Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh Lớp 3
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_doc_cho_h.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh Lớp 3
- Người học sẽ đạt được mục tiêu chủ yếu của việc đọc là đọc thông thạo, hiểu được nội dung từ, câu, đoạn. Nêu được nội dung chính của bài Tập đọc. Bước đầu học sinh biết đọc hay mà chưa yêu cầu học sinh đọc diễn cảm. 2. Cơ sở thực tiễn. 2.1. Chương trình phân môn Tập đọc lớp 3. Dựa theo quan điểm dạy giao tiếp, quan điểm phân tích và quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Phân môn Tập đọc lớp 3: Mỗi tuần có 4 tiết, trong đó có 1 buổi có 2 tiết Tập đọc - Kể chuyện (Tập đọc 1,5 tiết, Kể chuyện chiếm khoảng 1/4 thời gian còn lại). Các bài Tập đọc thực hiện trong 33 tuần (trừ 2 tuần ôn tập và kiểm tra), gồm 93 bài, có 30 bài thơ và 63 bài văn xuôi, miêu tả, văn bản khoa học. Nội dung các bài Tập đọc bám sát các chủ điểm: Nhà trường, gia đình, quê hương các vùng miền và các dân tộc anh em. Các hình thức luyện tập trong môn Tập đọc: Luyện đọc từ, câu, đoạn hay cả bài; trả lời câu hỏi tìm hiểu bài, câu hỏi liên hệ giáo dục kỹ năng sống, ý thức cộng đồng... Như vậy, so với các phân môn khác của Tiếng Việt lớp 3, phân môn Tập đọc chiếm khối lượng nhiều nhất. Các phân môn: Tập làm văn, Luyện từ và câu, Tập viết, Kể chuyện chiếm 1 tiết/tuần (trừ Kể chuyện khoảng 1/2 tiết). Để học các phân môn khác của môn Tiếng Việt, trước tiên, ta phải học Tập đọc. Sách giáo khoa đã cấu trúc 01 tiết Tập đọc đầu, sau đó mới đến các phân môn: Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn. Hai tiết Tập đọc còn lại bố trí xen kẽ. Tập đọc là nguồn cơ sở cung cấp nguồn tư liệu, xuất hiện các kiến thức theo trục chủ điểm cho các phân môn còn lại của môn Tiếng Việt. Học tập đọc tốt giúp học sinh tiếp thu và học tốt các môn khác, như Toán, Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức...Bởi có đọc đúng nhanh, hiểu được nội dung thì mới giúp học sinh giải quyết tốt các yêu cầu của môn học khác. Nếu đọc chậm, sai nội dung thì sẽ làm sai lệch kết quả. 2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu. Là trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia. Học sinh lớp tôi được học 2 buổi/tuần. Trong các năm học vừa qua, tôi được nhà trường phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 3A. Lớp học của tôi có 27 học sinh. 100% học sinh con nông thôn. Có 12 HS nữ, gần 30% em là học sinh vùng công giáo. Các em hầu hết ngoan có y thức học tốt, rèn luyện tốt. 3
