Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 5

doc 18 trang Chăm Nguyễn 01/02/2026 220
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_viet_dung.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Lớp 5

  1. Bộ, gần gũi với học sinh với người dân, tôi đã có nhiều hiểu biết về văn hóa, về ngôn ngữ và thói quen của người dân nơi đây. Vì vậy, tôi hiểu rằng dạy chính tả cho học sinh tiểu học ở Nam Bộ mà dựa vào cách phát âm chuẩn xác để viết đúng chính tả là điều không thể. Bởi vì học sinh ở đây được sinh ra và lớn lên trong bầu không khí của phương ngữ Nam Bộ, giọng nói, cách phát âm của các em đã trở thành thói quen. Mặt khác, mỗi một vùng miền của Tổ quốc đều có một chuẩn phát âm riêng biệt tồn tại hàng bao thế kỉ và đã trở thành đặc trưng ngôn ngữ của vùng miền ấy. Cách phát âm theo phương ngữ cụ thể không được xem là lỗi phát âm. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Tiểu học là phải giúp các em hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả, làm sao để các em có thể phát âm theo phương ngữ nhưng vẫn viết đúng chính tả. Với cách làm này, chúng ta mới có thể vừa giúp học sinh học tập tốt phân môn chính tả vừa giúp các em bảo tồn được tiếng nói của địa phương vốn đã được gìn giữ và coi trọng từ bao đời nay. Là một giáo viên dạy lớp 5 nhiều năm liền, tôi luôn chú trọng và quan tâm rèn cho học sinh viết đúng chính tả. Thấy các em viết sai lỗi chính tả nhiều, tôi rất buồn lòng. Đặc biệt là khi chấm bài tập làm văn của các em thì thật là khổ sở. Các em viết thì không dài nhưng để đọc và sửa lỗi cho các em thì thật là vất vả. Chất lượng học tập, tỉ lệ các em lên lớp cao hay thấp phần lớn là dựa vào việc viết đúng chính tả. Có viết đúng chính tả thì các em mới học tốt môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Việc dạy học sinh viết đúng chính tả là một việc làm vô cùng khó khăn, nó đòi hỏi sự kết hợp vận dụng linh hoạt và sáng tạo nhiều yếu tố, nhiều biện pháp, phương pháp và hình thức dạy học. Nhưng việc gì càng khó khăn thì nó lại càng quan trọng. Mà đã là quan trọng thì chúng ta lại càng phải làm và quyết tâm làm bằng được. Cũng vì những lí do trên mà tôi đã chọn đề tài Sáng kiến là: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 5. Mong rằng những biện pháp mà tôi đã làm và đã thành công sẽ được nhiều thầy cô biết đến và cùng chia sẻ. II/ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Muốn đề ra biện pháp thực hiện, trước hết ta phải tìm ra các nguyên nhân dẫn đến việc học sinh viết sai lỗi chính tả. Theo tôi, học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều là do 5 nguyên nhân chính sau đây: 1. Học sinh chưa có ý thức viết đúng chính tả. Cụ thể là những tiếng, từ có sẵn trong SGK hoặc giáo viên đã ghi trên bảng và những từ thường xuyên sử dụng nhưng vẫn viết sai. Có những giáo viên đã sửa nhiều lần nhưng nhiều em vẫn viết sai. 2. Học sinh đọc còn yếu, nhiều tiếng phải dừng lại đánh vần, tốc độ đọc chỉ đạt 70 đến 80 tiếng / phút. Vì thế các em không nhớ chữ ghi âm, tiếng và từ, dẫn đến việc thông hiểu nội dung còn hạn chế. 3
