Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi cho trẻ 3-4 tuổi trong Trường Mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi cho trẻ 3-4 tuổi trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_su_dung_hieu_qua_do_d.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi cho trẻ 3-4 tuổi trong Trường Mầm non
- 3.2. Đối tượng nghiên cứu. - Xây dựng “Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non” thông qua các hoạt động hằng ngày lớp mẫu giáo bé 3 tuổi C4. 3.3. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi thực hiện đề tài: đề tài được thực hiện tại lớp 3 tuổi C4 PHẦN II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN. 1. Hiện trạng vấn đề Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố nhân cách đầu tiên cho trẻ, phương pháp của giáo dục mầm non chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi để giúp trẻ phát triển toàn diện và để thực hiện vui chơi cần phải có đồ dùng, đồ chơi. Vui chơi là hoạt động chủ đạo trong trường mầm non chính vì vậy trẻ nhỏ rất cần nhiều cơ hội để học hỏi và khám phá thông qua việc chơi hằng ngày, chơi là cách học phù hợp nhất khi chúng ta muốn trẻ tìm tòi khám phá bản thân, qua chơi trẻ được phát triển hiểu biết, kỹ năng trong rất nhiều tình huống, hành động và thao tác khác nhau. Có thể nói đồ dùng, đồ chơi có một tầm rất quan trọng, được coi là sách vở của con trẻ không thể thiếu được trong các hoạt động, các nội dung chăm sóc giáo dục trẻ, ngoài ra đó còn là cơ sở và là hoạt động chủ đạo để trẻ phát triển, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Từ những cơ sở lý luận trên cũng như thực tế quá trình công tác đạt trên trẻ đó là những vốn tư liệu quan trọng của tôi khi nghiên cứu vấn đề này. Và qua thực tiễn của quá trình công tác, qua các buổi dự thảo chuyên đề, các tiết dạy giỏi của bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là được sự quan tâm động viên của ban giám hiệu nhà trường đã thúc đẩy tôi sự say mê và đã mạnh dạn, tự tin khi thực hiện đề tài:
- “Một số biện pháp sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi cho trẻ 3-4 tuổi trong Trường Mầm Non” Năm học 2024-2025 tôi được phân công giảng dạy lớp mẫu giáo bé 3 tuổi C4. Lớp có 18 trẻ: 10 bạn trai, 8 bạn gái trong quá trình chăm sóc giảng dạy tôi thấy có những ưu điểm và nhược điểm như sau: * Ưu điểm Trong những năm gần đây nhà trường luôn được sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự quan tâm của phòng giáo dục về việc cấp phát đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục của cô và trẻ trong trường. Cơ sở vật chất: Lớp tôi nằm ở khu Phú Thứ, có 6 phòng học, trong đó có 3 lớp học, bếp ăn, có sân chơi rộng rãi, đặc biệt có sân cỏ nhân tạo thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động vui chơi ngoài trời. Là một trường bán trú, thời gian tiếp xúc với trẻ nhiều hơn, tổ chức các hoạt động cũng phong phú hơn, do đó tôi dễ vận dụng từng đồ dùng đồ chơi cũng như yếu tố khác trong môi trường lớp học vào việc tổ chức các hoạt động cho trẻ, nhờ vậy tôi có thể khảo sát được tính hiệu quả của đồ dùng, đồ chơi đó trong từng hoạt động để linh hoạt, sáng tạo, tỉ lệ học sinh ở ăn bán trú là 100%. Tôi được BGH nhà trường luôn quan tâm góp ý chỉ đạo và tạo điều kiện cho tôi cũng như đồng nghiệp sử dụng đồ dùng đồ chơi hiệu quả qua các đợt thao giảng, dự giờ. Ngay từ đầu năm học ban giám hiệu nhà trường đã phát động phong trào làm đồ dùng, đồ chơi và tất cả các giáo viên đều nhiệt tình hưởng ứng tham gia, tôi đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ các đồng nghiệp về kiến thức, kỹ năng, phương pháp cho việc làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động của cô và trẻ trong nhà trường. Chúng tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm của các bậc phụ huynh phối hợp cùng giáo viên trong việc tạo ra nhiều đồ dùng, đồ chơi cho trẻ nhằm phục vụ trong các hoạt động giáo dục trẻ. * Nhược điểm:
- Trường Mầm non Khánh Thượng A nằm trên địa bàn xã Khánh Thượng, một trong 7 xã miền núi của huyện, có điều kiện phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân còn khó khăn. Là địa bàn xã cách trung tâm huyện đến hơn 30 km, giao thông đi lại trong xã còn khó khăn, trình độ dân trí nói chung còn thấp, số trẻ đông, gồm 2 điểm trường cách xa nhau 2 đến 3 cây số; trường có 12 nhóm lớp; có tổng số trẻ là 240 trẻ với 40 cán bộ giáo viên- nhân viên. Theo thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11/2/2010 bộ giáo dục đào tạo ban hành danh mục đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học tối thiểu cho các trường mầm non. Đối với trường, lớp tôi cũng đã được trang bị nhiều đồ dùng, đồ chơi, song để phục vụ các hoạt động của trẻ ở trường theo kế hoạch của chương trình giáo dục mầm non hiện nay thì vẫn chưa đáp ứng đủ. Đồ dùng, đồ chơi làm từ những nguyên vật liệu sẵn có còn ít, đồ dùng dạng mở phục vụ cho trẻ chơi còn hạn chế, ở mỗi lớp đều có đồ dùng, đồ chơi khác nhau nhưng việc mượn trả còn gặp khó khăn, tâm lý giáo viên các lớp còn e dè không nhiệt tình. Giáo viên chưa có nhiều thời gian để làm nhiều đồ dùng, đồ chơi tự tạo cho trẻ. Giáo viên còn chưa linh hoạt và sáng tạo trong việc khai thác và sử dụng hết hiệu quả của đồ dùng, đồ chơi. Do địa bàn là vùng nông thôn nên kinh tế còn khó khăn, phụ huynh còn chưa quan tâm đến việc học tập và vui chơi của trẻ, chưa hiểu được tầm quan trọng của đồ dùng, đồ chơi đối với trẻ, chưa biết trẻ học những gì? Chơi trò chơi gì? Và chơi như thế nào? Chưa thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí , nhu cầu nhận thức giao tiếp của trẻ, ngoài ra một số phụ huynh còn chưa thực sự phối hợp cùng nhà trường để bảo vệ đồ dùng, đồ chơi. Trẻ còn hiếu động, tò mò, một số trẻ thực hành còn lúng túng, vụng về, giáo viên phải mất nhiều thời gian, công sức. * Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài Tôi đã thực hiện đánh giá và có số liệu cụ thể sau: BẢNG KHẢO SÁT TỈ LỆ TRẺ ĐẦU NĂM HỌC
- STT Tổng số Đạt Chưa đạt Nội dung khảo sát trẻ Số trẻ Tỉ lệ Số trẻ Tỉ lệ Trẻ ghi nhớ, khắc sâu đối tượng tìm 18 12 66,6 % 6 33,4% 1. hiểu. 2. Trẻ hứng thú, tích cực chủ động sáng tạo. 18 11 61% 7 39% 3. Trẻ có kỹ năng chơi tốt, biết nghĩ ra 18 10 55,5% 8 44,5% nhiều cách chơi khác nhau từ một đồ dùng, đồ chơi. Nhìn vào bảng kết quả trên ta thấy tỷ lệ trẻ đạt được trong các hoạt động còn rất thấp do những nguyên nhân sau: - Trẻ chưa biết cách khai thác hết khả năng sử dụng của các đồ chơi, chưa sử dụng đồ chơi đúng mục đích và vận dụng chưa đúng lúc, chưa sáng tạo, trẻ còn thụ động chưa tích cực, chưa có mối quan hệ mật thiết với nhau. - Giáo viên chưa tạo được hiệu quả cho trẻ trong các hoạt động học dẫn đến trẻ dễ nhàm chán. Qua những vấn đề trên là một giáo viên tôi luôn trăn trở, suy nghĩ phải làm sao có các biện pháp tích cực giúp trẻ hứng thú ham học hỏi để các hoạt động đạt hiệu quả cao nhằm phát triển trẻ một cách toàn diện.