- Bên cạnh đó các em còn hơi nhút nhát, giao tiếp hạn chế. Khả năng đọc không đồng đều. có 5-7 em đọc chậm. Kết quả khảo sát việc thực hiện phân môn Tập đọc trong lớp khi mới vào đầu năm học 2015 - 2016, như sau: Bảng khảo sát chất lượng đọc học sinh phân môn Tập đọc đầu năm Năm học 2015 - 2016, Lớp 3A Mức độ đọc: Tổng số Âm, vần, tiếng, từ Thanh ?/ ~ Hiểu câu, nội dung HS chính đoạn (bài) 27 Chưa Chưa Hoàn Chưa hoàn Đúng Đúng đúng đúng thành thành 12 15 21 6 9 18 Tốc độ và cường độ đọc. Tổng Ngắt (nghỉ) câu Đọc quá Đọc quá số Đúng Chậm Nhanh to nhỏ HS Đúng Sai 27 10 8 2 5 10 17 4 em Qua bảng khảo sát ta thấy: + Về đọc: - Học sinh còn sai về cách phát âm: ch/tr, s/x, các tiếng có vần chứa nguyên âm đôi: iê, ua, uô,.. Ví dụ: chiến khu học sinh đọc thành chín khu; Trìu mến học sinh đọc thành chìu mến; sai phổ biến hơn là tiếng có vần: ua, ưa học sinh đọc thành tiếng có vần u, ư. Ví dụ: của học sinh đọc thành củ; mưa học sinh đọc thành mư... - Về dấu thanh: HS nhầm lẫn khi đọc các tiếng có chứa thanh hỏi, ngã. Ví dụ: dẫn học sinh đọc thành dẩn; suy nghĩ học sinh đọc thành suy nghỉ; ngưỡng cửa học sinh đọc thành ngưởng cửa hoặc ngưỡng cữa. Về dấu thanh chủ yếu là sai thanh ngã thành thanh hỏi. Đây là lỗi phổ biến của địa phương. Tôi cố gắng để hướng dẫn đọc đúng, tránh đọc sai những tiếng đó làm sai nghĩa của từ. Chẳng hạn nghĩ và nghỉ hay đỗ và đổ là hai cặp từ có nghĩa hoàn toàn khác nhau và còn nhiều từ khác nhau bởi thanh hỏi và thanh ngã mà chúng ta không được phép viết sai, khi học trên lớp giáo viên phải dạy cho các em đọc đúng. 4
- - Về ngắt, nghỉ câu sai: đây là lỗi phổ biến khi học sinh phát âm câu dài, hay nhịp thơ của dòng thơ. Ví dụ: Tiếng trống mỗi buổi sáng trong trẻo ấy là tiếng trống trường đầu tiên, âm vang mãi trong cuộc đời đi học của tôi sau này. (Bài: Ông ngoại (Tiếng Việt 3 - tập 1, trang 35). Học sinh đọc ngắt nhịp như sau: Tiếng trống mỗi buổi sáng trong trẻo / ấy là tiếng trống trường đầu tiên, / âm vang mãi trong / cuộc đời đi học của tôi sau này. Lẽ ra phải ngắt đúng khi đọc là: Tiếng trống mỗi buổi sáng trong trẻo ấy / là tiếng trống trường đầu tiên, / âm vang mãi trong cuộc đời đi học của tôi / sau này. - Về âm lượng đọc: Học sinh thường đọc nhỏ. Khi các em này đọc học sinh chỗ khác trong cùng lớp không nghe được. Những học sinh này do thói quen đọc. Việc đọc quá to thì ít hơn, nhưng cũng có vài em đọc quá to. Những học sinh đọc quá to thường là lúc đọc đồng thanh. Các em đua nhau đọc và đọc quá to dẫn đến tiêu hao năng lượng nhiều. Các em đó sẽ trở nên mệt mỏi, ảnh hưởng đến tiếp thu các tiết khác, nhất là cuối buổi. - Về tốc độ: Học sinh thường đọc chậm và sai về cách ngắt nghỉ câu, do khả năng linh hoạt của bản thân. Bên cạnh đó cũng có em đọc khá nhanh không biết ngắt nghỉ câu văn, dòng thơ. Những em đọc nhanh cũng do thói quen mà trước đó chưa sửa. Khi các em đọc bài thơ thường không hay, đọc như văn xuôi. 3. Giải quyết vấn đề. Trước thực trạng trên bản thân đã tìm các giải pháp khắc phục. + Sửa lỗi sai về âm, thanh, ngắt