Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh Lớp 5 học Lịch sử thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học số
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh Lớp 5 học Lịch sử thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_tao_hung_thu_cho_hoc.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh Lớp 5 học lịch sử thông qua việc sử.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh Lớp 5 học Lịch sử thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học số
- BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1. Sự cần thiết hình thành sáng kiến Trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học, môn học Lịch sử hay như những môn học khác có vai trò tác động đến con người không chỉ trí tuệ mà còn cả về tư tưởng tình cảm. Môn học Lịch sử góp phần xây dựng con người phát triển hoàn thiện về “Đức - Trí - Thể - Mỹ” ở những mức độ khác nhau. Nếu các môn học khác giúp các em thấy được cái hay, cái đẹp để càng yêu quý con người, dân tộc Việt Nam thì thông qua môn học Lịch sử các em không chỉ thấy được quá trình phát triển của đất nước, một dân tộc mà rộng hơn là cả một xã hội loài người. Bên cạnh đó, môn học này còn góp phần bồi dưỡng và phát triển cho học sinh thói quen ham học hỏi, tìm hiểu để biết về lịch sử dân tộc; tôn trọng, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và các di tích lịch sử văn hóa; góp phần giáo dục và hình thành nên tính cách của một con người trong thời đại mới. Lịch sử là quá khứ, là nơi chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để tham chiếu kinh nghiệm cha ông vào sự phát triển hôm nay.Đó là hồn cốt, truyền tải những giá trị truyền thống, mà nếu không có lịch sử không thể hiểu được vị trí của hiện tại. Có lịch sử mới có tương lai. Học lịch sử để dạy các em biết, tổ tiên ông cha ta đã lập quốc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc như thế nào, đặc biệt là trong thời đại ngày nay đối với chúng ta, nếu không quan tâm đến lịch sử là có tội với tổ tiên. Lịch sử không diễn ra theo một con đường giản đơn và thẳng tắp mà thường gập ghềnh, quanh co, phức tạp. Lịch sử là quá trình phát triển khách quan của xã hội loài người nói chung cũng như của mỗi quốc gia, dân tộc. Sử học đáp ứng một nhu cầu tự nhiên và ngày càng nâng cao của con người vì ai cũng cần biết mình sinh ra từ đâu và quá khứ như thế nào. Chúng ta không thể hình dung được sự tồn tại và phát triển của loài người nếu như chúng ta bị tách rời khỏi quá khứ hoặc với cả một quá khứ mù mịt. Nếu Lịch sử dân tộc ngừng chảy, hoặc chảy không mạnh, nó sẽ sinh ra một thế hệ con người Việt Nam mới “vô thức”.Có thể nói đó như là những người máy, không có quê hương, đất nước, gia đình, dòng họ, không có sự yêu thương đùm bọc, chia sẻ, thêm vào đó là sẵn không có sự tôn trọng, thích thì làm, không có trên có dưới, xem thường các đạo lý mà trước hết là đạo làm người. Đồng thời, nước ta là nước đang phát triển, cần phải học hỏi kinh nghiệm của các nước khác. Kiến thức lịch sử có tác dụng to lớn trong giáo dục các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ truyền thống, bản sắc dân tộc để không bị
- hòa tan khi hội nhập với thế giới, khu vực. Lịch sử là bản thân những hoạt động xã hội loài người, dân tộc trên tất cả các lĩnh vực với những biểu hiện muôn màu, muôn vẻ, mà nhờ đó con người có thể đúc kết được các kinh nghiệm làm gương cho đời sau. Học lịch sử còn để biết giá trị của ngày hôm nay và từ đó biết ý nghĩa của thành ngữ “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Lịch sử giáo dục lòng yêu nước qua các tấm gương khắc phục khó khăn, không ngại gian khổ, hy sinh, xả thân vì nước, thể hiện tinh thần “mình vì mọi người”. Qua đó học sinh ý thức được trách nhiệm của mình đối với xã hội, Tổ quốc. Lịch sử là bộ môn khoa học, về mặt văn hóa nó gắn liền với hình hài đất nước, đó là dòng sông, bến nước, sân đình, cây đa, giếng nước, lũy tre làng, là gia đình, tổ tiên. Lịch sử nuôi dưỡng thế hệ con người Việt Nam, giáo dục góp phần hình thành cái tâm, tính, cần