mối quan hệ giữa Mĩ và Nga trong giai đoạn hiện nay vẫn nhiều lần rơi vào căng thẳng, đối đầu do những bất đồng về chính trị, kinh tế. Nếu các em theo dõi thời sự thì có thể biết mặc dù hai nhà lãnh đạo của hai nước hiện nay là tổng thống Mĩ Donald Trump và tổng thống Nga Vladimir Putin đã có những cuộc gặp gỡ, hội đàm nhưng chưa thể cải thiện mối quan hệ giữa hai nước. Bất đồng giữa Mĩ và Nga trong giai đoạn hiện nay là cả về vấn đề kinh tế và chính trị. Hai nước đều muốn gây ảnh hưởng ở nhiều khu vực trên thế giới như Trung Đông, Thổ Nhĩ Kì hay U-crai-na Mối quan hệ phức tạp này vẫn sẽ còn kéo dài và là một trong những vấn đề thời sự nóng của thế giới.” Như vậy, từ mối quan hệ Mĩ – Liên Xô sau chiến tranh thế giới thứ hai, giáo viên liên hệ tới mối quan hệ Nga – Mĩ trong giai đoạn hiện nay sẽ giúp học sinh vừa nắm bắt được những vấn đề thời sự hiện nay, vừa nhớ được bài học về trật tự thế giới được hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai. Khi được nghe về các vấn đề thời sự sẽ kích thích sự tìm tòi ở học sinh, các em sẽ muốn tìm hiểu sâu hơn về nội dung bài học và các vấn đề liên quan, từ đó sẽ tự giác ghi nhớ kiến thức và biến nó thành tri thức của mình. Đồng thời cũng tạo cho học sinh niềm hứng khởi trong mỗi giờ học. Các em được tiếp xúc với những vấn đề mà mình muốn biết, muốn được mở rộng - đây chính là lí do để các em thích lịch sử và thích học lịch sử. 7
  6. Việc ghi nhớ với học sinh lúc này không còn là bắt buộc, các em sẽ không cảm thấy khó khăn và chán nản. Ngược lại, vì muốn tìm hiểu và chủ động nghiên cứu thì học sinh sẽ tự giác nhớ được bài học. 3.3. Kết hợp đưa các tác phẩm thơ, văn, âm nhạc gắn với các sự kiện, giai đoạn lịch sử của đất nước Trong nền văn học và âm nhạc Việt Nam có rất nhiều các tác phẩm ra đời gắn liền với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc. Mỗi tác phẩm ấy là tiếng nói của người lính, người chiến sĩ cách mạng. Thông qua những vần thơ và lời ca tiếng hát để nói lên tiếng lòng của những người thanh niên yêu nước - và đó cũng chính là bức tranh về một thời kì lịch sử của dân tộc. Việc đưa các vần thơ, lời hát gắn với nội dung của bài sẽ làm cho giờ học lịch sử sẽ trở nên vui vẻ, nhẹ nhàng, không còn khô khan và nhám chán; học sinh cảm thấy thích thú và hào hứng hơn. Các em được nhìn lịch sử qua văn học và âm nhạc; cũng như cảm nhận thơ văn qua bức tranh quá khứ. Ví dụ 1: Khi dạy bài 18, tiết 22 – Lịch sử 9 “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời”. Sau khi cho học sinh tìm hiểu về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2//1930, giáo viên trình bày: “Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu một thời kì mới của cách mạng Việt Nam - từ đây cách mạng Việt Nam có Đảng lãnh đạo, chấm dứt thời kì khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Để được trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản, được sống và chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc là niềm khát khao cháy bỏng của những người Việt Nam yêu nước khi ấy. Trong hoàn cảnh đó, khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng vào năm 1938, Tố Hữu đã viết bài thơ “Từ ấy” để thể hiện niềm hân hoan, vui sướng của nhà thơ: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim... Tôi buộc lòng tôi với mọi người Để tình trang trải với trăm nơi Để hồn tôi với bao hồn khổ 8