  2. 3. Học sinh không nhớ các qui tắc chính tả đã học nên viết tùy tiện, nghĩ sao viết vậy, có em còn sáng tạo thêm các vần mới lạ như: unh, ing, âch, 4. Học sinh không nắm nghĩa của từ, vốn từ ngữ tích lũy được còn rất hạn chế nên hay viết lẫn lộn các âm đầu, âm cuối, vần và thanh. 5. Hiện nay, với sự phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa và xã hội; việc nghe, nói, đọc xem của học sinh thì rất nhiều nhưng viết thì ngày càng giảm. Học sinh chịu sự tác động của kênh hình trong học tập nhiều hơn kênh chữ và việc lạm dụng các vở bài tập, các câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra, trong thi cử làm cho học sinh rất ít có cơ hội được viết, được rèn chính tả. Căn cứ vào các nguyên nhân trên, tôi đề ra các biện pháp thực hiện sau đây: * Phát huy tính có ý thức trong dạy chính tả. * Rèn kĩ năng đọc đi đôi với luyện viết chính tả. * Vận dụng qui tắc dạy chính tả theo khu vực. * Hướng dẫn học sinh tự phát hiện lỗi và sửa lỗi. * Tuyên dương khen thưởng kịp thời những học sinh có nhiều tiến bộ trong học tập. 1) Phát huy tính có ý thức trong học chính tả Trong năm học 2022 - 2023, ở tuần đầu nhận lớp, ngoài việc củng cố nền nếp lớp học, sinh hoạt nội qui của trường, của lớp; tôi cho các em chép chính tả bài “ Quyết định độc đáo “. Quyết định độc đáo Cách đây không lâu, lãnh đạo Hội đồng thành phố Nót- tinh- ghêm ở nước Anh đã quyết định phạt tiền các công chức nói hoặc viết tiếng Anh không đúng chuẩn. Theo quyết định này, mỗi lần mắc lỗi, công chức bị phạt 1 bảng. Ông Chủ tịch Hội đồng thành phố tuyên bố sẽ không kí bất cứ văn bản nào có lỗi ngữ pháp và chính tả. Đây là một biện pháp mạnh nhằm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Anh. Theo báo Công an nhân dân Sau khi học sinh viết xong, tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung đoạn văn bằng các câu hỏi sau đây: +Vì sao những công chức nước Anh lại bị phạt tiền? + Mỗi lần mắc lỗi, công chức bị phạt bao nhiêu ? + Để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Anh, Ông Chủ tịch hội đồng thành phố đã dùng biện pháp gì? + Vì sao viết sai lỗi chính tả lại bị phạt như vậy? 4
  3. + Muốn viết đúng chính tả thì các em phải làm sao? Từ việc tìm hiểu bài văn này, tôi làm cho các em hiểu rằng ở đất nước nào cũng vậy, việc viết sai lỗi chính tả sẽ làm cho người đọc, người nghe không hiểu đúng những gì mình đã viết, thậm chí còn làm cho người đọc cảm giác khó chịu và xem thường người viết. Có viết đúng chính tả thì mới học tốt môn Tiếng việt và mới học tốt các môn học khác. Nếu như các em viết sai lỗi chính tả nhiều thì sẽ bị điểm kém môn Tiếng Việt. Và cuối năm sẽ bị thi lại, thậm chí sẽ phải ở lại lớp.Việc rèn luyện kĩ năng viết chính tả không phải là một việc làm dễ dàng nhưng chỉ cần các em chú ý khi đọc, khi viết, có ý thức viết đúng chính tả và làm theo hướng dẫn của cô thì nhất định các em sẽ thành công. Sau đó, tôi cho các em xem một số cuốn tập chính tả tiêu biểu (chữ viết đẹp, trình bày sạch sẽ, ít sai lỗi chính tả) của học sinh năm trước để