nhịp, tốc độ đọc ngay sau khi nắm được tình hình đọc của mỗi em. + Tích cực rèn các kỹ năng đọc thành tiếng, đọc câu, đọc đoạn và cả bài qua quy trình dạy tập đọc ngay trong tiết học chính và học ôn buổi chiều. + Tích hợp với các môn học khác để giúp các em đọc đúng. + Tổ chức các trò chơi củng cố cách đọc ngay trong tiết dạy, ở phần củng cố, nhận xét, góp phần tạo hứng thú cho học sinh khi học. + GV phải tự luyện đọc mẫu bằng cách phát âm chuẩn. Giáo viên phải đọc theo đúng nghĩa đọc mẫu để học sinh dể cảm nhận ngay trong tiết học. Vì chỉ có giáo viên là mẫu chuẩn khi đọc mà không ai khác. Nhất là học sinh vùng nông thôn các em rất ít được nghe những giọng đọc hay và chuẩn. Khi tiếp xúc với môi trường bên ngoài ít có người phát âm đúng. 3.1. Tăng cường khả năng đọc mẫu của GV trước lớp: Muốn người học cảm nhận được cái hay của từng đoạn, cả bài không có biện pháp nào hữu hiệu hơn là giọng đọc mẫu của giáo viên. Giáo viên đọc hay (diễn cảm tốt) sẽ làm cho nội dung đó truyền cảm đến học sinh nhanh nhất và hiệu quả nhất mà không gì có thể thay thế - kể cả lớp trong lớp có học sinh đọc tốt. Vì giáo viên luôn là hình mẫu l ý tưởng để học sinh nghe và đọc theo. Đó là điều cảm nhận của tất cả giáo viên Tiểu học. Các em nghe theo lời thầy cô chủ 5
- nhiệm hơn cả cha mẹ mình cũng là người đồng nghiệp, cùng trường. Xác định được điều đó, tôi đã tiến hành như sau: + Chuẩn bị tốt các lần đọc mẫu trong các bài Tập đọc: - Tôi thường đọc trước các bài Tập đọc sẽ học trong tuần, ghi âm và phát lại trên điện thoại để tự kiểm tra. Đọc cho đồng nghiệp hoặc người hiểu biết nghe và góp xem đã chuẩn chưa. Có những lúc do chưa tự tin và đọc dấu thanh (hỏi, ngã) tôi đã ghi âm cách đọc đúng, chuẩn của mình nghe lại và chọn những đồng nghiệp đọc mẫu hay để nghe rút kinh nghiệm cho bản thân. Khi cần, tôi đã phát lại cách đọc đúng cho học sinh nghe. - Những bài khó cần chuẩn bị kỹ hơn. Đọc văn xuôi, bài thơ, các dòng thơ hay bảng biểu tôi phải đọc thử vài lần để không bị vấp hoặc sai. Đối với bài thơ ban đầu, khi chưa quen tôi cũng đã xem và đánh dấu vào chỗ cần ngắt giọng để đọc trước học sinh tự tin tin hơn. + Khi dạy, đến lúc đọc mẫu, tôi cố gắng đọc diễn cảm tốt nhất là ngắt nghỉ câu (nhịp thơ), những từ ngữ gợi tả, gợi cảm truyền cảm hứng cho học sinh nghe. Khi đọc, các em rất chăm chú nghe tôi đọc và có những em có khả năng đã đọc lại cho cả lớp và tôi nghe rất tốt. Các em đó luôn được cả lớp biểu dương và học tập. Kết quả: Sau hai năm dạy lớp 3, khi đã có vốn kinh nghiệm và không phải chuẩn bị kỹ như lúc đầu; nhưng tôi vẫn có thói quen đọc thử trước khi lên lớp, nhờ vậy các bài Tập đọc khi tôi đọc mẫu trên lớp bao giờ cũng lôi cuốn được học sinh. Nhiều em tiến bộ đọc ngày càng hay hơn, mà không biết rằng đó là cách đọc diễn