Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh Lớp Một

docx 31 trang Chăm Nguyễn 20/09/2025 390
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh Lớp Một", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_viet_dung_chinh_t.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh Lớp Một

  1. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” Một” đã được thực hiện ở lớp 1A, tôi trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy năm học 2017-2018. Mà đề tài này còn có thể áp dụng tất cả các lớp khối 1 trong trường Tiểu học. B.NỘI DUNG I. Cơ sở lí luận Học sinh Tiểu học chủ yếu ở độ tuổi từ 6 - 11 tuổi. Ở độ tuổi này các em còn ngây thơ trong trắng hay bắt chước. Như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nhi đồng là hoa Thiếu niên là quả. Hoa như thế nào thì quả như thế đó”. Do vậy tuổi của các em là tuổi sống bằng tình cảm. Nếu như không biết giáo dục các em ngay từ buổi đầu thì quả là điều thiếu sót lớn. Học sinh lớp 1, ngay từ những ngày đầu tiên đi học ở trường Tiểu học còn nhiều bỡ ngỡ, rụt rè. Việc giúp các em làm quen với chữ viết thật là khó khăn, bởi đôi tay cầm bút còn vụng về lóng ngóng. Là giáo viên dạy lớp 1, tôi luôn trăn trở suy nghĩ một câu hỏi: Ở lớp 1 có nên tiến hành dạy các em viết đẹp ngay không? Qua việc giảng dạy sau mỗi tiết học môn chính tả, tôi nhận thấy rằng đối với học sinh lớp 1 nếu cùng một lúc mà đòi hỏi các em vừa viết đúng, viết đẹp ngay là một điều khó có thể thực hiện được. Do vậy, đối với giáo viên cần có sự dạy dỗ công phu, nhiệt tình, tập trung xây dựng biện pháp rèn chữ viết cho phù hợp với lứa tuổi, để các em tiếp thu được một cách vững chắc. Chúng ta kết hợp với gia đình để được sự kèm cặp sát sao của phụ huynh học sinh. Vậy để rèn cho học sinh viết đúng, viết đẹp, trước tiên cần xây dựng được nề nếp và kĩ thuật viết chữ đúng. Đó là cơ sở để viết chữ đẹp và cũng chính là yếu tố có tính quyết định việc rèn chữ viết đẹp của các em trong quá trình học tập. II. Đối tượng nghiên cứu: Năm học 2017-2018, tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 1A. So với lứa tuổi học sinh Tiểu học thì ở lứa tuổi lớp 1 còn rất nhỏ, tiếp thu kiến thức còn hạn chế. Lớp 1A có 26 học sinh trong đó có 11 em nữ và 15 em nam. Các em nhìn chung đều có ý thức học tập tốt, có tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, gia đình quan tâm. đó là thuận lợi để tôi áp dụng sáng kiến của mình. III.Khảo sát thực tế: Qua thực tế giảng dạy lớp 1, tìm hiểu học sinh tôi thấy: -Học sinh lớp 1 viết chính tả nhìn chung đảm bảo tốc độ viết chữ theo quy định. - Có một số học sinh viết bài sạch sẽ, trình bày đẹp. chất lượng về vở sạch 3
  2. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” chữ đẹp đạt kết quả cao trong các đợt kiểm tra. Song bên cạnh đó, giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong giờ học chính tả. Cụ thể: + Học sinh còn viết sai nhiều về độ cao các con chữ (đặc biệt là ở những bài chính tả đầu tiên), nét chữ chưa chuẩn, sai cách ghi dấu thanh, trình bày chưa đúng. + Một số học sinh còn ngọng: l- n, chưa phân biệt khi viết: ch - tr, s - x nên khi viết chính tả hay mắc lỗi. + Một số học sinh chưa nắm chắc qui tắc chính tả: ng-ngh, g-gh, c-k nên khi gặp bài chính tả nghe-viết, học sinh dễ viết sai. + Trong các buổi học, học sinh