tác động vào ý thức của học sinh. 2) Rèn kĩ năng đọc đi đôi với luyện viết chính tả Như chúng ta đã biết: đọc thông thì mới viết thạo. Học sinh đọc còn chậm và sai nhiều thì không thể viết đúng chính tả.Vì đọc chưa thông nên khi viết chính tả các em thường mắc các lỗi do không nắm vững chính tự và cấu trúc âm tiết Tiếng Việt. Vì vậy, đối với những học sinh này, trước hết tôi phải chú trọng khâu luyện đọc cho các em. Đầu năm học, lớp tôi có 5 em đọc có tiếng, từ còn đánh vần, đọc sai nhiều, đọc còn lặp lại tiếng vừa đọc đó là các em: - Lê Quốc Minh - Nguyễn Hoài Bảo Nam - Nguyễn Thị Thúy Ngân - Trương Hoàng Hải Đăng - Trung Hoài Nhân Hàng ngày trên lớp, tôi chú ý rèn đọc cho các em bằng cách: - Gọi các em đọc bài nhiều lần không chỉ ở phân môn tập đọc mà cả ở các môn học khác, kiên trì sửa lỗi cho từng em. - Tổ chức cho các em đọc bài nhóm đôi trong 15 phút đầu giờ (2 lần/tuần). - Phân công học sinh giỏi đọc bài cùng các em khi luyện đọc trong nhóm. - Giao bài cho các em luyện đọc và viết bài ở nhà; ngày sau, tôi kiểm tra và nhận xét. - Khuyến khích các em học thuộc lòng một đoạn văn hay một vài khổ thơ, rồi nhớ - viết đoạn văn hay khổ thơ đã thuộc. 3) Dạy chính tả theo khu vực 5
  4. Như tôi đã trình bày ở phần đầu, cách phát âm theo phương ngữ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc viết đúng chính tả của học sinh Tiểu học. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh viết sai lỗi chính tả nhiều. Nhưng chúng ta không thể bắt buộc, không thể luyện cho các em đọc đúng chính âm được. Chúng ta chỉ có thể khắc phục lỗi chính tả cho học sinh ở mỗi vùng miền khác nhau bằng cách Dạy chính tả theo khu vực. Nghĩa là, chúng ta phải xác định đươc” trọng điểm chính tả” cần dạy cho học sinh, nội dung về giảng dạy chính tả phải sát hợp với tình hình thức tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở địa phương đó. Hiện nay, SGK Tiếng Việt đã có những bài tập chính tả cho giáo viên lựa chọn hoặc giáo viên có thể tự soạn nội dung bài tập sao cho phù hợp với học sinh thuộc vùng miền mình đang dạy. Đó là điều kiện thuận lợi cho giáo viên, nhưng cũng là những khó khăn đòi hỏi sự sáng tạo, sự đầu tư nhiều cho bài dạy ở mỗi giáo viên. Để dạy chính tả theo khu vực, tôi tiến hành như sau: a)Điều tra, phát hiện và tổng hợp những lỗi chính tả cơ bản của học sinh *Lỗi mà đa số học sinh lớp tôi mắc phải chủ yếu là lỗi do ảnh hưởng của cách phát âm theo phương ngữ. Cụ thể: - Lẫn lộn các phụ âm đầu (v/d/gi; r/g; x/s; tr/ch; ng/ngh). - Lẫn lộn 2 âm chính (o/ô; ă/â). - Lẫn lộn các vần (iu/iêu; in/ inh; ui/ uôi; un/uôn; êu/iêu; in/iên; it/ich). - Lẫn lộn các âm cuối ( n/ng; t/c; i/y; o/u). - Lẫn lộn thanh hỏi, thanh ngã. * Ngoài các lỗi phổ biến trên, một số học sinh lớp tôi còn mắc một số lỗi riêng biệt (lỗi chính tả do không nắm vững chính tự và cấu trúc âm tiết Tiếng Việt). Cụ thể: - Em Nguyễn Thị Bích Nhành thường xuyên lẫn lộn 2 âm m và n. Ví dụ: chăm sóc thì viết thành chăn sóc; - Em Hà Thanh Thảo lẫn lộn thanh sắc và thanh huyền. - Em Trần Tuyết Nghi lại viết âm cuối nh thành ng. Ví dụ: thành công thì viết là thàng công, củng cố viết thành củnh cố, Căn cứ vào kết quả điều tra, tôi tiến hành lập bảng tổng hợp sau đây và phát đến từng học sinh. BẢNG TỔNG HỢP MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ THƯỜNG MẮC PHẢI 6