- 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. Từ những thuận lợi và khó khăn của thực trạng vấn đề, qua thời gian công tác, ứng dụng đề tài vào giảng dạy tôi đã đề ra được một số biện pháp để khắc phục những hạn chế như sau: 2.1. Biện pháp 1: Sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi được cấp phát và biết tận dụng môi trường lớp học Sử dụng hiệu quả đồ dùng đồ chơi được cấp phát. Trước hết tôi thường chú ý đến sử dụng hiệu quả đồ dùng được cấp phát, có rất nhiều hoạt động không nhất thiết giáo viên phải thiết kế đồ dùng thật kỳ công, tạo ra nhiều đồ dùng mới lạ mà quên hẳn những đồ dùng đồ chơi được cấp phát cũng có thể mang lại hiệu quả tương tự, thậm chí còn cao hơn. Ví dụ: Những chiếc vòng thể dục không chỉ sử dụng trong giờ thể dục mà còn dùng được trong các trò chơi ở các hoạt động học như trong hoạt động âm nhạc có trò chơi: “Ai nhanh nhất” cô chuẩn bị 4 vòng xếp dưới sàn,cô mời 5 trẻ lên chơi trẻ đi vòng tròn hát các bài hát trong chủ đề,khi có hiệu lệnh trẻ nhanh chân nhảy vào vòng. Bạn nào chậm chân phạt nhảy lò cò. Hay ở hoạt động ngoài trời tôi mang xuống sân cho trẻ một số đồ dùng được cấp phát như gậy, bóng, vòng, để trẻ được hoạt động thêm và phát triển về thể lực, thông qua một số hoạt động như: + Dùng bóng cho trẻ chơi chuyền bóng, tung và bắt bóng. + Dùng vòng cho trẻ chơi bật liên tục vào vòng, chơi lái ô tô, lắc vòng Ngoài việc sử dụng đúng chức năng đúng mục đích tôi cũng thường chú ý đến việc sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, tránh việc sử dụng đồ dùng quá 2 lần với cùng một cách thức sử dụng trong một chủ đề. Ví dụ: Trong tháng 2 có chủ đề sự kiện về các phương tiện giao thông
- + Tuần 1: Dạy thơ “Đèn xanh đèn đỏ” tôi kết hợp cho trẻ quan sát mô hình ngã tư đường phố. + Tuần 2: Kể chuyện cho trẻ nghe “Xe lu và xe ca” lần 1 tôi kể kết hợp tranh minh họa, lần 2 kể kết hợp khung rối. + Tuần 3: Dạy thơ “Xe chữa cháy” tôi dùng tình huống để dẫn dắt vào bài thơ sau đó tôi kết hợp hình ảnh trên máy chiếu, kết hợp nhạc nền để cho trẻ đọc thơ cùng cô. Việc thay đổi đồ dùng giúp trẻ đỡ nhàm chán và có sự hứng thú, sáng tạo nhiều hơn trong các hoạt động học. Mặt khác tôi còn thêm thắt chi tiết cho đồ dùng cấp phát để tạo hiệu quả sử dụng mới cho mỗi đồ chơi. Ví dụ: Tôi sử dụng mặt sau của kệ để làm giá bán hàng, treo các sản phẩm ở hoạt động góc; sử dụng tủ để cặp sách để chơi trò chơi “Ô cửa bí mật” trong trò chơi âm nhạc, giá dép để bày sản phẩm góc phân vai “siêu thị của bé”. Tận dụng hiệu quả môi trường lớp học Theo tôi việc sử dụng đồ dùng hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào sự sắp xếp, bố trí đồ dùng đồ chơi trong môi trường lớp học và cô phải biết tận dụng các đồ dùng trong lớp, hay đồ dùng của trẻ, đồ dùng bán trú cũng như không gian lớp. Khi tổ chức hoạt động tôi thường tận dụng tối đa môi trường lớp để trẻ được hoạt động thoải mái, với từng nội dung hoạt động tôi thường định hình trước khoảng không gian cần cho trẻ hoạt động như các hoạt động âm nhạc, làm quen với toán, tạo hình tôi thường để phía trong lớp học, còn góc thiên nhiên chăm sóc cây, tưới hoa tôi sắp xếp phía ngoài lớp học. Ngoài ra tôi còn tạo các góc mở ở các góc cho trẻ chơi, như góc âm nhạc tôi làm khung và thêm thắt một số chi tiết thêm rèm, kệ, treo đèn nhấp nháy để tạo sân khấu cho trẻ. Việc tạo sân khấu đã giúp trẻ rất thích thú mạnh dạn tự tin biểu diễn. Cũng khung rèm đó tôi có thể sử dụng vào các hoạt động chơi đóng kịch, kể chuyện. Hình ảnh 1: Trẻ chơi với vòng trong hoạt động âm nhạc