thường viết chính tả đẹp và đúng hơn khi làm bài kiểm tra trong các đợt kiểm tra định kì. +Học sinh không biết cách trình bày một bài viết chính tả (đoạn văn, đoạn thơ hay bài thơ). Đặc biệt với bài thơ viết theo thể lục bát hoặc viết chính tả tập chép, học sinh nhìn bài “mẫu” của giáo viên để chép và khi thấy giáo viên xuống dòng ở đâu ( ở chữ nào) thì học sinh cũng xuống dòng ở chữ đó ( vì học sinh không hiểu bản chất của vấn đề). VD: Dạy bài chính tả tập chép “ Trường em” - Bài viết bảng của giáo viên: 4
  3. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” + Bài viết vở của học sinh: * Như ví dụ trên tôi đưa ra, với những giáo viên chưa giảng dạy ở lớp 1 thì thấy buồn cười và có thể cho là vô lí không bao giờ xảy ra. Nhưng đối với giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy lớp 1 thì sẽ thấy ngay đó là thực tế. + Qua điều tra bài viết đầu tiên bài “ Trường em” của các em tôi thu được kết quả như sau: Về lỗi chính tả và độ cao: Tổng số Viết đúng Viết đúng Viết đúng độ cao, Viết sai cả họcsinh chính tả và chính tả, sai sai lỗi chính tả. độ cao và lỗi độ cao. độ cao. chính tả. SL % SL % SL % SL % 26 3 11,5 7 27,0 12 46,2 4 15,3 Về cách trình bày: Tổng số Trình bày Trình bày đúng, Trình bày sai học sinh đúng, đẹp nhưng chưa đẹp SL % SL % SL % 26 4 15,3 8 30,8 14 53,9 *Nguyên nhân của thực trạng. 5
  4. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” Qua tìm hiểu thực tế tôi thấy: + Gia đình các em rất quan tâm đến việc học tập của các em. Đầu năm học, phụ huynh đã mua đầy đủ đồ dùng sách vở, đồ dùng học tập cho em. Nhiều phụ huynh đã dành thời gian để kèm cặp thêm cho các em học tập ở nhà. + Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, bảo đảm cho việc dạy – học của giáo viên và học sinh như phòng học, ánh sáng, bàn ghế, đồ dùng cho môn học + Giáo viên nhìn chung có chuyên môn vững vàng, có lòng yêu nghề mến trẻ, say sưa với sự nghiệp trồng người. giáo viên cùng học sinh luôn luôn coi trọng công tác vở sạch – chữ đẹp. + Về phía học sinh: nhìn chung học sinh chăm ngoan học tập, luôn chú ý đến chữ viết, đến sách vở của mình. Vậy, tại sao vẫn còn những học sinh mắc lỗi chính tả như vậy ? Ở đây, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nguyên nhân mắc lỗi chính tả của học sinh như sau: a.Nguyên nhân trước hết phải nói đến là do bản thân các em: + Một số em phát âm chưa chuẩn( nói ngọng). + Chưa nắm chắc về âm – vần nên khi phân tích để viết một số tiếng khó còn lúng túng, không phân tích được. + Các em nghe hiểu còn hạn chế. Còn nhiều em không nắm được nghĩa các từ. + Một số học sinh tư thế ngồi viết và cách cầm bút chưa đúng. + Đôi lúc học sinh còn viết ngoáy, ý thức chưa cao, chưa tự giác rèn chữ viết. + Các em đa phần là con nông dân, tuy điều kiện vật chất đầy đủ nhưng điều kiện giao tiếp ở nhà còn hạn chế, khi các em nói sai, nói ngọng thì bố mẹ, anh chị chưa sửa cho các em. Đến trường giáo viên chú ý đến sửa lỗi cho học sinh nhưng trong giờ ra chơi các em vui đùa, nói chuyện, khi nói ngọng, nói sai, các em không tự sửa cho nhau, chưa ý thức tự sửa cho mình. b.Về phía giáo viên: + Giáo viên luôn quan tâm đến phong trào vở sạch - chữ đẹp, chấm chữa bài cho học sinh thường xuyên. song khi chấm bài cho học sinh, học sinh viết sai lỗi chính tả, giáo viên thường chỉ gạch chân, sửa sai cho các em chưa triệt để. Giáo viên mới chú trọng đến chữ viết đúng, còn khi học sinh viết sai nét, giáo viên còn bỏ qua. Vì vậy, khi giáo viên nhận xét, đánh giá bài viết của các em, các em không biết phải sửa thế nào cho đúng, cho đẹp. + Trong các giờ học chính tả, giáo viên chưa thực sự tổ chức tiết học sôi nổi, chưa có sự đổi mới phương pháp – hình thức dạy học, còn mang tính hình thức. 6
