Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tổ chức cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trải nghiệm với nước

docx 30 trang Chăm Nguyễn 27/12/2025 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tổ chức cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trải nghiệm với nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_to_chuc_cho_tre_mau_g.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tổ chức cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trải nghiệm với nước.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tổ chức cho trẻ Mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trải nghiệm với nước

  1. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Đối với con người nước là nền tảng cho tất cả các hoạt động. Nước cho ta uống, tạo ra thực phẩm cho chúng ta ăn, tạo ra năng lượng hỗ trợ cho nền kinh tế hiện đại của chúng ta, duy trì các dịch vụ sinh thái và các yếu tố khác mà tất cả chúng ta đều phụ thuộc. Nói đến nước xung quanh chúng ta thì không có gì mới nhưng đối với trẻ mầm non thì trải nghiệm về nước sẽ giúp trẻ thu nhận được nhiều điều bí ẩn và mới lạ đối với chính các trẻ mà hàng ngày có thể trẻ không để ý. Đến trường trẻ không chỉ được chăm sóc mà trẻ còn được trải nghiệm, tìm hiểu những sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh. Theo nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V.S. quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế, là một thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là tương tác giữa con người và thế giới. Trải nghiệm nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ, tạo ra các môi trường khác nhau để trẻ được trải nghiệm nhiều nhất, đồng thời là sự khởi nguồn của sáng tạo, biến những ý tưởng sáng tạo của trẻ thành hiện thực để trẻ thể hiện hết khả năng sáng tạo của mình. Nói tới trải nghiệm là nói tới trẻ phải qua thực tế, tham gia vào hoặc tiếp xúc đến sự vật hoặc sự kiện nào đó và tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần, là hoạt động giáo dục thực tiễn được tiến hành song song với hoạt đông học. Thông qua việc được trải nghiệm. Ngay từ khi còn nhỏ mỗi khi được tắm trong chậu nước bé đã mỉm cười và lộ rõ vẻ thích thú vui sướng. Lớn lên trẻ thích vỗ nước, đập nước, hắt nước, dội nước và phun nước Trải nghiệm với nước đem lại nhiều lợi ích phát triển nhận thức của trẻ. Khả năng nhận thức chính là khả năng suy nghĩ xuất phát từ nhu cầu muốn nhận biết thế giới khách quan của con người. Phát triển khả năng nhận thức, hình thành các thái độ nhận thức và kĩ năng nhận thức của trẻ là nhiệm vụ trung tâm của giáo dục mầm non nhằm hình thành nền tảng cho việc học tập của trẻ. Thao tác với đồ vật trong khi chơi giúp cho những vận động thô của trẻ trở lên mạnh mẽ, khéo léo hơn. Trẻ học được những biểu tượng mới, những cách giải quyết vấn đề mới, cách phối hợp với bạn bè. Vốn từ cũng từ đó trở lên phong phú và giàu có. Trẻ mạnh dạn tự tin khi tiếp xúc với những vật lạ và đễ dàng thích ứng với thế giới xung quanh. Không những thế thông qua việc tổ chức cho trẻ trải nghiệm với nước cô giáo còn giáo dục trẻ biết tiết kiệm nước trong sinh hoạt hang ngày, biết bảo vệ và giữ gìn nguồn nước. Xuất phát từ những đặc điểm trên, tôi mạnh dạn đi sâu tìm tòi và học hỏi áp dụng “Một số biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi trải nghiệm với nước”
  2. 2 * Mục đích của đề tài: Trải nghiệm với nước đem lại nhiều lợi ích phát triển nhận thức của trẻ. Trẻ học được những biểu tượng mới, những cách giải quyết vấn đề mới, cách phối hợp với bạn bè. Vốn từ cũng từ đó trở lên phong phú và giàu có. Trẻ mạnh dạn tự tin khi tiếp xúc với những vật lạ và đễ dàng thích ứng với thế giới xung quanh. * Nhiệm vụ nghiên cứu: Trong thời gian nghiên cứu tại trường tôi nhận thấy trong các hoạt động của trẻ tại trường mầm non việc cho trẻ tham gia các hoạt động trải nghiệm khiến trẻ sử dụng tổng hợp các giác quan (nghe, nhìn, chạm, ngửi, nếm, làm thí nghiệm...) có thể tăng khả năng lưu giữ những điều đã tiếp cận được lâu hơn. Giúp trẻ có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng, giúp cho việc học trở nên thú vị hơn với trẻ. * Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng thu thập và phân tích thông tin từ các sách báo, tài liệu trên các trang mạng giáo dục nhằm mục đích lựa chọn những khái niệm và nội dung cơ bản lựa chọn làm cở sở lý luận của đề tài. * Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9/2022 đến hết tháng 06/2023. * Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi. * Phạm vi ứng dụng: Với đề tài này có thể áp dụng ở các trường mầm non trên toàn thành phố Hà Nội.