cù, chăm chỉ, sáng tạo, yêu thương đùm lẫn nhau, gắn tình yêu gia đình, làng xóm với quê hương đất nước. Những tri thức lịch sử trang bị cho chúng ta những kiến thức tinh hoa của văn hóa nhân loại, của dân tộc để học hỏi, giao lưu, hội nhập. Ngày 27 tháng 12 năm 2018, Bộ GDĐT công bố Chương trình Giáo dục Phổ thông - Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Chương trình thể hiện rõ quan điểm của Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo” có nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành và phát triển năng lực”. Trước xu thế phát triển của xã hội đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới một cách mạnh mẽ, đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học, cũng như phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh để có thể đào tạo ra những lớp người lao động mới mà xã hội đang cần. Trong đó, việc đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt chú ý nhất là môn Lịch Sử . Để đạt được mục tiêu của nền giáo dục tiên tiến cũng như đáp ứng được quan điểm chỉ đạo của Bộ giáo dục và Đào tạo, cần phải hướng tới cách dạy theo hướng phát triển năng lực của học sinh, tạo được sự hứng thú trong giờ học thì tiết học mới mang lại hiệu quả cao. Giống như các môn học khác, dạy học Lịch sử cũng phải theo xu hướng đó. Chương trình hướng tới dạy học phát triển toàn
- diện phẩm chất, năng lực người học, đặt nền móng cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục con người có đầy đủ các phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, thời kỳ phát triển mạnh mẽ về công nghệ và hội nhập quốc tế thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học số vào trong bài giảng Xây dựng và ứng dụng thiết bị dạy học số Hiện nay nhu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 4.0 và chuyển đổi số quốc gia nói chung, của ngành giáo dục nói riêng vừa là nhiệm vụ, vừa là nhu cầu hết sức cấp thiết. bổ sung thiết bị dạy học tại các cơ sở giáo dục. Đồng thời, bổ sung nguồn tư liệu dạy học, thiết bị dạy học số được sử dụng trong công tác dạy và học tại các cơ sở giáo dục, đặc biệt là những nơi chưa có điều kiện mua sắm đầy đủ trang thiết bị dạy học. Hỗ trợ các đơn vị trong việc chuẩn bị thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định của Bộ giáo dục và đào tạo. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy và học, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục theo đúng mục tiêu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia. Năm học 2022-2023 là năm học thứ ba ngành giáo dục chính thức triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, bắt đầu tổ chức thực hiện chương trình sách giáo khoa mới đối với lớp 3. Chương trình mới không bắt buộc sắm mới toàn bộ thiết bị dạy học. Các môn trong chương trình mới không thay đổi nội dung khoa học so với hiện nay nên không cần thay mới trang thiết bị dạy học mà đẩy mạnh công nghệ thông tin trong ứng dụng dạy học. Ví dụ trước nay chúng ta có nhiều mẫu vật to cồng kềnh như tranh ảnh, mô hình nhựa..., thay vào đó sẽ là tranh ảnh điện tử, mô hình 3D để học sinh quan sát thuận lợi, sinh động hơn. Chương trình mới sẽ tăng số lượng thiết bị dạy học để học sinh được thực hành thí nghiệm nhiều, có hứng thú trải nghiệm học tập tốt qua thiết bị dạy học số .
- Ngày 03/8/2022 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 13/2022/TT- BGDĐT: Điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông. Lịch sử trở thành môn học bắt buộc trong chương trình GDPT 2018. Song trên thực tế, học sinh tiểu học phần lớn các em chưa yêu thích và cũng không coi trọng môn học Lịch sử. Vậy làm sao khơi dậy ở các em lòng đam mê, yêu thích môn học nhằm phát huy năng lực học tập tích cực trong giờ học Lịch sử? Chỉ khi thật sự yêu thích môn học các em sẽ không thấy nhàm chán, mà ngược lại cảm thấy thích thú, tích cực tham gia vào hoạt động học tập, chủ động khám phá, tìm tòi việc tiếp thu bài học sẽ diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên và hiệu quả . Từ đó, giúp các em có được nền kiến thức vững chắc làm tiền đề cho việc tiếp thu những kiến thức ở những lớp học trên được dễ dàng hơn. Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học, định hướng của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về đổi mới giáo dục, Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT và thực tế giảng dạy của bản thân, tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 5 học lịch sử thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học số” 2. Căn cứ để thực hiện sáng kiến Căn cứ vào mục tiêu của cấp học: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành và phát triển năng lực. Căn cứ vào nhiệm vụ thực hiện kế hoạch năm học và thực tế giảng dạy tại nhà trường và địa phương, căn cứ vào nhiệm vụ của giáo viên: Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đảm bảo tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh. Phối hợp chặt chẽ với gia đình, các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát học tập, rèn luyện, hướng nghiệp của học sinh. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP: 1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến 1.1. Định nghĩa hứng thú học tập. Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân. Được thể hiện qua sơ đồ sau:
- Thái độ, Lòng yêu thích, tin tưởng vào khoa học, ham tìm tòi trên thiết bị hứng thú dạy học số, khám phá Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, nhận biết đúng các nhân vật, sự kiện, Kỹ năng hiện tượng lịch sử, có cảm xúc, tình cảm trước sự kiện, Ghi Vận Phân Hiểu Tổng hợp Tri thức nhớ dụng tích 1.2. Hứng thú học môn Lịch sử của học sinh lớp 5 * Khái niệm hứng thú học môn Lịch sử của học sinh lớp 5 - Trên cơ sở những phân tích trên, tôi xin đi đến định nghĩa về hứng thú học môn Lịch sử như sau: Hứng thú học môn Lịch sử là thái độ lựa chọn đặc biệt của HS đối với quá trình lĩnh hội, có sự hiểu biết và vận dụng những tri thức Lịch sử trong quá trình học tập cũng như trong cuộc sống, do thấy được sự hấp dẫn và ý nghĩa thiết thực của môn Lịch sử đối với bản thân. * Các biểu hiện hứng thú học môn Lịch sử của học sinh lớp 5 Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau. Đó là: - Biểu hiện về mặt xúc cảm: Học sinh có xúc cảm tích cực (yêu thích, say mê, ...) đối với môn Lịch sử, yêu thích môn Lịch sử, coi việc học Lịch sử là niềm vui, niềm hạnh phúc. Biểu hiện về mặt nhận thức: Học sinh nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên nhân của sự yêu thích trên liên quan đến đối tượng của hoạt động học Lịch sử (nội dung và phương pháp học), hoặc gián tiếp liên quan đến đối tượng trên (Lịch sử được ứng dụng nhiều trong thực tiễn, giáo viên dạy hay) - Biểu hiện về mặt hành động: Học sinh biểu hiện bằng các hành động học tập tích cực. + Trong giờ lên lớp: Say mê học tập, chăm chú nghe giảng; ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận; tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, hay nêu thắc mắc với giáo viên; tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ.
- + Ở ngoài lớp và về nhà: Học bài, làm bài đầy đủ; tự giác làm bài tập; tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách báo có liên quan đến môn Lịch sử; tham gia các hoạt động ngoại khóa về Lịch sử, - Biểu hiện về mặt kết quả học tập: Kết quả học tập hoàn thành tốt về môn lịch sử. 1.3. Khảo sát, điều tra thực trạng việc sử dụng Thiết bị dạy học trong chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018 Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Chuẩn bị thiết bị dạy học để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới. Thiết bị dạy học hiện có sẽ được tận dụng cho chương trình giáo dục phổ thông mới, nhà trường chỉ cần bổ sung thứ còn thiếu.. Trang thiết bị dạy học tối thiểu của các cấp học mới đạt 48-59%. Biểu đồ biểu thị Thiết bị dạy học trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 Đồ dùng tối thiểu được cấp theo Thông tư số 15/2009/TT-BGDDT ngày 16 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành danh mục thiết bị dạy học tối thiểu cấp Tiểu học (các trường được cấp phát) là: STT Tên thiết bị Tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản I TRANH ẢNH Cách mạng tháng 8 năm 1945 (ở Hà 1 Nội, Huế, Sài Gòn)