cảm. Điều đó giúp tôi càng tự tin khi dạy Tập đọc trên lớp. 3.2. Tăng cường rèn đọc cho học sinh trong các tiết Tập đọc: Biện pháp này tôi tiến hành như sau: a) Chuẩn bị: - Chia nhóm nhóm cho việc đọc, gồm: + Nhóm theo bàn (2 em); + Nhóm 4 em (hai bàn quay lại với nhau. Khi còn lẻ 1 em ở cuối mỗi dãy thì em đó tự ghép vào nhóm cuối gần nhất); + Nhóm lớn theo dãy bàn (3 dãy). - Quy định cách đọc, hình thức đọc: + Khi học sinh cá nhân, lúc đầu của bài là lệnh đọc cá nhân. HS sẽ thực hiện đọc theo hàng dọc hoặc hàng ngang, ở vị trí ngồi thẳng hàng (ngang hoặc dọc). Khi gọi cá nhân đọc theo đoạn tôi chỉ theo hiệu lệnh. Lúc thì học sinh đọc trong nhóm, lúc đại diện mỗi nhóm một em đọc nối tiếp đoạn, để tránh ít học sinh được đọc đoạn. Việc làm này, tôi tiến hành ở đầu năm học. 6
- + Khi đọc trong nhóm: Mỗi học sinh đọc lần lượt theo yêu cầu cả bài hoặc nối tiếp đoạn. Khi một em đọc, các em còn lại nghe để nhận xét, sửa lỗi về cách đọc (giọng đọc hợp với yêu cầu của câu, đoạn, bài hay chưa?). + Đọc nhận xét trong nhóm, báo cáo trước lớp (giáo viên) lỗi bạn hay mắc (âm vần, dấu, ngắt nhịp, tốc độ nhanh, chậm...) mà nhóm đã nhận xét, đề nghị với giáo viên giúp đỡ cách đọc. Tìm ra bạn đọc tốt nhất để thi cùng các nhóm khác. - Phân loại đối tượng: Học sinh đọc có năng khiếu và học sinh đọc còn hạn chế vào đều các dãy để các em kèm cho việc đọc tốt hơn khi luyện đọc theo nhóm. Việc này tôi tiến hành sau 2 tuần đầu năm học (Sau khi biết khả năng đọc của từng em). b) Tiến hành: + Luyện đọc đúng tiếng, từ. Thực hiện ở phần luyện đọc nối tiếp theo câu. Bước 1: Chọn một số tiếng, từ ngữ hay đọc sai ghi lên bảng ở phần luyện đọc. GV không chọn quá nhiều, chỉ chọn tối đa 7 từ, vì ít có bài nào HS sai nhiều như vậy. Vi dụ: Tập đọc: Trận bóng dưới lòng đường - Tiếng Việt 3, tập 1, trang 54, 55. Luyện đọc Tìm hiểu bài - Tiếng, từ khó: húi cua, chút nữa - Ngần ngừ, dốc bóng quyết định, khuỵu xuống, xuýt xoa - Khung thành “kít...ít” - Câu: Bước 2: Luyện đọc sửa lỗi phát âm sai: Phát huy tính tích cực của HS tự sửa, GV đọc mẫu (nếu cần), HS luyện đọc đúng. Thời gian khoảng 2-4 phút. HS hay phát âm sai “cua” đọc thành “cu”; tiếng kít...ít nhiều HS đọc sai như cách viết, mà phải đọc tiếng kít...ngân dài. Các từ khó: quyết định, khuỵu xuống, xuýt xoa. Gọi HS đọc, nếu HS đọc chưa đúng thì GV đọc mẫu rồi cho HS đọc lại đúng. Riêng từ chút nữa HS hay đọc sai thành trút nửa hay chút nửa (Sai âm và dấu thanh) GV cũng cho tiến hành như trên, nhưng khi phát âm tiếng nữa HS cần chú ý đọc đúng theo mẫu. Vì nửa và nữa hoàn toàn khác nhau về nghĩa. Bước 3: Luyện củng cố: Chọn một số tiếng khó vừa đọc cho 1-3 em đọc lại. (1 phút). Bước này tôi thường cho nhóm đọc để tự sửa lỗi. 7