  3. 3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.CƠ SỞ LÝ LUẬN Như chúng ta đã biết lợi ích của nước giúp trẻ cảm thấy thoải mái, vui vẻ và thích thú. Chơi với nước là hoạt động thư giãn, giải trí vì nó không đòi hỏi, bắt buộc hoàn thành nhiệm vụ cụ thể nào nên tôi luôn băn khoăn làm thế nào để tổ chức cho trẻ trải nghiệm với nước đạt kết quả cao nhất. Giáo dục đối với trẻ mầm non luôn đặt trên cơ sở học thông qua chơi và trẻ đóng vai trò chủ đạo trong quá trình diễn ra hoạt động. Trẻ học thông qua làm, sờ, trải nghiệm, lựa chọn và trò chuyện phán đoán. Khi trẻ sinh ra vốn với bản tính tò mò ham hiểu biết, ngay từ nhỏ trẻ đã có khả năng tìm hiểu trải nghiệm, khám phá, cố gắng giải thích về bản thân mình về những hiểu biết thế giới xung quanh. Trẻ cần một môi trường nuôi dưỡng và kích thích trẻ tính tò mò, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức khác nhau, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ, khích lệ trẻ đặt câu hỏi, tìm câu trả lời và giải quyết vẫn đề. Tổ chức cho trẻ trải nghiệm với nước có rất nhiều hình thức, đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức kỹ năng thông qua nhiều hoạt động: Hoạt động thể chất, hoạt động tạo hình, hoạt động âm nhạc, hoạt động làm quen với toán, khám phá khoa học, và còn rất nhều các hoạt động khác. Với mỗi hình thức tôi luôn tìm tòi, cố gắng áp dụng những hình thức hướng dẫn trẻ phù hợp thiết thực và gần gũi với cuộc sống thực tế đáp ứng được nhu cầu hoạt động của trẻ giúp trẻ vận dụng hết những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng thuận lợi. Bên cạnh đó tôi luôn tạo điều kiện cho trẻ được tham gia trải nghiệm, thực hành có thể tổ chức theo quy mô khác nhau như: theo nhóm, theo lớp, theo khối, theo trường. Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm và quy mô lớp là ưu thế về mọi mặt như đơn giản không tốn kém mất ít thời gian và học sinh tham gia được nhiều hơn. Do trong các hoạt động giáo dục trước kia, trẻ luôn thụ động và cô giáo là người điều khiển các hoạt động. Vì thế, việc cho trẻ tự trải nghiệm hay làm cùng cô sẽ gây cho trẻ hung thú hoạt động, trẻ tự tìm hiểu và tích lũy kinh nghiệm cho chính bản thân trẻ. II.CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Đặc điểm chung: - Trường mầm non A Thị Trấn Văn Điển có bề dày đạt được nhiều thành tích cao như: Liên tục đạt tập thể lao động xuất sắc cấp thành phố, cờ thi đua dẫn đầu Thành phố năm 2013 - 2014; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2014; Bằng khen của UBND Thành phố năm 2015; Bằng khen Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2018. Đặc biệt năm học 2013 - 2014 làm điểm Thành phố
  4. 4 đón đoàn cán bộ, giáo viên cốt cán toàn quốc về “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”; năm học 2015 - 2016 làm điểm cấp huyện chuyên đề “Đổi mới hình thức xây dựng môi trường giáo dục”. Năm học 2018 - 2020 trường được công nhận lại “Trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ 1”. - Trường có 15/15 lớp thực hiện chương trình giáo dục mầm non áp dụng phương pháp tiên tiến, các trang thiết bị để phục vụ chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng hiện đại, giúp cho tôi có sự đổi mới về tư duy giảng dạy