- Tôi còn chú ý tận dụng hiệu quả môi trường lớp học cũng như các đồ dùng khác trong việc tổ chức hoạt động cho trẻ, đặc biệt việc sử dụng các trò chơi, thí nghiệm đơn giản luôn tạo cho trẻ sự hứng thú, phát triển ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết và khả năng phán đoán của trẻ. Ví dụ: Trong chủ đề nước và hiện tượng tự nhiên, tôi thường tạo các tình huống gợi mở vấn đề để tổ chức thí nghiệm cho trẻ như: sự bay hơi của nước, tôi đổ nước vào cốc gần đầy, đậy kín túi ni lông và dùng băng dính dán vào thành cốc để đánh dấu mực nước, đặt cốc vào một chỗ cho trẻ theo dõi hằng ngày và nhận xét hiện tượng gì xảy ra? Hay tôi cho trẻ ra không gian sau lớp học để quan sát thời tiết vừa đảm bảo an toàn vừa được trực tiếp khám phá các hiện tượng mây đen, mưa, chớp. Kết quả: Có thể nói sử dụng và phát huy hiệu quả đồ dùng, đồ chơi được cấp phát và tận dụng môi trường lớp học tạo cho trẻ rất hứng thú, trẻ nghĩ ra nhiều cách chơi khác nhau với đồ dùng và đặc biệt đã làm cho trẻ có sự tiến bộ vượt bậc. Bên cạnh đó giúp cho giáo viên tiết kiệm rất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị đồ dùng. 2.2. Biện pháp 2: Sử dụng đồ dùng, đồ chơi tự tạo hiệu quả. Tôi thường làm những đồ dùng, đồ chơi mà thực sự lớp không có, hoặc không thay thế được. Đồ chơi được làm cũng tính đến hiệu quả, tần suất sử dụng đồ dùng, đồ chơi, để tránh lãng phí thời gian công sức và tiền bạc, khi bắt tay vào làm tôi cũng thường chú ý đến tính sư phạm, tính thẩm mỹ, đặc biệt phải đảm bảo an toàn cho trẻ và việc tạo tình huống cho trẻ được hoạt động, tạo môi trường cho trẻ được tiếp xúc với đồ dùng tự tạo. Các đồ dùng tự tạo thường là những loại quả, loại rau, con vật gần gũi thân thuộc với trẻ. Tôi có thể sử dụng được trong nhiều hoạt động như: Đếm số lượng, màu sắc, thuộc tính đơn giản của các đồ vật xung quanh trẻ. Ngoài ra tôi tận dụng các mảnh gỗ vụn xin ở xưởng gỗ về để làm ra các khối hình khác nhau và sử dụng trong các tiết học toán về nhận biết hay ôn hình học, đồ dùng vừa đảm bảo tính an toàn, thẩm mỹ mà lại thân thiện đối với trẻ.
- Hình ảnh 2: Trẻ sử dụng đồ dùng trong tiết học Ví dụ: cô tạo ra các bảng hình có các hình khác nhau. Nhiệm vụ của các bé là hãy lựa chọn khối hình theo yêu cầu của cô đưa ra và dùng dây di chuyển khối hình vào đúng hình có dạng khối hình đó. Khi nghiên cứu làm đồ dùng học tập tôi cũng chú ý đến sao cho một đồ dùng có thể cung cấp cho trẻ nhiều kiến thức khác nhau, sử dụng được nhiều hoạt động Ví dụ: tôi làm một bảng tổng hợp bằng bìa A0 trên đó có gắn hình ảnh của các loại củ quả được gắn với miếng dính có thể thay đổi số lượng và vị trí khi sử dụng phù hợp với mục đích giảng dạy khác nhau như: Dạy trẻ định hướng trong không gian, dạy trẻ tập hợp đếm, hình dạng, kích thước Với bất cứ đồ chơi tự tạo nào khi đã hoàn thành tôi thường tham khảo thêm ý kiến của đồng nghiệp về các ý tưởng, kết hợp đồ dùng đó với các đồ dùng khác ở lớp mình hay lớp bạn, ngoài ra tôi cũng không quên dành thời gian để giới thiệu cho trẻ làm quen với bộ đồ dùng, đồ chơi mới về nguyên vật liệu làm đồ dùng, ý tưởng chơi của trẻ, những hoạt động đó đã giúp đồ dùng tôi làm ra được sử dụng hiệu quả hơn, phong phú hơn Kết quả: Sự đa dạng của nguyên vật liệu thiên nhiên tạo ra những