- + Luyện đọc câu dài: Lấy bảng ngắt câu dài làm chuẩn treo trên bảng lớp để HS làm tiêu chí nhận xét. Cách làm (xuất hiện cách ngắt nhịp): Bước 1: Chọn câu dài (dòng thơ) cần ngắt nhịp. Treo lên bảng lớp nội dung này. Thực hiện ở phần luyện đọc theo đoạn của tiết Tập đọc. Ví dụ 1: Tiếng trống mỗi buổi sáng trong trẻo ấy là tiếng trống trường đầu tiên, âm vang mãi trong cuộc đời đi học của tôi sau này. (Bài: Ông ngoại (Tiếng Việt 3 - tập 1, trang 35). Bước 2: Tìm chỗ cần ngắt nghỉ đúng câu dài hoặc nhịp thơ: - Gọi 1 HS đọc, cả lớp nghe để nhận xét. - HS đọc và nêu cách ngắt nghỉ đúng, thì GV chốt đúng cho HS đọc lại. Ví dụ 1: (Đúng) Tiếng trống mỗi buổi sáng trong trẻo ấy / là tiếng trống trường đầu tiên, / âm vang mãi trong cuộc đời đi học của tôi / sau này. - Nếu HS đọc và nêu cách nhịp sai Chẳng hạn theo Ví dụ 1: HS nêu: Tiếng trống mỗi buổi sáng/ trong trẻo ấy là tiếng trống trường đầu tiên, / âm vang mãi trong cuộc đời/ đi học của tôi sau này. GV cho HS nhận xét, chỉ cách ngắt nhịp đúng hay sai. Nếu 1-2 em nêu không đúng thì GV đọc cho HS nghe và nêu chỗ ngắt nghỉ để không làm mất nhiều thời gian. Bước 3: GV kết luận chỗ đánh dấu ngắt câu dài đúng, thời gian nghỉ chỗ không có dấu phẩy và dấu chấm ký hiệu là 1 vạch chéo (/) và bằng chỗ nghỉ dấu phẩy. Hai vạch chéo (//) nghỉ lâu hơn đó là dấu chẩm, dấu hỏi, chấm cảm. Với câc dòng thơ cũng thực hiện tương tự, nhưng dấu ngắt một vạch là chỗ ngắt nhịp thơ. Ví du: Bài: Về quê ngoại - Tiếng Việt 3, tập 1, trang 133. Cách ngắt nhịp 2 dòng thơ đầu như sau: Em về quê ngoại / nghỉ hè,// Gặp đần sen nở / mà mê hương trời.// ........... Lưu ý HS phải đọc ngắt nghỉ đúng để bảo đảm ý nghĩa của câu. + Luyện đọc tìm hiểu đoạn, bài: Rèn kỹ năng đọc thầm, phát hiện nội dung, trả lời câu hỏi liên quan đến bài học. Bước 1: HS đọc thầm các đoạn liên quan đến nội dung câu hỏi, để tìm ra câu trả lời. 8
- GV nêu yêu cầu để HS thực hiện. Ví dụ câu hỏi 1: Điều gì khiến các bạn nhỏ phải dừng lại? GV yêu cầu đọc cả đoạn 1 và 2 để tìm ra câu trả lời là có một ông cụ già đang ngồi ở vệ cỏ ven đường chờ xe buýt chở đến bệnh viện. Bước 2: Chọn câu trả lời hợp với câu hỏi. HS thảo luận trong nhóm để tìm câu trả lời hay nhất, đúng nhất. Bước 3: Chốt nội dung chính của đoạn bài. GV ghi bảng lớp nội dung cho HS nhăắc lại để nhớ. Mục đích là giúp HS hiểu được nội dung chính của đoạn, bài để các em đọc hay hơn. + Luyện đọc lại, thi đọc: - Việc luyện đọc lại thường tiến hành trong nhóm sau đó để nhóm chọn 1 em tham gia thi đọc để củng cố và học tập lần nhau. - Theo nhóm để sửa lỗi: Khi tổ chức luyện đọc nhóm, tôi để HS tự sửa sai cho HS, theo cách: từng em đọc, nhóm nghe nhận xét, đề nghị bạn đọc đúng. + Tổ chức tốt hình thức luyện đọc theo nhóm. - Tôi chỉ định luân phiên các em đọc tốt làm nhóm trưởng để điều hành việc đọc và kết hợp sửa sai. - Nếu nhóm