của mình. - Nhà trường thường xuyên tổ chức chuyên đề, dự giờ thăm lớp, bồi dưỡng cho giáo viên về chuyên môn. 2. Thuận lợi - Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Trì, Ban giám hiệu nhà trường tạo điều kiện trang bị đầy đủ cơ sở vật chất đồ dùng đồ chơi trong lớp, đồ dùng đồ chơi hiện đại tạo điều kiện để tổ chức các hoạt động cho trẻ tốt hơn. Khuôn viên trường khang trang thoáng mát, mặt sàn lớp học được lắp toàn bộ bằng sàn gỗ với hệ thống điều hòa 2 chiều, bình nóng lạnh, máy sấy tay, bảng tương tác, máy chiếu, máy tính có kết nối wifi tới lớp thuận lợi cho công việc giảng dạy được tốt hơn. - Bản thân tôi nhiều năm liền là giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn 5 tuổi, có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình trong công việc là giáo viên yêu nghề, mếm trẻ, có năng khiếu làm đồ dung đồ chơi phục vụ cho tiết dạy. Đồng nghiệp cùng phụ trách lớp là giáo viên dạy giỏi và nhiệt tình trong công việc. - Trẻ ra lớp ngay từ đầu năm học, tỷ lệ chuyên cần cao từ 95% đến 98%. Đa số trẻ thông minh, nhanh nhẹn tiếp thu tốt những kiến thức. - Phụ huynh luôn tin tưởng và nhiệt tình giúp đỡ có tinh thần phối kết hợp với giáo viên trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. 3. Khó khăn - Đặc điểm sinh lý của một số trẻ thiếu tự tin chưa mạnh dạn, một trẻ sinh sống từ nhỏ ở nước ngoài mới về nước nên khả năng giao tiếp của trẻ còn hạn chế. Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo dễ tiếp thu nhưng cũng dễ quên những kiến thức vừa học. - Biện pháp mà giáo viên sử dụng để tổ chức cho trẻ trải nghiệm chủ yếu là phương pháp trực quan dùng lời nói nên việc truyền thụ những kiến thức trừu tượng cho trẻ gặp nhiều khó khăn. III. CÁC BIỆP PHÁP THỰC HIỆN 1.Biện pháp 1: Nghiên cứu tài liệu và khảo sát thực trạng tình hình ở trẻ: Muốn tổ chức tốt các hoạt động trải nghiệm với nước cho trẻ, tôi nghĩ mình phải có nhận thức sâu sắc về quan điểm giáo dục. Việc áp dụng quan
  5. 5 điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, áp dựng các phương pháp giáo dục tiên tiến Montessori, áp dụng phương pháp Steam, áp dụng phương pháp Reggio Emilia. Tôi dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu học hỏi bằng nhiều hình thức khác nhau như: Sưu tầm tài liệu về quan điểm giáo dục, mô đun xây dựng trường mầm non, hướng dẫn tổ chức và sử dụng môi trường giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non, tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng trải nghiệm cho trẻ. Bên cạnh đó tôi còn xem các tư liệu, giáo án mẫu, chia sẻ kinh nghiệm của đồng nghiệp trên các nhóm Zalo, trang mạng của ngành. Từ đó, tôi thấy bản thân mình cần phải vận dụng sáng tạo các kiến thức lĩnh hội để tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho trẻ một cách hiệu quả nhất. Ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch khảo sát thực trạng tình hình ở trẻ thông qua việc theo dõi các hoạt động hàng ngày, cùng với việc tổ chức cho trẻ tham gia một số hoạt động trải nghiệm bao gồm các tiêu chí: Khả năng quan sát, khả năng so sánh, khả năng phán đoán, khả năng phân biệt, khả năng suy luận, khả năng giao tiếp, khả năng trải nghiệm. Thời đại công nghệ thông tin trong năm học này tôi đã xây dựng khảo sát thông qua mạng truyền thông. Phiếu khảo sát được gửi tới phụ huynh bằng đường link. Để phụ huynh có thể tranh thủ bất cứ khi nào ngay cả những lúc nghỉ trưa trong thời gian đi làm chỉ với chiếc điện thoại thông minh phụ huynh có thể mở ra và trả lời câu hỏi bằng Excel trích xuất từ Google và gửi lại cho cô giáo. Ngoài ra tôi đã sử dụng mang xã hội lập Zalo nhóm lớp để khảo sát, trao đổi với phụ huynh về tình hình và nhận thức của trẻ. Với việc khảo sát theo hình thức đổi mới này đã giúp tôi tiết kiệm được thời gian. Phụ huynh lại rất thuận tiện có thể điền thông tin ở mọi nơi mà chỉ cần sử dụng chiếc điện thoại thông minh hay máy tính rồi gửi cho cô giáo. Và đây là kết quả khỏa sát đầu năm trẻ đạt được: Các tiêu chí trải nghiệm với nước của trẻ: Khả Khả Khả Khả Khả Khả Khả năng năng năng năng Tổng năng so năng năng quan phán phân trải số sánh suy luận giao tiếp trẻ sát đoán biệt nghiệm Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ 40 30 10 25 15 25 15 24 16 25 15 30 10 30 10 % 75 25 62,5 37,5 62,5 37,5 60 40 62,5 37,5 75 25 75 25
  6. 6 Kết quả: Tôi nhận được thông qua các tiêu chí trải nghiệm với nước của trẻ khả năng quan sát, so sánh, phán đoán, phân biệt chưa đồng đều. 2.Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch tổ chức cho trẻ trải nghiệm với nước theo các tháng. Trẻ ở lứa tuổi này có đặc điểm là dễ nhớ nhưng mau quên, vì thế việc lựa chọn nội dung tổ chức cho trẻ phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, lựa chọn những nội dung thật gần gũi và phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, đưa những nội dung đó vào các giờ học một cách thích hợp sẽ tạo hiệu quả rất cao trong việc hình thành cho trẻ những nhân cách tốt. Là giáo viên nhiều năm liền giảng dạy ở khối mẫu giáo lớn tôi luôn tìm tòi và nghiên cứu về nội dung tổ chức cho trẻ trải nghiệm với nước một cách khoa học và đạt được kết quả cao nhất. Để làm được như vậy, tôi cần phải xác định chính xác mục đích, yêu cầu, cách thức tiến hành của từng hoạt động. Để từ đó tôi sưu tầm, biên soạn và sáng tạo các hoạt động trải nghiệm một cách thiết thực nhất, hiểu quả nhất cho trẻ. Dựa vào đặc điểm nhận thức của trẻ và khỏa sát thực trạng đầu năm của trẻ. Tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu trên sách báo, Internet, các thông tin mạng trên các trang truyền thông chính thống. Muốn thực hiện các hoạt động một cách có khoa học và có hiệu quả bản thân tôi trước hết đã lập ra kế hoạch cho mình gồm có: Kế hoạch năm, kế hoạch tháng, kế hoạch ngày. Đây là bảng kế hoạch xây dựng theo các tháng như sau: Bảng kế hoạch xây dựng theo tháng STT Tháng Các hoạt động trải nghiệm - Thổi bóng Tháng 9 1 - Đổ và rót nước (3 trải nghiệm) - Sủi bóng nước như thế nào? - Thay đổi màu trong nước Tháng 10 2 - Nước đổi màu và vị như thế nào? (2 trải nghiệm) - Tranh vẽ ngôi nhà in bằng dấu vân tay. Tháng 11 - Rót nước vào các cốc khác nhau 3 (2 trải nghiệm) - Thổi nước ra khỏi chai. Tháng 12 - Nhiệt độ của nước như nào 4 (2 trải nghiệm) - Vật hút nước và vật không hút nước. Tháng 1 - Các vật có thể tan và không tan trong nước 5 (2 trải nghiệm) - Nước dâng lên như nào 6 Tháng 2 - Đo lượng nước bằng một đơn vị đo lường.