  5. Ví dụ Các lỗi chính tả Viết đúng Viết sai 1.Lẫn lộn âm đầu - v/d/gi - vẻ vang, gia đình - dẻ dang, da đình - r/g; - gọn gàng, cá rô - rọn ràng, cá gô - x/s; - hoa sen, màu xanh - hoa xen, màu sanh - tr/ch - cây tre, trân trọng - cây che, chân chọng - c/k - con kiến, kêu gọi, - con ciến, cêu gọi 2. Lẫn lộn 2 âm chính - o/ô - sóng biển, cuộc sống - sống biển, cuộc sóng - ă / â - đắp bờ, cái cặp, - đấp bờ, cái cập 3 Lẫn lộn các vần: - iu/ iêu - dịu dàng, kì diệu - diệu dàng, kì dịu - in/ inh - niềm tin, trắng tinh - niềm tinh, trắng tin - in/ iên - quả chín, đàn kiến - quả chính, đàn kín - ui/ uôi - mặt mũi, cuối cùng - mặt muỗi, cúi cùng - êu/ iêu - đều đặn, kêu gọi, - điều đặn, kiêu gọi 4. Lẫn lộn các âm cuối: - n/ng - buôn làng, mong muốn -buông làng, mong muống - t/c - đôi mắt, ăn mặc - đôi mắc, ăn mặt - y/ i - may vá, ngày đêm - mai vá, ngài đêm - u/o - màu xanh, trước sau - mào xanh, trước sao 5. Lẫn lộn thanh hỏi, - vĩ đại/ vỉ thuốc, mãnh liệt/ mảnh - vỉ đại, vĩ thuốc, mảnh liệt, thanh ngã vải, nỗi buồn/ nổi trôi, cái mũi/ mãnh vải,nổi buồn, nỗi trôi, cái mủi lòng, mủi, mũi lòng, 6. Lỗi riêng biệt Ở hàng ngang thứ sáu, em nào mắc lỗi, tôi mới ghi vào. Mặt sau của bảng tổng hợp này, tôi lập bảng theo dõi việc sửa lỗi của học sinh trong nửa học kì I (một năm 4 lần). 7
  6. BẢNG THEO DÕI VIỆC SỬA LỖI Số Tên bài chính tả Tổng Các lỗi cụ thể Sửa lỗi TT số lỗi .. .. 1 Việt Nam thân yêu .. .. . .. 2 Lương Ngọc Quyến . . .. 3 Thư gửi các học sinh . . . . .. 4 Anh bộ đội Cụ Hồ gốc . . ... Bỉ . . . . 5 Một chuyên gia máy . . xúc . .. .. .. 6 Ê- mi- li, con . .. .. 7 Dòng kinh quê hương . . . . .. .. .. 8 Kì diệu rừng xanh . . . . 9 Tiếng đàn ba-la-lai-ca . .. .. trên sông Đà .. .. 8
  7. Sau khi trả bài chính tả, tôi hướng dẫn các em cách ghi các lỗi và sửa lại cho đúng (ghi từ chứa tiếng sai để hiểu nghĩa rồi viết lại đúng chính tả), sửa trong vở chính tả, sau đó ghi vào bảng tổng hợp. Mấy tuần đầu, những em viết sai nhiều, tôi nhắc nhở và khuyến khích các em về nhà chép lại bài cho đẹp và đúng chính tả. Hết nửa kì, tôi thu bảng tổng hợp và vở chính tả của học sinh để kiểm tra - đánh giá, chọn ra 5 học sinh tiến bộ nhất để khen thưởng. Nhờ có bảng tổng hợp này, các em có ý thức hơn trong việc rèn luyện chữ viết, thi đua viết đúng chính tả. b) Kết hợp ghi nhớ hình thức chữ viết của từ và nghĩa của từ Việc nắm nghĩa từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp học sinh viết đúng chính tả. Đó là đặc trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt, nó sẽ giúp học sinh giải quyết được những lỗi chính tả do ảnh hưởng cách phát âm theo phương ngữ. Vì vậy có thể nói rằng chính tả Tiếng Việt còn gọi là chính tả ngữ nghĩa. Học sinh lớp tôi viết sai chính tả, một phần lớn là do các em không nắm được