  5. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” c. Bên cạnh đó một nguyên nhân không nhỏ có ảnh hưởng đến việc viết sai chính tả của học sinh là do phụ huynh thiếu quan tâm sửa lỗi cho các em. - Ở nhà khi các em nói sai, nói ngọng thường là phụ huynh bỏ qua, chỉ có số ít là phụ huynh sửa sai cho con em mình. -Một số phụ huynh đi làm xa để mặc con em ở nhà. -Bản thân một số phụ huynh còn nói sai, viết sai chính tả. Cụ thể khi trao đổi trực tiếp với giáo viên hay trao đổi với giáo viên chủ nhiệm qua sổ liên lạc. Vậy khi học sinh nói sai, viết sai không được sửa, và khi nhìn thấy phụ huynh viết sai thì các em thường cho đó là đúng, đâu có biết như vậy là sai. Chỉ có phần ít các em biết phát hiện đúng – sai, do đó các em cứ theo cái sai đó dẫn đến các em sẽ nói sai, viết sai. d.Nguyên nhân xã hội: Còn nhiều người nói không chuẩn, do ảnh hưởng tiếng địa phương và thói quen.. e.Một số nguyên nhân khác Học sinh lớp 1 không có một tiết học nào để làm quen với cách viết các cỡ chữ nhỏ trước khi bắt tay vào viết chính tả mà học sinh chỉ được giáo viên giới thiệu chữ viết thường, chữ viết hoa qua Bài 28 - Tiếng Việt 1 – tập 1. Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng chất lượng môn chính tả của học sinh lớp 1. Trước thực trạng như vậy, tôi không thể không suy nghĩ: “ Phải làm gì để thay đổi thực trạng và “ Nâng cao chất lượng dạy – học phân môn chính tả của học sinh lớp 1?” Trước vấn đề trên, tôi đã tìm hiểu, suy nghĩ kết hợp với sự tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp, cuối cùng tôi xin đưa ra ý kiến của mình về “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” mà tôi đã thực hiện và cảm thấy có hiệu quả. IV.Các biện pháp thực hiện: 1.Giúp học sinh hiểu nghĩa từ – ghi nhớ từ. Là giáo viên giảng dạy lớp 1, tôi luôn chú trọng yếu tố này. ngay từ các bài học vần, tôi luôn giải nghĩa từ khoá từ áp dụng trong các bài học vần qua tranh ảnh mô hình, lời giải thích giúp học sinh hiểu nghĩa từ, hiểu câu. Đồng thời tôi đưa từ, câu văn vào văn cảnh cụ thể để học sinh dễ dàng hiểu từ, hiểu câu và hiểu sâu hơn ( Phần luyện nói, đoạn ứng dụng ), từ đó có cách đọc đúng, viết đúng. Bài viết chính tả phần lớn là viết lại một phần nội dung bài tập đọc đã học. 7
  6. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” Vì vậy, để học sinh viết tốt các bài chính tả thì ngay các tiết học tập đọc, tôi cho học sinh hiểu nghĩa từ trong bài đọc, hiểu câu, hiểu nội dung cơ bản của bài đọc. Trước khi viết bài chính tả, tôi gợi ý, hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài viết. Như vậy, khi viết chính tả, học sinh bắt đầu đã có vốn từ, nắm được nội dung bài, học sinh sẽ tự đọc – phân tích – viết đúng, đặc biệt là những tiếng, từ viết khó, hạn chế sự mắc lỗi. 2.Dạy học sinh viết – trình bày bài chính tả: Từ tuần 25 học sinh lớp 1 bắt đầu viết chính tả. giai đoạn này học sinh vừa luyện chữ cỡ vừa