  7. 7 (2 trải nghiệm) - Tại sao các chai này nổi. Tháng 3 - Cái nào đựng được nước nhiều hơn 7 (2 trải nghiệm) - Tại sao nước thành đá? Tháng 4 - Vật chìm trong nước như thế nào? 8 (2 trải nghiệm) - Vẽ tranh màu nước bằng nhiều cách khác nhau Tháng 5 - Tranh thổi màu nước 9 (2 trải nghiệm) - Vẽ tranh bằng nước theo nhiều cách khác nhau Kết quả: Với việc xây dựng bảng kế hoạch theo tháng giúp giáo viên chủ động xác định rõ mục tiêu, nội dung và triển khai các hoạt động một cách hiệu quả. 3. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học kích thích trẻ tham gia trải nghiệm. Ở lứa tuổi mầm non “trẻ học mà chơi, chơi mà học” thông qua chơi trẻ lĩnh hội được kiến thức. Việc tạo cơ hội cho trẻ được học tập, vui chơi trong môi trường thân thiện, trẻ sẽ phát triển toàn diện về các mặt thể chất nhận thức, tình cảm quan hệ xã hội, thẩm mỹ. Môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của trẻ. Xây dựng môi trường lớp học tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ trong các giờ hoạt động trên lớp quyết định đến chất lượng và hiệu quả của học tập. Với cách làm hiện này việc trang trí xây dựng môi trường lớp học cho trẻ bao gồm xây dựng môi trường không gian lớp. Ngay đầu năm học mới tôi đã chú ý tới việc xây dựng môi trường lớp học khi trang trí, tổ chức các hoạt động, tôi luôn căn cứ vào mục tiêu của từng chủ đề, đồng thời tận dụng tối đa môi trường không gian xung quanh lớp, khai thác các thiết bị đồ dùng có sẵn, bổ sung thêm những thiết bị đồ dùng tự làm. Mọi thay đổi, sắp xếp được tính toán đề đảm bảo tận dụng các nguyên liệu, đảm bảo tính liên kết, dẫn dắt trẻ phát huy trí tưởng tượng. Đặc biệt, là góc “thiên nhiên quanh bé” tôi đã trang trí sinh vật cảnh làm thí nghiệm khoa học, với nhiều cây xanh, được sắp xếp hợp lý, rất đẹp mắt và vừa tầm với của trẻ thu hút kích thích trẻ tìm tòi và khám phá tích cực và có hiệu quả cao. Ngoài ra, ở các góc chơi khác cũng có những hình ảnh mang tính chất giáo dục trẻ có những hành vi đúng với thiên nhiên cũng như sự vật xung quanh. Để phát triển toàn diện nhận thức của trẻ thông qua các góc chơi. VD: Tại góc khám phá bằng các đồ dùng, nguyên liệu đơn giản dễ kiếm như ống nước, các chia nước lavi to nhỏ khi tham gia trải nghiệm ở góc chơi trẻ tự lựa chọn những đồ dùng cho buổi trải nghiệm ngày hôm đó.
  8. 8 Với hoạt động ngoài trời khi tổ chức cho trẻ trải nghiệm với bề vầy thì trẻ đã được chuẩn bị những trang phục phù hợp khi tham gia trải nghiệm cùng với những đồ chơi với nước tạo cho trẻ niềm vui, hứng thú mỗi ngày khi đến trường, kích thích các giác quan tạo cho trẻ có những kỹ năng làm quen với nước ngay từ nhỏ điều đó sẽ giúp cho các bé nhanh biết bơi và tránh được những mối nguy hiểm đuối nước có thể xảy ra. Kết quả: Môi trường lớp học được xây dựng sáng tạo và hấp dẫn trẻ, tôi thường xuyên cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, qua đó phát triển khả năng tư duy sáng tạo. Trẻ của lớp tôi còn biết tự tìm hiểu, tự đặt những câu hỏi về sự vật hiện tượng. (Phụ lục 2: Hình ảnh minh hoạ) 4. Biện pháp 4. Lồng