- Kích thước (54 x 79)cm dung sai Quân Pháp bị bắt ở Điện Biên Phủ 1cm; in offset 4 màu trên giấy 2 tháng 5 năm 1954 couché định lượng 200g/m2; cán màng OPP mờ. Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn 3 tháng 4 năm 1975 II LƢỢC ĐỒ Tỷ lệ 1: 16.000; kích thước (72 x 102)cm dung sai 1cm, in offset 4 Chiến dịch Điện Biên Phủ màu trên giấy couché định lương 200g/m2, cán màng OPP mờ; có nẹp treo. Ngoài việc khai thác triệt để thiết bị dạy học có sẵn ở trường, giáo viên cần phải sưu tầm những tranh ảnh, bản đồ có liên quan đến bài học, áp dụng công nghệ thông tin, thiết bị dạy học số vào dạy học sẽ làm cho học sinh hứng thú hơn trong giờ học, giờ học sẽ nhẹ nhàng và thoải mái từ đó học sinh sẽ tiếp thu và lĩnh hội kiến thức nhanh chóng, khắc sâu, bởi vì nhận thức của học sinh xuất phát: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng – từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khách quan”, vì vậy việc áp dụng giải pháp này sẽ làm nâng cao chất lượng học tập của môn lịch sử ở trường . Vấn đề nghiên cứu giải pháp khai thác triệt để thiết bị dạy học số trong mỗi tiết dạy nhằm tạo hứng thú cho học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử một cách nhanh chóng qua các bài học đồng thời khắc sâu được kiến thức đã tiếp thu, nắm vững kiến thức từ đó các em sẽ nhớ được lâu hơn kiến thức đã học, có thể vận dụng vào thực tế khi gặp những sự việc có liên quan đến bài học, sẽ làm nâng cao chất lượng môn lịch sử lớp 5D ở trường Tiểu học Hải Châu. 1.4. Thực trạng trƣớc khi áp dụng giải pháp mới 1.4.1. Khảo sát thực trạng: * Về giáo viên: vẫn còn một số giáo viên quan niệm lịch sử không phải là môn chính mà chỉ chú trọng vào hai môn Toán, Tiếng Việt. Chính vì vậy mà giáo viên không đầu tư vào chất lượng dạy học môn lịch. Giáo viên chưa đổi mới phương pháp dạy học, chưa tích cực hóa hoạt động của học sinh để tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm kiến thức. - Đồ dùng- thiết bị dạy học môn lịch sử (bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, hiện vật, sa bàn, băng đìa, đèn chiếu) còn ít. Trong phân môn lịch sử lớp 5 đồ dùng dạy học
- được cấp phát chỉ phục vụ cho các bài như: Cách mạng tháng Tám năm 1945: Quân Pháp bị bắt ờ Điện Biên Phủ: Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn tháng 4 năm 1945; Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Như vậy đồ dùng dạy học tối thiểu chỉ áp dụng được một phần nội dung và phương pháp dạy học môn lịch sử lớp 5. Ý thức cũng như khả năng sưu tầm, tự làm đồ dùng dạy học và việc ứng dụng công nghệ thông tin như giáo án điện tử, Thiết bị dạy học số, đèn chiếu phục vụ cho môn lịch sử ở một số giáo viên còn hạn chế. Bởi họ cho rằng đây là môn học khó, việc sưu tầm, tự làm đồ dùng dạy học và soạn giáo án điện tử, Thiết bị dạy học số lại tốn nhiều chi phí, thời gian và công sức. *Về học sinh: Học sinh chưa thấy được tầm quan trọng của phân môn lịch sử, chưa yêu thích phân môn lịch sử coi lịch sử là “môn phụ”. Các em chưa tìm thấy hứng thú trong các giờ học sử, thấy khó nhớ, khó học, chán nản khi học lịch sử. - Trong các tiết học lịch sử học sinh thường trả lời các câu hỏi do giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy. Một số học sinh còn đọc nguyên xi sách giáo khoa để trả lời câu hỏi. Một số học sinh chưa chăm học thậm chí không làm bài. không chuẩn bị bài ở nhà, trên lớp không tập trung suy nghĩ cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, diễn biến, nhân vật lịch sử còn nhiều hạn chế. - Từ thực trạng sử dụng Thiết bị dạy học phân môn lịch sử của giáo viên và thực trạng học môn lịch sử của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Hải Châu. Ngay đầu năm học tôi đã tiến hành dự một tiết lịch sử của đồng nghiệp tại lớp 5A. Sĩ số 30 em. Bài 3: “Cuộc phản công ở kinh thành Huế” trang 8. Sau khi dự giờ xong tôi đã tiến hành khảo sát khả