  7. Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời Tôi đã là con của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ... Bài thơ thể hiện sự giác ngộ lí tưởng cách mạng của người thanh niên trẻ yêu nước. Tố Hữu đã khẳng định lí tưởng cộng sản, chân lí cách mạng như một nguồn ánh sáng mới, làm bừng lên tâm hồn nhà thơ. Qua đó học sinh hiểu được ý nghĩa của việc thành lập Đảng năm 1930 đã đưa một nguồn ánh sáng mới chỉ lối cho con đường cách mạng Việt Nam. Đây là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ở Việt Nam; là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là sự chuẩn bị đầu tiên cho những bước phát triển nhảy vọt về sau của cách mạng Việt Nam.” Như vậy, học sinh được học lịch sử qua văn học, khiến các em thích thú lắng nghe và tiếp thu kiến thức; khơi gợi ở các em sự tìm tòi, liên hệ giữa văn học và lịch sử. Lúc này, việc tìm hiểu về lịch sử có thể trở thành niềm yêu thích của học sinh, các em thấy được sợi dây liên kết của các tác phẩm văn học với hoàn cảnh lịch sử đất nước. Ví dụ 2: Khi dạy bài 25, tiết 33 – Lịch sử 9 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 – 1950)”, giáo viên có thể liên hệ đến bài thơ “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng. “Tây Tiến là tên một đơn vị bộ đội được thành lập vào năm 1947, hoạt động chủ yếu trên địa bàn núi rừng miền Tây Bắc sang tới Thượng Lào; có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt- Lào và phối hợp với bộ đội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Bài thơ ra đời năm 1948 khi Quang Dũng vừa rời đơn vị chưa lâu, giáo viên trích dẫn một số khổ thơ: Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi 9
  8. Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời! Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Áo bào thay chiếu, anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ về đồng đội, về chiến trường xưa. Đó cũng là bức tranh về một thời kì chiến đấu gian khổ, khắc nghiệt của những người lính trên chiến trường Tây Bắc trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược”. Như vậy, qua những khổ thơ được trích dẫn học sinh hình dung ra được cuộc chiến đấu ác liệt và gian khổ của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Mặc dù cuộc chiến đấu ấy thật dữ dội và chứa đựng nhiều nỗi đau kìm nén nhưng quân dân ta vẫn làm nên chiến thắng, từng bước làm thất bại âm mưu xâm lược của Pháp. 10
  9. Ví dụ 3: Khi dạy bài 29, tiết 42 – Lịch sử 9: “Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu nước”, giáo viên liên hệ đến bài hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây”. “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” là tên một bài thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật được sáng tác vào năm 1969, sau đó được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc. Bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nhân dân hai miền Nam, Bắc đang chiến đấu chống Mĩ cứu nước. Miền Nam trực tiếp chiến đấu chống Mĩ, miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mĩ, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ hậu phương. Giáo viên có thể chia học sinh trong lớp làm hai nhóm hát, mỗi nhóm hát một đoạn nối tiếp nhau: “Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn Hai đứa ở hai đầu xa thẳm Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây Trường Sơn Tây anh đi thương em Bên ấy mưa nhiều con đường gánh gạo Muỗi bay rừng già cho dài tay áo Hết rau rồi em có lấy măng không Còn em thương anh bên Tây mùa đông Nước khe cạn bướm bay lèn đá Biết lòng anh say miền đất lạ Chắc em lo đường chắn bom thù Anh lên xe trời đổ cơn mưa Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ Em xuống núi nắng về rực rỡ Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư Từ nơi em đưa sang bên nơi anh 11