đồ dùng, đồ chơi mang tính sáng tạo, phong phú, gần gũi vừa làm tăng số lượng đồ dùng, đồ chơi cho trẻ, mà hiệu quả lại sử dụng khá cao, đã thu hút được sự chú ý của trẻ mang lại cho trẻ niềm say mê hứng thú, giúp trẻ phát triển toàn diện. 2.3. Biện pháp 3: Sắp xếp khoa học và có sự trao đổi đồ dùng giữa các lớp. Việc sắp xếp khoa học hợp lý có tác dụng rất to lớn đến việc hoạt động vui chơi khám phá của trẻ kích thích trẻ có nhu cầu tìm tòi khám phá những điều mới lạ xung quanh, biết quan sát sự vật hiện tượng một cách tế nhị. Các loại đồ dùng, đồ chơi trong lớp, tôi sắp xếp gọn gàng, giúp trẻ dễ tìm, cần là có ngay không tốn nhiều thời gian công sức mà lại đạt hiệu quả. Đặc biệt khi sắp xếp tôi cũng chú ý đến mục đích sự dụng chúng. Hình ảnh 3: Đồ dùng được sắp xếp gọn gàng
- Ví dụ: Tranh mảng tường là những tranh mà trẻ tạo ra bằng cách vẽ, xé, dán hoặc tạo ra từ các tấm ảnh chụp dùng cho trẻ hoạt động cần treo vừa tầm, tranh cung cấp kinh nghiệm như bác sĩ đang khám bệnh có thể treo cao hơn, những đồ chơi trẻ hay sử dụng gạch, sỏi, cỏ để ở trạng thái mở. Việc sắp xếp đồ dùng, đồ chơi dưới dạng mở, linh hoạt sẽ kích thích trí tò mò, khám phá của trẻ và tạo được khoảng không gian cho trẻ hoạt động Ngoài sắp xếp dưới dạng mở thì nguyên vật liệu mở để trẻ hoạt động cũng luôn được chú trọng, bởi trẻ ở độ tuổi này đã biết sử dụng đồ dùng, đồ chơi thay thế, kinh nghiệm và kỹ năng hành động nhận thức của trẻ rất phong phú đa dạng Ngoài ra các loại đồ dùng, đồ chơi để trẻ hoạt động tôi cũng thường phân loại ra, hàng tuần cọ, rửa sạch sẽ, việc phân loại ra cũng giúp trẻ dễ ràng hoạt động. Trao đổi đồ dùng giữa các nhóm lớp Tôi vận động các giáo viên trong tổ thực hiện thống kê, liệt kê tất cả các đồ dùng tự tạo theo từng nhóm lớp, trong các hoạt động lớp nào cần sẽ được mượn đầy đủ, việc mượn trả cũng được quản lý nghiêm túc, không làm tổn thất và hỏng hóc đảm bảo đúng thời gian. Ví dụ: Trong hoạt động làm quen với toán, dạy tiết sắp xếp theo quy tắc 1-2 -1 thì cần rất nhiều đồ dùng để cho đủ với số lượng trẻ, mà ở một lớp thì không thể có đủ do vậy chúng tôi sẽ mượn ở tổ sau khi dạy xong sẽ thực hiện trả đúng đồ dùng đó việc mượn và trao đổi đồ dùng giữa các lớp giúp tôi có sự liên kết chặt chẽ hơn và tiết kiệm thời gian công sức mà đạt nhiều hiệu quả cao. Sau mỗi chuyên đề, mỗi hoạt động thao giảng các tổ nhóm lại tổ chức sinh hoạt chuyên môn để đánh giá so sánh và phân tích tính hiệu quả khi trẻ được tham gia hoạt động thao tác trực tiếp trên đồ dùng đồ chơi. Từ đó có những phương pháp hiệu quả để giáo dục trẻ. Qua những giờ sinh hoạt chuyên môn tôi luôn lắng nghe đóng góp ý kiến của đồng nghiệp của ban giám hiệu nhà trường. Để biết tận dụng đồ dùng, đồ chơi gợi mở ý
- tưởng sáng tạo cho trẻ, trong hoạt động hằng ngày của trẻ luôn chú ý đến việc sắp xếp khoa học, luân chuyển giữa các góc chơi, tạo góc mở cho trẻ đỡ nhàm chán. Kết quả: Việc sắp xếp khoa học, hợp lý đồ dùng, đồ chơi đã tạo nên một môi trường thân thiện, thật sự bị cuốn hút bởi lớp học vui tươi, đẹp mắt, đảm bảo tính thẩm mỹ. Trẻ hứng thú, tích cực vào hoạt động cô đã tạo ở lớp. 2.4. Biện pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng Trẻ em rất dễ bị thu hút vào những hình ảnh có màu sắc sinh động, mới lạ. Với công nghệ khoa học tiên tiến như hiện nay thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong bài giảng mang lại sức thu hút rất