nào có HS đọc sai thì biểu dương và đặc biệt khen những nhóm có HS đọc đúng và hay phát âm sai, sửa lỗi tốt. Tôi ghi luôn nhận xét vào sổ theo dõi chất lượng giáo dục của tháng đó với HS tiến bộ. - Cho HS có năng khiếu đọc, học sinh mắc lỗi đọc lại với tinh thần cầu thị. Kết quả, sau gần 1 học kỳ làm quen với cách rèn luyện kỹ năng trên, nhiều học sinh đọc có tiến bộ đọc nhanh và lưu loát hơn. Các em này rất phấn khởi và hay xung phong đọc. + GV biết cách quan sát cách đọc của học sinh. - Phát hiện nhanh HS hay đọc sai các lỗi. Cho HS nhận xét. GV trực tiếp sửa cách đọc đúng cho HS. - GV phải kiên trì khi luyện đọc cho HS nhất là HS đọc chậm, sai lỗi. Khen, động viên qua nhận xét sự tiến bộ của HS từng bài, đúng theo tinh thần Thông tư 30 của Bộ GD&ĐT để giúp các em vượt qua khó khăn. 3.3. Tổ chức thi đọc và các trò chơi gây hứng thú cho HS ở phần Thi đọc theo nhóm hay củng cố, tổng kết bài. 3.3.1. Thi đọc: Mục đích: - Luyện đọc đúng và nhanh từng đoạn văn ( khổ thơ) trong bài tập đọc ở sách giáo khoa Tiếng Việt 3 9
- - Rèn tác phong nhanh nhẹn, tập trung chú ý để phối hợp giữa các bạn trong nhóm với nhau khi đọc thành tiếng từng đoạn trong bài. Chuẩn bị: - Bài tập đọc truyện kể đầu tuần (Có chia đoạn) hoặc bài thơ có từ hai khổ thơ trở lên trong SGK Tiếng Việt 3. - Lập nhóm chơi: Căn cứ vào số đoạn văn (hoặc số khổ thơ) trong bài tập đọc để qui định số người trong mỗi nhóm tham gia chơi (bằng số đoạn văn hoặc số khổ thơ trong bài). - Giáo viên (hoặc 1 học sinh có năng lực) làm người điều khiển cuộc chơi: Chọn một nhóm (2 - 4 em) làm giám khảo ( HS đại diện cho các tổ) nhận xét, đánh giá kết quả thi đọc của từng nhóm. Cách tiến hành: - Lần lượt từng nhóm đăng kí dự thi lên đứng trước lớp, cầm SGK để thi đọc. Mỗi người trong nhóm chỉ đọc một đoạn văn ( hoặc một khổ thơ) trong bài tập đọc theo đúng thứ tự từ đoạn (khổ thơ) thứ nhất đến đoạn (khổ thơ) cuối. - Chọn 1 HS điều khiển từng nhóm lên thi đọc, ghi kết quả đánh giá của giám khảo được chọn trong các tổ (nhóm lớn). Khi các nhóm thi đọc xong, trọng tài tính kết quả chung và dựa vào xếp loại kết quả cuộc thi: Nhất, nhì, ba,... 3.3.2. Trò chơi '' Xì điện'': a. Mục đích: - Rèn kĩ năng đọc (đọc thầm, đọc thành tiếng) ngày càng thành thạo các bài đọc (Tập đọc) trong SGK Tiếng Việt 3. - Luyện thói quen tập trung chú ý cao (kết hợp vừa đọc thầm vừa nghe bạn đọc thành tiếng); phản xạ nhanh nhạy, kịp thời. b. Chuẩn bị: - Bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 3. - Chọn 1 học sinh làm trọng tài; ghi tên những học sinh được '' Xì điện'' và kết quả đọc của học sinh đó lên bảng theo từng nhóm. c. Cách chơi: - Cả lớp cử một người đọc đầu tiên (theo cách bình chọn hoặc bắt thăm) - Người đọc đầu tiên ( HS 1) đứng lên đọc thành tiếng thật rõ ràng, rành mạch từ 1 đến 4 câu văn (hoặc dòng thơ) thì dừng lại và chỉ định nhanh ('' Xì điện'') một bạn bất kì trong lớp ( HS 2) đọc tiếp. - Nếu HS 2 được chỉ định nhưng không đọc được câu tiếp theo ( sau khi cả lớp đếm '' một, hai, ba '') hoặc đọc không đúng câu tiếp theo ( \cả lớp hô ''sai''), thì đứng tại chỗ: HS1 có quyền ''Xì điện'' lần 2 (mời bạn khác đọc tiếp). 10