nghĩa của từ. Vì thế, khi dạy chính tả hoặc dạy các phân môn học khác của môn Tiếng Việt, tôi luôn chú ý giúp các em: - Hiểu nghĩa của từ, phân biệt từ này với từ khác để các em ghi nhớ cách viết của mỗi từ. Ví dụ: Nếu tôi đọc một từ có hình thức ngữ âm là “ dành “ thì học sinh sẽ lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu tôi đặt nó vào một ngữ cảnh hay gắn cho nó một nghĩa xác định như : Em để dành tiền mua sách truyện Thiếu nhi./ Trong trận đấu bóng đá ngày mai, các em phải giành lấy chiến thắng./ Các em đọc rõ ràng, rành mạch để cả lớp cùng nghe. Như vậy học sinh sẽ dễ dàng viết đúng chính tả. - Khi đọc chính tả cho học sinh viết, tôi đọc từng cụm từ ( diễn đạt một ý nhỏ); tôi luôn nhắc nhở các em chú ý lắng nghe , hiểu nghĩa từ để viết đúng chính tả - Khi học sinh sửa lỗi trong bài chính tả, tôi yêu cầu các em ghi từ chứa tiếng sai rồi sửa lại cho đúng; không nên chỉ ghi một tiếng sai rồi sửa lại, sửa như vậy các em sẽ không ghi nhớ các từ đã viết sai. - Trong các tiết Tập đọc, tôi tập cho các em tìm cách ngắt giọng ở những câu dài, ngắt nghỉ đúng các dấu câu, giải nghĩa các từ khó. - Khi học sinh làm bài tập chính tả, tôi chọn các bài theo phương ngữ Nam Bộ, tập trung vào các “ trọng điểm chính tả” để khắc phục các lỗi chính tả do cách phát âm của địa phương. Ngoài việc hướng dẫn các học sinh làm các bài tập trong SGK, tôi còn thay đổi hình thức và nội dung bài tập bằng cách vận dụng nguyên tắc phối hợp giữa phương pháp tích cực với phương pháp tiêu cực. 9
  8. Nghĩa là tôi hướng dẫn học sinh làm các bài tập chính tả theo hướng loại bỏ cái sai, xác định cái đúng. Theo cách này, tôi đã điều chỉnh và thay đổi nội dung và hình thức một số bài tập trong SGK nhưng vẫn bám sát yêu cầu cần đạt của bài học. Ví dụ: Bài tập chính tả tuần 16 yêu cầu tìm các từ ngữ chứa các tiếng vàng- dàng; vào-dào, vỗ- dỗ. Thay vì cho các em tìm từ chứa các tiếng đã cho, tôi cho sẵn các từ và yêu cầu các em tìm các từ viết sai chính tả, rồi sửa lại cho đúng. Chẳng hạn: Tìm các từ viết sai chính tả trong bảng dưới đây vàng - dàng vào - dào vỗ - dỗ - màu vàng - ra dào - dỗ tay - dàng bạc - vào học - vỗ về - dội dàng - dồi dào - sóng dỗ - dễ dàng - dạt dào - dỗ dành - dềnh dàng - dào lớp - dạy dỗ Đối với những bài tập dạng này, tôi thường tổ chức cho các em thi đua ‘ Tìm đúng, tìm nhanh “ trong nhóm. Trong cùng một thời gian, nhóm nào tìm được nhiều và đúng là thắng cuộc. c) Ôn tập giúp học sinh nắm vững các qui tắc chính tả, cung cấp cho học sinh một số mẹo luật chính tả đơn giản, dễ nhớ Ở những lớp dưới, các em đã được cung cấp một số qui tắc chính tả. Lên lớp 5, các em vẫn thường xuyên được ôn lại. Nhưng không phải em nào cũng nhớ và vận dụng để viết đúng chính tả. Việc ghi nhớ và vận đúng các qui tắc chính tả không phải là điều dễ dàng. Nếu cứ nói, cứ giảng mãi thì rồi các em cũng vẫn cứ quên. Để giúp các em nắm vững các qui tắc chính tả đã học một cách khái quát có hệ thống, tôi đã chọn lọc, tổng hợp các qui tắc và một số “mẹo” chính tả ở mức độ đơn giản để các em dễ nhớ, dễ thuộc, thậm chí khi nào quên các em có thể giở ra xem để viết đúng chính tả. Qui tắc và mẹo luật chính tả này chỉ nằm trong 3 mặt của một tờ giấy A4 nên học sinh rất dễ học, dễ nhớ và nhanh thuộc. MỘT SỐ QUI TẮC CHÍNH TẢ Số Các qui tắc chính tả Cách viết Ví dụ TT 1 Qui tắc ghi phụ âm đầu 10