năng tiếp thu bài và nhớ bài của học sinh bằng hệ thống câu hỏi như sau: “Em hãy nêu tên các cuộc khởi nghĩa, người lãnh đạo khởi nghĩa, địa điểm diễn ra cuộc khởi nghĩa tiêu biểu hưởng ứng chiếu Cần vương ”? Sau khi học sinh làm bài, tôi tiến hành chấm và thu được kết quả như sau: Tổng số HS Mức đạt đƣợc Hoàn thành tốt Hoàn thành Chƣa hoàn thành 30 Số lượng Ti lệ Số lượng Ti lệ Số lượng Tỉ lệ 4 13,4% 9 30.0% 17 56,6% Đó là một một số liệu không chút khả quan. Trong một tiết học lịch sử chỉ có 4 em là hứng thú học tập, tập trung nghe giảng, tiếp thu và nhớ kiến thức tại lớp tốt; 9 em hoàn thành bài kiểm tra nhưng trong giờ học chưa tập trung nghe giảng, chưa suy nghĩ trả lời được các câu hỏi mà giáo viên đặt ra. Còn lại 17 chưa hứng thú học tập môn lịch sử, chưa tập trung nghe giảng, các em thấy khó
- nhớ, khó học, chán nản khi phải học lịch sử. Từ đó dẫn đến các em không tiếp thu được kiến thức. Tôi không tránh khỏi những băn khoăn tại sao chất lượng của môn lịch sử lại thấp như vậy? Theo tôi có lẽ do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân đầu tiên là do giáo viên chưa coi trọng môn lịch sử, coi lịch sử là “môn phụ”. Chính vì vậy mà giáo viên không đầu tư vào chất lượng dạy học môn lịch sử. Nguyên nhân thứ hai là do giáo viên còn lúng túng khi sử dụng đồ dùng dạy học để cung cấp kiến thức cho học sinh dẫn đến giờ học nhàm chán, không phát huy được tính hứng thú, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, học sinh tiếp thu một cách bị động, khó nhớ khi phải nhớ tên nhân vật, địa danh: học sinh học xong bài sau đã quên kiến thức của bài trước. * Điều tra và cập nhật số liệu: - Bước vào năm học 2022-2023, tôi nhận sự phân công của Ban giám hiệu trường làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5D Thông qua các giờ học môn Lịch sử, tôi tiến hành khảo sát tình hình học tập của học sinh lớp 5D đã nắm bắt được những hạn chế ở học sinh trong giờ học Lịch sử như sau: - Hầu hết học sinh chưa yêu thích môn học Lịch sử. - Giờ học còn thụ động, không khí học tập trong giờ học Lịch sử trầm, học sinh lâu ghi nhớ kiến thức mà lại chóng quên. -Kỹ năng hợp tác nhóm chưa tốt, chưa mạnh dạn, chưa tự tin khi chia sẻ kết quả học tập trong nhóm, trước lớp. -Kĩ năng xem bản đồ, phân tích thông tin còn hạn chế, kĩ năng chỉ bản đồ chưa thuần thục. -Kĩ năng phân tích tổng hợp kiến thức còn chậm. - Kết quả khảo sát về Thái độ học tập và Năng lực học tập môn Lịch sử vào đầu năm học của học sinh lớp 5D: * Thái độ học tập môn học Lịch sử: Chưa yêu thích môn Lớp Số HS khảo sát Yêu thích môn học học 5D 33 10 21 100% 30,3% 69,7% * Năng lực học tập môn học Lịch sử: Số lượng học sinh tham gia khảo sát là 33 học sinh. Lớp 5D Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Số HS: 33 4 20 9 100% 12,1% 60,6% 27,3% 1.4.2 Thuận lợi: * Về phía nhà trường - Nhà trường cung cấp các loại sách, tài liệu tham khảo, phương tiện dạy học.
- - Nhà trường tổ chức phong trào làm đồ dùng dạy học hàng năm, góp phần xây dựng kho học liệu số dạy học chung nhằm hỗ trợ tiết dạy mang lại hiệu quả cao. - Hàng tháng tổ chuyên môn tổ chức học tập, chia sẻ kinh nghiệm thông qua hoạt động giảng dạy, học tập chuyên sâu cách sử dụng thiết bị dạy học số, chuyên đề giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn. - Việc học tập Bồi dưỡng thường xuyên hàng tháng, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm trong tổ cũng góp phần bồi dưỡng về năng lực chuyên môn cũng như góp phần khêu gợi sự sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên. * Về phía giáo viên - Tài liệu “Bồi dưỡng hướng dẫn giáo viên về dạy học Lịch sử ở Tiểu học theo định hướng phát triển năng lực” cũng được triển khai học tập trong tổ chuyên môn trong năm học 2022-2023 góp phần hỗ trợ giáo viên trong việc đổi mới nội dung, phương pháp và thiết bị dạy học tạo được hứng thú ở học sinh trong giờ học Lịch sử. - Bản thân nhiều năm liền làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm đối tượng học sinh lớp 5 nên nắm rõ chương trình, đặc điểm tâm lí của học sinh cũng như có kinh nghiệm trong giảng dạy. * Về phía học sinh - Học sinh có đủ sách vở và đồ dùng học tập phục vụ cho môn học Lịch sử. - Học sinh đã nắm được kiến thức cơ bản cũng như làm quen với cách học môn Lịch sử ở lớp 4 làm tiền đề cho việc tiếp thu kiến thức môn học khi lên lớp 5. 