  10. những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến Như tình yêu nối lời vô tận là Đông Trường Sơn nối Tây Trường Sơn”. Với việc sử dụng bài hát trong dạy học lịch sử sẽ thay đổi bầu không khí lớp học; làm cho giờ học trở nên sôi nổi, học sinh thoải mái hơn, thích thú với việc học hơn. Văn học và lịch sử có một sợi dây liên kết mật thiết với nhau. Ở mỗi một thời kì, đặc điểm thơ văn lại mang đậm dấu ấn của lịch sử đất nước. Khi dạy về lịch sử dân tộc, qua các giai đoạn, giáo viên lại đọc một bài thơ, một lời bài hát gắn liền với mốc thời gian đó sẽ giúp giờ học lịch sử không còn khô khan, nhàm chán. 3.4. Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh Để có được một giờ học sôi nổi, học sinh hăng hái tham gia xây dựng bài và đạt được kết quả học tập tốt; giáo viên cần phát huy được tính tích cực của học sinh bằng cách giao nhiệm vụ về nhà, đặt ra các câu hỏi để học sinh suy nghĩ, trả lời hay đưa ra các vấn đề thảo luận nhóm... Với những hoạt động như vậy, học sinh sẽ thấy được vai trò, nhiệm vụ của mình đối với mỗi giờ học. Các em nhận thức được rằng, trong mỗi giờ học mình được nêu ý kiến được trao đổi với các bạn và cô giáo về các sự kiện lịch sử, được thể hiện tư duy sáng tạo. Tất cả những điều đó tạo nên niềm hứng khởi cho học sinh khi chuẩn bị bài ở nhà và khi đến lớp. Các em tìm hiểu bài, chuẩn bị bài với niềm yêu thích và say mê. Các em sẽ “chờ” đến mỗi giờ học để được trình bày phần nhiệm vụ được giao của mình, để được thảo luận, được nêu và trả lời các câu hỏi. Ví dụ 1: Khi dạy bài 14, tiết 34 – Lịch sử 8: “Ôn tập lịch sử thế giới cận đại (Từ giữa thế kỉ XVI đến năm 1917)”, giáo viên chia lớp làm 5 nhóm và giao nhiệm vụ về nhà cho các nhóm. Ở phần I - “Những sự kiện lịch sử chính”, giáo viên yêu cầu cả 5 nhóm về nhà hoàn thành “Bảng thống kê những sự kiện chính của lịch sử thế giới cận đại” vào tờ giấy A1 theo mẫu Sách giáo khoa. Ở phần II - “Những nội dung chủ yếu”, bao gồm 5 nội dung; giáo viên yêu cầu mỗi nhóm trình bày một nội dung : + Nhóm 1: Những cuộc cách mạng tư sản đầu tiên. 12
  11. + Nhóm 2: Sự xâm lược của thực dân phương Tây với các nước phương Đông. + Nhóm 3: Cuộc đấu tranh của công nhân ở các nước tư bản. + Nhóm 4: Một số thành tựu về văn học, nghệ thuật, khoa học – kĩ thuật. + Nhóm 5: Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918). Các nhóm sẽ trình bày phần nội dung của mình dưới dạng hình thức sơ đồ tư duy trên khổ giấy A1, các em vẽ sơ đồ theo ý tưởng và sự sáng tạo của mình. Từng nhóm sẽ cử một thành viên lên bảng trình bày kết quả chuẩn bị của nhóm mình. Sau khi đã giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh, nhiệm vụ của giáo viên trong giờ học là quan sát phần trình bày của các nhóm, cho các em nhận xét, bổ sung và giáo viên sẽ là người nhận xét, đánh giá cuối cùng. Phần I: lần lượt cả 5 nhóm sẽ lên trình bày sự chuẩn bị của nhóm mình. Các nhóm khác quan sát, so sánh, đối chiếu với phần chuẩn bị của nhóm mình và đưa ra nhận xét, bổ sung. Phần II: lần lượt từng nhóm lên bảng trình bày phần chuẩn bị của mình. Các nhóm khác quan sát, đưa ra nhận xét về cả hình thức thể hiện và nội dung. Hình thức trình bày sơ đồ tư duy của nhóm có hợp lý và thể hiện được tính sáng tạo không; nội dung có đầy đủ, ngắn gọn không. Từ đó các nhóm có thể đặt câu hỏi phản biện cho nhau và trả lời. Giáo viên quan sát quá trình hoạt động của học sinh, đưa ra nhận xét cuối cùng và cho điểm từng nhóm. Như vậy, với việc tự chuẩn bị bài và chủ động trình bày kiến thức, nội dung của bài ôn tập sẽ giúp học sinh tự tổng hợp và ghi nhớ được khối lượng kiến thức đã được học. Qua phần các em vẽ sơ đồ tư duy sẽ kích thích trí sáng tạo, sự say mê trong học tập của học sinh. Việc trao đổi, phản biện giữa các nhóm sẽ kích thích tinh thần tích cực, chủ động của học sinh. Qua tất cả các hoạt động trên sẽ tạo nên một giờ học sôi nổi, học sinh trở thành trung tâm của hoạt động học. Với việc áp dụng biện pháp này trong dạy học lịch sử, tôi nhận thấy rằng các em sẽ hào hứng hơn rất nhiều với mỗi giờ học, giúp nâng cao chất lượng giảng dạy. 3.5. Giáo viên tích cực khen ngợi, động viên học sinh và cho điểm thưởng Trong mỗi giờ học, việc được thầy cô khen ngợi, cho điểm thưởng là một động lực rất lớn để các em học sinh cố gắng trong học tập. Qua một thời gian giảng dạy ở 13