  9. a) Qui tắc viết k/ c/ q -Trước i, e, ê, được viết là k, - kể chuyện, kiên cường, b) Qui tắc viết g / gh Trước âm đệm u được viết là q. - quyển sách, quyên góp và ng / ngh - Trước i, e, ê được viết là gh hay - ghi nhớ, ghe xuồng, nghiên ngh. Viết là g hay ng trong các cứu, suy nghĩ trường hợp còn lại. 2 Qui tắc ghi âm i , y - Viết i sau phụ âm đầu - niềm tin, tiên tiến - Viết y sau âm đệm - truyện, chuyển, tuyết - Khi nguyên âm này đứng một - âm ỉ, ầm ì, ì ạch, lợn ỉ, ỉ ôi, í mình thì viết là i đối với từ thuần ới, Việt ; viết là y đối với từ gốc Hán. y tá, y hệt, y phục, y tế, lương y, y dược, 3 Qui tắc ghi dấu - Có âm cuối thì đặt dấu thanh ở - mượn , trườn, cuồn cuộn, thanh các tiếng có chữ cái thứ hai của nguyên âm đôi. chuối, muỗi nguyên âm đôi - Không có âm cuối thì đặt dấu thanh ở chữ cái đầu của nguyên âm - múa, mía, lửa, cứa, đĩa, đôi. chĩa, 4 Qui tắc viết tên riêng Việt Nam a) Tên người và tên -Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của - Võ Thị Sáu, Trần Quốc địa danh Việt nam mỗi tiếng tạo thành tên riêng đó. Toản, Nông Văn Dền, b) Tên các cơ quan , - Viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ tổ chức, danh phận tạo thành tên riêng đó. - Trường Tiểu học Tân Quý, hiệu, Nhà Xuất bản Giáo dục,.. 5 Qui tắc viết tên riêng nước ngoài: a) Trường hợp - Viết hoa theo qui tắc viết hoa tên - Mao Trạch Đông, Thái Lan, phiên âm qua âm người, tên địa lí Việt Nam. Hàn Quốc, Hán Việt. b) Trường hợp - Viết hoa chữ cái đầu mỗi bộ phận - Lu-i Pa- xtơ, Pi- e Đơ -gây- không phiên âm qua tạo thành tên riêng và có gạch nối tê, 11
  10. âm Hán Việt. giữa các tiếng. MỘT SỐ MẸO CHÍNH TẢ DỄ NHỚ 1. Mẹo tương ứng thanh điệu trong từ láy: - Trong các từ láy đôi, các dấu thanh bao giờ cũng cùng một nhóm huyền- ngã- nặng hoặc không- sắc- hỏi. Học sinh dễ dàng nhớ mẹo này qua câu lục bát sau: Chị Huyền mang nặng, ngã đau Hỏi không sắc thuốc lấy đâu mà lành. 2. Mẹo “ Mình nên nhớ viết là dấu ngã” : - với m (mình) : mẫn cảm, mãnh liệt, mạnh mẽ, mĩ thuật, mĩ mãn, mĩ lệ, con muỗi, - Với n (nên) : nỗ lực, phụ nữ, noãn bào, nỗi niềm, - Với nh (nhớ) : nhẫn nại, nhiễm bệnh, truyền nhiễm, tham nhũng, thổ nhưỡng,.. - Với v (viết) : vĩ đại, vĩ nhân, vĩ tuyến, viễn thị, viễn cảnh, vỗ tay, cổ vũ, vũ trụ, - Với d (dấu) : dưỡng sinh, nuôi dưỡng, dũng cảm, dã thú, dã man, diễm phúc, - Với ng (ngã) : té ngã, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ, ngôn ngữ, ngữ nghĩa, đội ngũ, 3. Mẹo nhóm nghĩa tr- ch: - Mẹo trường từ vựng: Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết là ch chứ không viết là tr: cha, chú, chị, cháu, chắt, chồng, ; Những từ chỉ đồ vật trong gia đình thì viết là ch chứ không viết là tr: chai, chum, chạn, chén, chổi, chão, chõng, chiếu,..