cao đối với trẻ. Bên cạnh đó, những nội dung, hình ảnh tạo bài giảng phải phù hợp đối với đề tài, độ tuổi. Trong quá trình giảng dạy tôi luôn cố gắng tìm tòi, học hỏi nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng máy tính, cũng như trao đổi với chị em đồng nghiệp, kết hợp với sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, tôi đã nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy của bản thân. Với mỗi bài dạy tôi luôn suy nghĩ mình cần phải làm gì để lôi cuốn, phát huy được tính sáng tạo, năng động, sự hứng thú của trẻ vào bài học. Tôi đã sử dụng máy vi tính, ti vi, máy chiếu cho một số bài dạy của mình và tôi thấy rằng trẻ rất hứng thú, thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ. Với những bài dạy đó tôi thấy rằng nó rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ và lại thực hiện được nguyên tắc giáo dục “Lấy trẻ làm trung tâm”. Hình ảnh 4: Trẻ thao tác với công nghệ thông tin Trong các tiết học làm quen văn học tôi đã sử dụng một số thao tác ứng dụng công nghệ thông tin cho việc giảng bài của mình. Ví dụ: Trong chủ đề động vật. Dạy trẻ hoạt động làm quen văn học “Nghe cô kể chuyện Chú Vịt Xám”. Sau khi nghe cô kể xong câu chuyện, tôi đã tạo những trò chơi chọn đáp án được lần lượt xuất hiện trên màn hình .có các hiệu ứng, âm thanh, hình ảnh sinh động để trẻ được thao tác, trải nghiệm, bấm máy trò chơi dưới sự hướng dẫn của cô và
- trẻ đưa ra đáp án câu trả lời của mình, qua hoạt động này làm hứng thú với trẻ từ đó gây được sự chú ý ở trẻ. Đối với trẻ tại vùng nông thôn trên địa bàn tôi đang công tác. Việc học tập và tiếp cận công nghệ thông tin là một điều rất yêu thích và lôi cuốn trẻ vào trong hoạt động. Không chỉ là hoạt động làm quen văn học mà là tất cả hoạt động khác trong trường mầm non cũng vậy. Nhưng giáo viên phải lựa chọn nội dung để ứng dụng vào bài giảng cho phù hợp tránh trường hợp lạm dụng, phụ thuộc vào máy tính nhiều quá cũng không tốt. Kết quả: Khi áp dụng biện pháp công nghệ thông tin vào giảng dạy, tôi thấy các con thích tham gia vào các hoạt động có ứng dụng công nghệ thông tin hơn, hình thành được một số kỹ năng sử dụng máy vi tính: di chuột, nhấn chuột bên cạnh đó trẻ mạnh dạn và tự tin, nhanh nhẹn, linh hoạt thông minh hơn. Ngoài ra còn giúp cho phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin đến sự pháp triển của con em mình. 2.5. Biện pháp 5: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền với phụ huynh Như chúng ta đã biết kết quả chăm sóc giáo dục trẻ nhờ một phần rất lớn vào việc kết hợp gia đình và nhà trường, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và có tầm quyết định đến việc hình thành nhân cách của trẻ, đây là sự kết hợp hai chiều cùng chung mục đích vì sự phát triển của trẻ thơ. Chính vì vậy, việc tuyên truyền phối hợp cùng phụ huynh để đề ra phương án sử dụng và bảo quản đồ dùng đồ chơi là rất quan trọng Hình ảnh 5: Giáo viên đang trao đổi với phụ huynh. Thông qua các buổi họp phụ huynh hay các buổi tổ chức hội thi, ngày hội cho bé, tôi đã tích cực tuyên truyền cùng phụ huynh về ý thức bảo quản đồ dùng, đồ chơi. Vì thực tế cho thấy rằng các đồ dùng, đồ chơi trong lớp rất nhiều và đẹp, khi cho trẻ cùng hoạt động vui chơi, lắp ghép nhiều trẻ có thể thấy đẹp và sẽ cất mang về, nhiều lần như vậy sẽ khiến cho nhiều đồ dùng, đồ chơi bị thất thoát. Cho nên việc kết hợp cùng với phụ huynh là rất cần thiết.