- Nếu HS2 đọc đúng câu tiếp theo (từ 1 đến 4 câu văn hoặc câu thơ) rồi dừng lại ''Xì điện'' một bạn khác (HS3) đọc tiếp... cứ như vậy cho đến hết bài. - Trường hợp học sinh đọc hết bài, nếu chưa có lệnh của trọng tài thì vẫn được ''Xì điện'' bạn khác đọc tiếp lại từ đầu bài văn ( bài thơ); cho đến khi trọng tài yêu cầu dừng lại là kết thúc cuộc chơi. 3.3.3. Trò chơi ''Thả thơ'': a. Mục đích: - Rèn kĩ năng nhớ và đọc đúng các câu thơ, khổ thơ trong bài thơ đã học thuộc lòng (HTL) trong SGK Tiếng Việt 3. - Luyện trí nhớ tốt, tác phong ứng xử nhanh nhẹn, chính xác và ý thức nỗ lực của từng người trong nhóm (tổ) khi đọc thành tiếng từng câu thơ (khổ thơ) theo yêu cầu nêu ra. b. Chuẩn bị: - Học sinh học thuộc bài thơ ( hoặc đoạn thơ) đã yêu cầu HTL ở lớp. - Lập hai nhóm chơi có số người bằng nhau: Giáo viên (hoặc cử 1 HS) làm trọng tài, xác định bài học thuộc lòng để chuẩn bị phiếu ''Thả thơ'' VD: Bài '' Hai bàn tay em'' (SGKTiếng Việt 3, tập 1, trang 7), cần làm 5 phiếu, ghi 5 dòng thơ đầu của mỗi khổ thơ dưới đây: Khổ thơ 1: Hai bàn tay em Khổ thơ 2: Đêm em nằm ngủ Khổ thơ 3: Tay em đánh răng Khổ thơ 4: Giờ em ngồi học Khổ thơ 5: Có khi một mình C. Cách chơi: - GV nêu cách chơi: 11
- + Mỗi lượt chơi gồm 2 nhóm (tổ) có số người bằng số phiếu ''thả thơ'' đã chuẩn bị cho mỗi bài. Mỗi nhóm cử một nhóm trưởng để điều hành cho việc ''thả thơ'' của nhóm mình. Hai nhóm trưởng bắt thăm để giành quyền '' thả thơ'' trước. + Hai nhóm đứng đối diện và cách nhau khoảng 2m. Mỗi người trong nhóm A cầm một tờ phiếu (giữ kín); khi nghe trọng tài hô: ''Bắt đầu'', nhóm A cử một người đưa (''thả'') ra một tờ phiếu cho một bạn bất kì ở nhóm kia (nhóm B). Bạn của nhóm B nhận phiếu phải đọc thuộc cả khổ thơ. Khi nhóm A ''thả'' xong hết số phiếu, trọng tài tính tổng số thành tích của cả nhóm và ghi lại. - Để lại nhóm '' thả thơ'' ( đến lượt nhóm B), chơi tương tự như trên, sau đó tính tổng số thành tích của nhóm B. Chỉ được '' thả '' từng phiếu và '' thả'' cho mỗi bạn đối diện một lần. Không ''thả'' nhiều phiếu một lúc, không ''thả'' nhiều lần phiếu cho một bạn. + Người nhận được phiếu phải tự nghĩ và đọc thuộc khổ thơ (câu thơ), không được hỏi bạn khác trong nhóm - các bạn trong nhóm không được nhắc bạn. + Sau khi nhận phiếu, quá 10 giây (Trọng tài đếm từ 1 đến 10) mà người nhận không đọc được thì sẽ không được tính thành tích; nếu đọc đủ câu nhưng có hai lần hoặc đọc ngắc ngứ thì sẽ ghi một lỗi. - Kết thúc cuộc chơi, trọng tài nhận xét và công bố kết quả: nhóm đạt nhiều thành tích hơn là nhóm thắng cuộc. 3.3.4. Trò chơi: “Hái hoa” a. Mục đích: - Ôn luyện các bài tập đọc ngắn (hoặc bài HTL) trong các tiết ôn tập giữa học kì, cuối học kì theo chương trình qui định. - Rèn kĩ năng đọc đúng và rành mạch bài tập đã học (hoặc đọc thuộc và bước đầu đọc diễn cảm đoạn văn, bài thơ có yêu cầu HTL) có trong SGK Tiếng Việt 3. b. Chuẩn bị: - SGK Tiếng Việt 3 ( để học sinh ôn về bài tập đọc đã học). - Một cành cây có gắn các bông hoa bằng giấy. Mỗi bông hoa giấy đính một phiếu ghi tên bài tập đọc ngắn ( bài tập đọc dạy trong một tiết) đã học, nếu ôn tập về tập đọc, một phiếu ghi tên bài HTL( ghi rõ đoạn cần đọc thuộc, nếu có) để ôn tập về HTL. ( Tham khảo phần chuẩn bị phiếu ở dưới) - Giáo viên hoặc cử 1 HS làm người điều khiển cuộc chơi, chọn một nhóm giám khảo (3 đến 4 HS đại diện cho các tổ) nhận xét, đánh giá kết quả thi đọc ( HTL) của từng HS . 12
- Mỗi giám khảo có một bộ bìa gồm 3 tấm ( kích thước mỗi tấm bìa khoảng 20 cm x 10 cm, tương tự ở trò chơi 1- Thi đọc theo nhóm), mỗi tấm bìa ghi một loại ( A, B, C) dùng để đánh giá kết quả đọc của từng HS. C. Cách chơi: 1. Từng HS xung phong lên '' hái hoa'' xem phiếu và mở SGK đúng bài Tập đọc (Bài ghi trên phiếu). 2. HS theo dõi bạn đọc đánh giá dựa theo tiêu chuẩn sau để nhận xét: Tập đọc Học thuộc lòng - Đọc đúng: không phát âm sai đọc - Đọc thuộc lòng toàn bài hoặc đoạn to, rõ ràng, rành mạch. HTL) - Đọc hay: nhấn giọng đúng từ ngữ - Đọc to rõ ràng, rành mạch, ngắt nghỉ gợi tả, gợi cảm, ngắt nghỉ đúng. đúng nhịp thơ, dòng thơ. 3. Tùy thời gian cho phép, có thể mời 7 đến 8 HS tham gia '' hái hoa''. Kết quả xếp loại của từng HS được ghi lên bảng, sau đó người điều khiển cuộc chơi cùng cả lớp nhận xét, bình chọn HS đọc hay nhất để biểu dương (hoặc xếp loại chung theo kết quả : Nhất, Nhì, Ba,..). 3.3.5. Hình thức đọc phân vai: Áp dụng khi dạy truyện kể, trước khi đọc phân vai, GV cho HS thảo luận theo nhóm về giọng đọc của từng nhân vật. - Tiến hành: Gọi từng nhóm đọc (học sinh cầm sách đọc) sau đó hướng dẫn học sinh nhận xét về giọng đọc của từng vai và vỗ tay tuyên dương. - Áp dụng cho cuối tiết học thuộc lòng. HS thực hiện theo nhóm 4- 5 học sinh ( 2 nhóm một lần) - Tiến hành: Bạn thứ nhất (nhóm 1) đọc khoảng 2- 3 câu tùy theo khả năng thuộc sau đó '' truyền điện'' vào một bạn bất kì. 3.4. Xây dựng tốt mối quan hệ giao tiếp trong tiết Tập đọc: 1. Giáo viên - học sinh: Tăng cường mối quan hệ thân thiện với HS. Thể hiện mối quan hệ này qua những việc làm của giáo viên: - Nêu tình huống: Thầy đọc như vậy - cách ngắt như thế nào? - Làm mẫu: Đọc mẫu. - Giải thích, uốn nắn, trao đổi. 2. Học sinh - học sinh: - Trao đổi - thảo luận cách đọc. 13