ghép hình thức trải nghiệm với nước thông qua một số hoạt động cho trẻ khi đến trường mầm non. Việc áp dụng quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, lồng ghép phương pháp giáo dục tiên tiến. Mọi hoạt động đều hướng tới từng trẻ chính vậy mà trẻ không còn thụ động khi lĩnh hội những kiến thức của giáo viên truyền đạt. Như cho trẻ làm một số thí nghiệm nhỏ với nước, ở các hình thức khác nhau. Trong quá tình tìm hiểu khám phá và linh hội sự vật hiện tượng, trẻ lớp tôi chỉ cần nghe cô giáo nói, quan sát những gì cô yêu cầu. Tôi cho trẻ tham gia hoạt động thực tiễn trong một chừng mực nào đó để có thể phát hiện ra những tính chất đặc trưng của nước, làm rõ các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng. Để làm được điều đó thì tổ chức cho trẻ trải nghiệm với nước ở mỗi hoạt động là rất quan trọng. Nó phải đảm bảo phù hợp với trẻ, với điều kiện lớp, phải an toàn với trẻ, trong quá tình hướng dẫn trẻ trải nghiệm với nước. Tôi đã suy nghĩ và lựa chọn một số hình thức làm một số trải nghiệm với nước như sau: THÁNG 9 VD: Thổi bóng - Trẻ biết cách thổi các quả bóng từ nước xà phòng pha loãng như thế nào. - Chuẩn bị: + Một chút bột xà phòng + Một cốc nước nhỏ + Ống nhựa. cọng rơm để chấm nước xà phòng và thổi. - Cách tiến hành: + Trẻ lấy ống nhựa (cọng rơm) vào nước xà phòng, rồi giơ ngẩng đưa lên miệng và thổi từ từ. Nước trong ống căng ra và tạo thành quả bóng.
  9. 9 + Khơi gợi trẻ so sánh: “Những quả bóng được thổi ra từ ống nhựa như nào? và những quả bóng được thổi ra từ cọng rơm” và giải thích tại sao lại khác nhau như vậy. VD: Đổ và rót nước. - Trẻ học được cách đổ nước cẩn thận nhờ sự khéo léo của các ngón tay và phối hợp tay và mắt. - Chuẩn bị: Các hộp nhựa trong có kích thước khác nhau với miệng to nhỏ khác nhau. + Các bình nhựa nhỏ + Phễu nhựa + Chậu nhựa - Cách tiến hành: Trẻ rót nước vào các bình nhựa nhỏ (các hộp khác nhau) một cách cẩn thận sao cho không đổ ra ngoài. Trẻ nhận thấy rót nước vào bình có miệng nhỏ rất khó và dễ bị đổ ra ngoài. Trong khi cho trẻ rót nước hướng dẫn trẻ dùng phễu để rót nước vào bình có miệng nhỏ. VD: Sủi bóng nước như thế nào - Trẻ biết cách làm cho nước sủi bóng và hiểu được nguyên nhân - Chuẩn bị: + Một ít bột cà phòng + Hai bình đựng nước + Thìa cà phê để xúc bột cà phòng + Ống nhựa để thổi xà phòng + Đũa trẻ được chẻ phần đầu cho xòe ra - Cách tiến hành: Trẻ cho nước vào hai bình nước như nhau. Trẻ múc một thìa xà phòng bột cho vào một bình nước. dung đũa ngoáy đều cốc nước xà phòng bột. Trẻ quan sát màu của hai cốc nước và nêu sự khác biệt của hai cốc nước đó. + Trẻ dung một đũa tre cắt tòe đầu ngoáy vào cốc nước không có bột xà phòng. Sau đó dùng chiếc đũa tre cắt tèo đầu và ngoáy vào cốc nước có bột xà phòng và nêu nhận xét về sự khác biệt của hai cốc nước đó. Yêu cầu trẻ giải thích tại sao có hiện tượng như vậy. THÁNG 10 VD: Nước đổi màu và vị như thế nào? - Trẻ nhận biết được sự thay đổi màu và vị của nước. - Chuẩn bị: Các cốc nước sạch có thể uống được, thìa cà phê + Đường hoặc muối. + Các loại quả dùng để pha nước.
  10. 10 - Cách tiến hành: + Cho trẻ quan sát cốc nước, ngửi, nếm, uống nước để nhận ra đặc điểm của nước: không màu, không mùi, khồn vị. Trẻ nêu nhận xét của mình về đặc điểm của nước. Điền vào bảng sau: Nước Vẽ hình mắt Vẽ hình mũi Vẽ hình lưỡi Vẽ cốc nước 0 0 0 + Hỏi trẻ điều gì xảy ra khi cho 1 thìa đường hoặc 1 thìa muối vào cốc nước này. Trẻ phỏng đoán, nếu ý kiến và sau đó trải nghiệm lại (quan sát, ngửi, nếm..). Nêu kết luận cuối cùng sau khi trải nghiệm. + Hỏi tiếp trẻ điều gì xảy ra khi cho 2 thìa đường hoặc thìa muối vào cốc nước này. Trẻ phỏng đoán, nêu ý kiến và sau đó trải nghiệm lại (quan sát, ngửi, nếm..). Nêu kết luận cuối cùng sau khi trải nghiệm. Trẻ đánh dấu vào bảng: Nước Vẽ hình mắt Vẽ hình mũi Vẽ hình lưỡi Vẽ cốc nước 0 0 0 Vẽ cốc nước và 1 0 0 X thìa đường Vẽ cốc nước và 2 0 0 XX thìa đường + Điều gì xảy ra khi vắt nước cam vào cốc nước này. Trẻ phỏng đoán, nêu ý kiến và sau đó trải nghiệm lại (quan sát, ngửi, nếm..). Nêu kết luận cuối cùng sau khi trải nghiệm và ghi vào bảng sau: Nước Vẽ hình mắt Vẽ hình mũi Vẽ hình lưỡi Vẽ cốc nước 0 0 0 Vẽ cốc nước và 1 0 0 X thìa đường Vẽ cốc nước và 2 0 0 XX thìa đường Vẽ cốc nước và X X X quả cam + Sau đó cho trẻ nhận xét và kết luận: Nước sạch không màu, không mùi, không vị. Nước có thể thay đổi nếu có đường, muối, nước cam. VD: Tranh vẽ ngôi nhà in bằng dấu vân tay - Trẻ biết sử dụng ngón tay để in thành bức tranh ngôi nhà - Chuẩn bị: + Tranh mẫu “ngôi nhà” in bằng dấu vân tay
  11. 11 + Giấy trắng + Khay đựng màu nước: màu đỏ, xanh, vàng + Chậu nước sạch và khăn lau - Cách tiến hành: + Cho trẻ quan sát và nhận xét bức tranh mẫu “ngôi nhà” in bằng hình vân tay. + Hướng dẫn trẻ làm theo từng bước: nắm bàn tay lại chỉ để 1 ngón trỏ, nhúng ngón tay trỏ vào khay đựng màu nước, nhấc đầu ngón tay ra khỏi khay màu nước và ấn mạnh lên tờ giấy, lần lượt thành ngôi nhà + Cho trẻ về nhóm thực hiện: hướng dẫn những trẻ còn lúng túng, chưa làm được. VD: Thay đổi màu trong nước. - Trẻ nhận biết được đặc điểm màu sắc của nước. - Chuẩn bị: + Bảng pha màu mỗi trẻ 1 bảng. + Nước sạch + Màu nước + Bút lông để pha màu - Cách tiến hành: + Cho trẻ chấm bút vẽ vào cốc nước sạch, sau đó phết lên bảng ở ô cốc nước và nêu nhận xét. + Trẻ nhúng bút vẽ vào cốc nước và lấy ít nước vào đĩa pha màu, sau đó trẻ nhúng vào màu đỏ và trộn với nước trong đĩa pha màu, pha cho đều rồi quệt lên bảng màu. + Trẻ nhúng bút vẽ vào màu đỏ và trộn với nước trong đĩa pha màu, pha cho đều, sau đó quệt lên bảng màu. + Tiếp cho trẻ nhúng lần 3 và quệt lên bảng màu. + Cho trẻ so sánh 3 ô màu đỏ và nêu nhận xét: Nước không có màu, nước sẽ thay đổi màu tùy theo màu lựa chọn, màu càng đậm nếu pha nhiều lần. THÁNG 11 VD: Thổi nước ra khỏi chai - Trẻ trau dồi kĩ năng quan sát, khả năng dự đoán, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết. - Chuẩn bị: + Một chai không + Một ống nhựa cao su để thổi + Một chậu nước đầy