1.4.3 Khó khăn: * Về học sinh: - Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại. Câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì chưa tư duy khi trả lời. - Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử chưa bền vững. - Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, nhớ các kiến thức lịch sử một cách rời rạc và rất nhanh quên. - Học sinh và gia đình chưa thật sự quan tâm, còn xem nhẹ môn Lịch sử cho là một môn học phụ chỉ cần học thuộc lòng nội dung ghi nhớ là đủ. - Kiến thức lịch sử ở lớp 5 không được trình bày theo một hệ thống chặt chẽ mà chỉ chọn ra những sự kiện, hiện tượng nhân vật lịch sử tiêu biêu cho một giai đoạn lịch sử nhất định. Chương trình lịch sử mỗi tuần chỉ dạy có một tiết, bài thì dài nên học sinh học mà không nhớ chính xác các nhân vật, sự kiện lịch sử. - Phụ huynh quan tâm đến việc học của con em nhưng kiến thức, sự hiểu biết của cha mẹ lại có hạn. * Về giáo viên:
- - Một số ít giáo viên chưa thật sự quan tâm, còn xem nhẹ môn Lịch sử, chỉ tập trung vào kèm cặp cho các em chủ yếu là hai môn Toán và Tiếng Việt. - Giáo viên chưa thực sự thay đổi hoàn toàn phương pháp dạy học cho phù hợp với từng tiết dạy; giúp các em tự suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến thức. - Giáo viên chưa tạo sự tập trung, chú ý bài dạy ngay từ hoạt động đầu tiên hoặc chưa tóm tắt lại các nội dung bài dạy ở phần củng cố giúp cho các em ghi nhớ bài sâu, kĩ hơn. - Giáo viên tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (kênh chữ, kênh hình) trong sách giáo khoa chưa khoa học. Trong quá trình dạy có sáng tạo, nhưng làm và sử dụng đồ dùng dạy học, trò chơi học tập chưa thường xuyên, chưa khai thác triệt để thiết bị dạy học số trong các tiết lên lớp. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu và khắc sâu kiến thức lịch sử của học sinh. - Từ thực tế thiết bị đồ dùng dạy học cũng thiếu (do hỏng hóc trong quá trình sử dụng), bản thân giáo viên cũng ngại sử dụng đồ dùng dạy học, mỗi buổi phải dạy nhiều môn học. Đây là những nguyên nhân làm cho giáo viên lên lớp sử dụng đồ dùng thiếu thường xuyên. - Giáo viên không thật sự yêu thích môn Lịch sử thì không thể truyền cho các em niềm đam mê, hứng thú và rất khó để học sinh phát huy hết năng lực học tập tích cực trong giờ học Lịch sử. - Từ thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học trong phân môn lịch sử lớp 5 tôi thấy rằng: mỗi giáo viên tiểu học khi dạy lịch sử cũng đã biết nhiệm vụ đầu tiên, tất yếu của môn lịch sử là cho học sinh tiếp nhận những thông tin từ tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, lược đồ,... để tạo ra những hình ảnh cụ thể, chính xác về các nhận vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử giúp cho học sinh tiếp thư kiến thức nhanh, nhớ kiến thức lâu. Cho nên việc sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học số đối với mỗi giáo viên cũng được xem là một nhiệm vụ rất cần thiết khi giảng dạy môn lịch sử ở Tiểu học nói chung và môn lịch sử lớp 5 nói riêng. Tôi thấy bản thân cần phải nỗ lực vận dụng những phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp đồng thời lên kế hoạch thực hiện tốt: “Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh lớp 5 học lịch sử thông qua việc sử dụng thiết bị dạy học số.”, tôi tin chắc rằng sẽ khắc phục được những mặt hạn chế còn tồn tại ở lớp 5D và mong muốn những giải pháp này sẽ triển khai phổ biến rộng cho giáo viên trong khối cùng thực hiện nhằm giúp học sinh toàn khối 5 cảm thấy hứng thú, tham gia học tập tích cực hơn đối với môn Lịch sử. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1. Những vấn đề cần giải quyết - Nâng cao nhận thức của giáo viên và phụ huynh học sinh trong việc giáo dục, ý nghĩa môn Lịch sử.