( ngoại trừ cái tráp, đồ vật này giờ ít dùng). - Mẹo kết hợp âm đệm: Tr không bao giờ đi với các vần -oa, -oă, -oe, -uê. Chỉ có Ch là có khả năng đi với các vần này.VD: choáng váng, loắt choắt, chạch chọe, chuệch choạng, . - Mẹo láy âm: Ch láy âm với các phụ âm đững trước hoặc đứng sau, Tr không láy âm với các phụ âm khác, trừ 4 ngoại lệ, đều láy với L: Trọc lóc, trụi lủi, trót lọt, trẹt lét. VD: chơi bời, cheo leo, chàng ràng, chờn vờn, chềnh ềnh, . - Mẹo thanh đệm trong từ Hán-Việt: Những từ Hán-Việt mang dấu nặng và dấu huyền đều chỉ đi với Tr chứ không đi với Ch. VD: trịnh trọng, trạm xá, trục lợi, từ trường, lập trường, trừng trị, . - Mẹo đồng nghĩa “tranh-giành”: Trong tiếng Việt có nhiều cặp từ đồng nghĩa mà một được viết với Tr, một được viết với Gi, VD: tranh-giành, trai-giai, trở mặt-giở mặt, trồng-giồng, nhà tranh-nhà gianh, . 4. Mẹo nhóm nghĩa s- x: 12
  11. - Tên thức ăn và đồ dùng nấu ăn viết là x: xôi, xa lát, xúc xích, xì dầu, xoong, - Các động từ, tính từ thường viết là x: xem, xách, xẻ, xay, xát, xào, xoa, xúc, xanh, - Hầu hết các danh từ còn lại đều viết là s: + Chỉ người: sứ giả, đại sứ, sư sãi, giáo sư, gia sư, + Chỉ cây cối: sen, sung, sấu, sắn, si, sim, ... + Chỉ đồ vật: sọt, sợi dây, sợi vải, + Chỉ sự vật, hiện tượng: sao, sương, sông, suối, sấm, sét, Có một số trường hợp ngoại lệ là danh từ nhưng lại viết là x: xe, xuồng, xoan, xoài, túi xách, xương, xô, xẻng, xưởng, xã, trạm xá, bà xơ, mùa xuân. Học sinh có thể ghi nhớ các trường hợp ngoại lệ trên bằng cách học thuộc câu văn sau: Mùa xuân, bà xơ đi xuồng gỗ xoan, mang một xe xoài đến xã, đổi xẻng và xô ở xưởng đem về cho trạm xá chữa xương. - Mẹo kết hợp âm đệm: S không kết hợp với a vần oa, oă, oe, uê (ngoa ngoăt kheo quê), do vậy chỉ có thể viết X với 4 vần này. VD xoa tay, xoắn lại, xèo tay, xuề xòa, . Ngoại lệ: soát trong rà soát, kiểm soát , soạn trong soạn bài, tòa soạn , soán trong soán đoạt và những trường hợp do điệp điệp âm đầu trong từ láy: suýt soát, sột soạt, sờ soạng. - Mẹo láy âm: Chỉ có X mới láy âm với các phụ âm đầu khác, còn S hầu không có khả năng này. VD: bờm xờm, xô bồ, búa xua, lòa xòa, xấc lấc, xích míc, xo ro, Ngoài lệ: cục súc, sáng láng, loạt soạt. 5. Mẹo viết d, r, gi: - Mẹo đồng nghĩa: Ở một số trường hợp, R đồng nghĩa với L và S do quan hệ về nguồn gốc. Đây là cơ sở để viết đúng R trong những trường hợp như vậy. + R đồng nghĩa cùng gốc với L: lấp-rấp; lóc-róc; lỗ-rỗ; ngày mười lăm-ngày rằm; ; + R đồng nghĩa cùng gốc với S: siết-riết; sắp-rắp; sáng-rạng; sẻo-rẻo; + Tương ứng R/D: ríu mắt - díu mắt; rờn rợn - dờn dợn; rõi theo - dõi theo; . + Tương ứng R/GI: rập khuôn - giập khuôn; chế riễu - chế giieeux; ràn rụa - giàn giụa; . - Mẹo về âm đệm: R và GI không kết hợp với âm đệm tức là không đứng trước các bắt đầu bằng oa, oă, uâ, oe, uê, uy. VD: dọa nạt, hậu duệ, duy trì, vô duyên, . Ngoại lệ: roa trong cu-roa - một từ phiên âm tiếng Pháp. - Mẹo láy âm “co ro - bịn rịn”: chỉ có R láy âm với B và C (K), còn D và GI thì không. VD: bịn rịn, bứt rứt, bã rã, bêu rêu, cập rập, cọm rọm, cà rà, kèo rèo, . 13