và bắt đầu học phân môn chính tả. Như vậy, học sinh lớp 1 không có một tiết học riêng nào và cũng chưa có lần nào để làm quen với cách viết các chữ theo cỡ chữ nhỏ trước khi các em viết bài chính tả. Do đó học sinh thường lúng túng khi viết chính tả như: + Không biết cách trình bày bài viết. + Chưa nắm được độ cao từng con chữ. Vậy, chúng ta cần phải làm gì giúp các em khỏi bị lúng túng khi viết chính tả, đặc biệt ở những bài đầu ở của phân môn chính tả ? Với học sinh Tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em “nói đấy”, “nghe đấy” rồi cũng “ quên ngay đấy”. Nếu như các em không được làm quen, được nhắc nhở thường xuyên thì các em sẽ không biết làm, nếu có làm thì dễ bị sai, bị nhầm lẫn và không tránh khỏi lúng túng. Với lớp tôi, tôi đã thực hiện như sau: a.Dạy các nét cơ bản Đầu tiên tôi dạy cho học sinh viết hai nét ngang vào sổ. Từ hai nét trên, giúp học sinh sau này có dạng chữ viết thẳng, ngay ngắn từ đầu. Sau khi rèn kỹ hai nét, tôi mới tiến hành dạy các nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đ ầu, nét khuyết . Để thuận lợi trong quá trình dạy môn chính tả, tôi hướng dẫn học sinh thật cẩn thận các nét cơ bản qua tiết tập viết và thống nhất cách gọi tên các nét như sau: Nét sổ Nét cong hở trái Nét ngang Nét cong hở phải Nét xiên phải Nét cong kín Nét xiên trái Nét cong kín Nét móc xuôi Nét khuyết trên Nét móc ngược Nét khuyết dưới Nét móc 2 đầu Nét thắt Làm tốt phần này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi viết chữ được 8
  7. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” đúng đẹp theo mẫu. b.Giới thiệu chữ viết thường cỡ nhỏ: Sau khi học sinh đã được làm quen, thực hành viết các chữ cái, học sinh đã nắm được cấu tạo con chữ, độ cao, độ rộng của từng con chữ cũng như kĩ thuật viết từng con chữ cỡ vừa. Khi chuyển sang phần vần, từ tuần 15, trong những giờ luyện tiếng Việt, tôi “giới thiệu” với học sinh các con chữ trong vần hôm đó ôn luyện theo cỡ chữ nhỏ theo hình thức “đưa chữ mẫu viết theo cỡ chữ nhỏ để giới thiệu” với mục đích chủ yếu để học sinh có sự nhận biết ban đầu về độ cao, độ rộng của từng con chữ theo cỡ chữ nhỏ. VD : Luyện đọc bài 69: ăt- ât ( tiếng việt 1-tập 1 ). trong bài này tôi giới thiệu cho học sinh con chữ “ă. â”, viết theo cỡ chữ nhỏ có độ cao 1 đơn vị, con chữ “t” cao 1,5 đơn vị. Trong một số tiết luyện tiếng Việt sau, khi có vần chứa các con chữ đó theo cỡ chữ nhỏ thì học sinh sẽ biết ngay. Làm như vậy, học sinh vừa nắm chắc cấu tạo vần, vừa được làm quen với chữ viết thường cỡ nhỏ trong vần đó. Lưu ý : Giáo viên thực hành phần này cần lưu ý giúp học sinh phân biệt rõ chữ thường cỡ vừa với chữ thường cỡ nhỏ để tránh nhầm lẫn khi viết bài học vần. Để thực hiện tốt việc này đòi hỏi người giáo viên phải khéo léo trong cách giới thiệu và điều quan trọng hơn giáo viên phải nắm chắc mẫu chữ viết thường và viết hoa (theo cỡ chữ nhỏ): + Nếu kể chiều cao của con chữ thấp nhất không kể các dấu phụ trên các con chữ ấy ( như các chữ a, ă, â, c, e, ê ) là đơn vị chiều cao của chữ và lấy dòng kẻ dưới cùng của khuông kẻ vở làm dòng chuẩn thì các chữ viết thường có các độ cao là vị trí trên khuông kẻ như sau: - 1 đơn vị : a, ă, â, c, e, ê, m, o, ơ, u, ư, v, x. - 1,25 đơn vị : r, s. 9
  8. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” - 1,5 đơn vị : t. (các chữ 1 đơn vị 1,25 đơn vị và 1,5 đơn vị trên đều viết trên dòng chuẩn ) - 2 đơn vị: d, đ (với 2 đơn vị trên dòng chuẩn) - p, q (với 1 đơn vị trên và 1 đơn vị dưới dòng chuẩn) - 2,5 đơn vị : b, h, k, l ( với 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn) - g, y (với 1 đơn vị trên và 1,5 đơn vị dưới dòng chuẩn) + Các chữ hoa đều có độ cao 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn trừ g và y có độ cao 4 đơn vị, với 2,5 đơn vị ở trên và 1,5 đơn vị ở dưới dòng chuẩn. Từ bài 96 phần học vần, giáo viên có thể giúp học sinh so sánh độ cao, độ rộng của chữ viết thường cỡ nhỏ cũng như kỹ thuật viết chữ. Nhưng giáo viên chú ý không nên đi sâu phân tích - nhận diện. Như vậy, qua các bước giới thiệu đó, phần nào học sinh đã biết về cỡ chữ nhỏ để rồi khi chuyển sang viết chính tả học sinh không còn bỡ ngỡ, lúng túng về độ cao các con chữ cũng như kỹ thuật viết. c.Tập chép và viết chính tả : Khi chúng ta làm tốt việc giới thiệu chữ viết thường cỡ nhỏ kết hợp với sự bao quát, sự chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên trong giờ chính tả, nhìn chung học sinh viết chính tả sẽ không bị lúng túng về cách viết chữ. Nhưng cũng không thể tránh khỏi một số trường hợp học sinh viết không đúng cỡ chữ, chữ chưa đều, chưa đẹp. Với những trường hợp này giáo viên cần phải hướng dẫn tỉ mỉ để các em viết đúng mẫu, có biện pháp để giúp các em khắc phục nhược điểm. Với những học sinh yếu, tôi đã áp dụng việc viết mẫu trong một số bài chính tả của những tuần đầu. Viết thật ngay ngắn và đẹp cho các em quan sát. Đến khi viết bài tôi yêu cầu các em nhìn theo mẫu rồi viết (lưu ý viết thật tròn trĩnh) kể cả trong bài tập chép hay nghe – viết tôi đều làm như vậy, tăng cường viết mẫu hướng dẫn vào buổi luyện tiếng Việt hay tiết hướng dẫn học. Chỉ sau một tuần làm như vậy, tôi thấy chữ viết của các em đã tiến bộ rõ rệt.. Vì đặc điểm của học sinh Tiểu học là rất hay bắt chước và bắt chước cũng rất nhanh. Hơn nữa ở lớp 1, các bài chính tả hầu như là tập chép nên tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác cho học sinh thì việc viết mẫu của giáo viên không những giúp cho các em viết đẹp mà còn giảm đáng kể tình trạng mắc lỗi. Để làm tốt việc này, đồi hỏi mỗi giáo viên phải có ý thức luyện chữ và không phải chỉ ở giờ chính tả, tập viết mà tất cả các giờ học khác, đòi hỏi chữ viết trên bảng của giáo viên phải thật sự mẫu mực. d.Hướng dẫn trình bày bài chính tả 10
  9. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” Việc trình bày bài chính tả của học sinh ở những bài đầu khó khăn. Học sinh không biết cách trình bày như thế nào cho đúng chứ chưa nói gì trình bày cho đẹp, từ cách ghi tên bài viết rồi đến trình bày nội dung bài viết. Chúng ta đã biết, học sinh Tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 1 các em luôn luôn bắt chước và thậm chí bắt chước một cách máy móc do các em không hiểu bản chất của vấn đề, ví dụ về hiện tượng học sinh mắc lỗi cách trình bày xuống dòng như tôi đã trình bày ở phần thực trạng. Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng này? Ở đây tôi xin được trình bày cách làm mà tôi đã thực hiện và thấy có hiệu quả : *Cách ghi thứ, ngày - tháng - ghi tên môn – ghi tên bài viết Tôi luôn luôn chú ý đến cách trinh bày bảng của mình, đặc biệt trong giờ chính tả. Khi hướng dẫn học sinh viết vở, tôi đưa ra quy định chung cho học sinh của lớp mình như sau: + Cách ghi thứ - ngày - tháng: chữ “Thứ” cách lề vở 1 ô + Cách ghi tên phân môn: “Chính tả” cách lề 4 ô + Cách ghi tên bài: -Tên bài có 2 chữ cách lề 4 ô -Tên bài có 3,4 chữ cách lề 3 ô -Tên bài có 5,6 chữ cách lề 2 ô -Tên bài có 7,8 chữ cách lề 1 ô Cách ghi tên bài không phải là đến khi viết chính tả, giáo viên mới giới thiệu cho học sinh. Với tôi, ngay trong các bài học vần, trong các môn học 11
  10. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” khác, khi ghi tên bài tôi luôn chú ý trình bày làm sao cho đúng, cho khoa học và đẹp mắt tức là viết đúng và trình bày cân đối trên bảng. Đặc biệt trong giờ học “mĩ thuật, thủ công” chúng ta giáo dục học sinh cái đẹp của hình ảnh, của cách trình bày (bố cục, khoảng cách), sự khéo léo, óc sáng tạo của học sinh. Vì thế, khi ghi tên bài vào vở tổng hợp, tôi kết hợp hỏi học sinh tại sao lại trình bày như vậy ? VD1: Khi dạy bài 10: “Vẽ quả” tôi trình bày bảng như sau: Thứ ngày tháng năm Mĩ thuật Vẽ quả - Giáo viên chỉ và hỏi học sinh: Tại sao viết “Vẽ quả” ở vị trí như vậy ? -Học sinh: Viết như vậy cho đẹp. VD2: Bài 24: Phân môn Thủ công. giáo viên trình bày bảng: Thứ ngày tháng năm Thủ công Cắt, dán hình chữ nhật -Giáo viên hỏi: Tại sao không viết chữ “Cắt” vào sát lề hoặc vào giữa bảng ? -Học sinh: Viết như vậy không đẹp. Giáo viên phải cho học sinh thấy được cái đẹp, ở đây không những chỉ về chữ viết mà còn cả về cách trình bày. Từ đó hình thành cho học sinh cách trình bày bài một cách khoa học và đẹp mắt. Cách trình bày đó, được tôi nhắc nhở xen kẽ trong các bài học của môn học khác. Đến khi viết chính tả, tôi chỉ cần lưu ý học sinh là các em có thể tự ước lượng và trình bày vào vở của mình (có thể chưa thật cân đối) và dần dần trở thành thói quen. Được thực hành nhiều lần, các em sẽ có kỹ năng trình bày bài đúng, đẹp và khoa học. Đối với những học sinh yếu, tôi sẽ chỉ và hướng dẫn các em ở một số bài đầu tiên về cách viết, viết cách lề khoảng mấy ô. Sau đó yêu cầu học sinh tự ước lượng, tự thực hành. * Cách trình bày đoạn văn, đoạn thơ: Nếu cứ để đến khi viết chính tả, giáo viên mới hướng dẫn học sinh cách trình bày một đoạn văn hay một khổ thơ, bài thơ thì thật là khó khăn trong một tiết học mà hiệu quả lại không cao, chắc chắn sẽ có nhiều em trình bày sai, đặc biệt là viết đoạn văn hay khổ thơ lục bát. Vì vậy, trong các bài học vần, khi đưa ra đoạn văn, đoạn thơ ( khổ thơ ứng dụng ) tôi luôn chú ý cách trình bày đoạn ứng dụng đó trên bảng phụ hoặc bảng lớp giới thiệu cho học sinh hiểu cách trình bày từng bài đó. Cụ thể : 12
  11. “ Một số biện pháp rèn viết đúng chính tả cho học sinh lớp Một” * Thơ: VD1 : Dạy bài 89: iêp-ươp ( TV1 – Tập 2 ) Đoạn thơ ứng dụng : -Ở đây, giáo viên giúp học sinh hiểu: - Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải viết hoa con chữ đầu tiên (chữ viết), in hoa con chữ đầu tiên (chữ in). - Chữ đầu các dòng thơ phải thẳng đều nhau. - Cuối đoạn thơ phải có dấu chấm. VD2 : Dạy bài 88: ip – up ( TV1- Tập 2 ) Đoạn thơ ứng dụng: Ở đây, giáo viên cũng phải giúp học sinh hiểu: -Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải được viết hoa con chữ đầu tiên (đối với chữ viết), in hoa (đối với chữ in) - Cuối đoạn thơ có dấu chấm. 13