Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Lớp 4 thông qua ứng dụng CNTT
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Lớp 4 thông qua ứng dụng CNTT", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_cho_h.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Lớp 4 thông qua ứng dụng CNTT
- 2 2. Mục đích nghiên cứu Lựa chọn đề tài một số biện pháp rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 4 thông qua việc ứng dụng CNTT tôi mong muốn: - Để cùng chia sẻ kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học nhằm đáp ứng mục tiêu của môn học cũng như mục tiêu chung giáo dục Tiểu học. - Tìm ra những giải pháp hiệu quả, hợp lí hơn trong việc dạy học phân môn Tiếng Việt ở tiểu học, đáp ứng yêu cầu của giáo dục- đào tạo hiện nay. Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh. - Rèn luyện, thay đổi bản thân mình cho phù hợp với thời đại; phát triển tinh thần ham học hỏi, sáng tạo. - Nhận được những lời góp ý, nhận xét từ các cán bộ quản lí, từ các bạn đồng nghiệp để tôi phát huy những mặt mạnh; điều chỉnh, khắc phục những thiếu sót cho hoàn thiện hơn. 3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh khối lớp 4 4. Phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 4A3 - trường Tiểu học Tân Triều 5. Thời gian nghiên cứu Từ tháng 9 năm học 2022 - 2023 đến nay. 6. Phương pháp nghiên cứu: - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu chương trình, sách giáo Tiếng Việt 4; nghiên cứu các tạp chí chuyên ngành, các tài liệu tham khảo về dạy học Tiếng Việt. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. + Phương pháp quan sát sư phạm. + Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi. + Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của giáo viên. - Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm: Qua nghiên cứu lí luận, thực trạng và đề ra một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh qua việc ứng dụng CNTT để rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4. Đề tài tiến hành thử nghiệm và đưa ra kết luận về hiệu quả của các giải pháp qua quá trình dạy học và giáo dục ở trường Tiểu học Tân Triều.
- 3 PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng. Mỗi môn học ở Tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Bởi vậy, nâng cao năng lực đọc cho học sinh nhất là đọc đúng, đọc diễn cảm là hết sức cần thiết đối với giáo viên ở bậc Tiểu học. Dạy tốt phân môn Tập đọc còn tạo cho học sinh một nền tảng vững chắc để học tốt môn Tiếng Việt và tất cả các phân môn khác. Có đọc đúng, đọc trôi chảy mới cảm thụ được bài văn và đọc đúng sẽ hiểu tất cả các văn bản khác. Nhưng năng lực này không phải tự nhiên mà có. Năng lực này phải từng bước hình thành và trường Tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch đầu tiên. Tập đọc là một phân môn thực hành, nhiệm vụ quan trọng nhất là hình thành những năng lực đọc cho học sinh từ 4 yêu cầu về chất lượng “đọc”: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức và đọc diễn cảm. Cụ thể: + Đọc đúng, đọc nhanh là đọc lưu loát, trôi chảy. + Đọc có ý thức là đọc thông, hiểu được nội dung. + Đọc diễn cảm là ngắt, nghỉ hợp lí, giọng đọc phù hợp với từng nội dung, câu đọc, bài đọc, thể hiện nội tâm trong từng lời nói nhân vật hay nội tâm toàn bộ bài đọc. Các kĩ năng đọc tác động tích cực qua lại lẫn nhau vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào. Phân môn tập đọc còn hình thành ở các em phương pháp và thói quen làm việc với văn bản, giúp các em thấy được lợi ích của việc đọc trong học tập và cuộc sống. Ngoài ra, phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ: + Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. + Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh. + Giáo dục tư tưởng, đạo đức, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh. Bên cạnh đó, phân môn Tập đọc lớp 4 cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên, đất nước, con người, cung cấp vốn từ, tăng cường khả năng diễn đạt, trang bị một số hiểu biết ban đầu về các tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật ) đồng thời giúp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh. Tuy nhiên, bài tập đọc ở lớp 4 có số lượng từ nhiều hơn, việc đọc bắt đầu chú ý đến yêu cầu biểu cảm, câu hỏi tìm hiểu bài chú trọng vào khai thác hàm ý và nghệ thuật biểu hiện cũng nhiều hơn. 2. Cơ sở thực tiễn Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, tôi thiết nghĩ trong các giờ dạy của mỗi bộ môn đòi hỏi có được cách dạy và học phù hợp sẽ đạt hiệu quả cao và phân môn tập đọc cũng không nằm ngoài điều đó. Trước hết giáo viên phải tạo
- 4 điều kiện cho các em được rèn luyện kĩ năng cần thiết theo đặc trưng bộ môn: nghe, nói, đọc, viết. Kích thích khả năng ứng xử ngôn ngữ giao tiếp của các em, ngoài ra còn rèn luyện cho các em tư duy linh hoạt và tác phong nhanh nhẹn, tự tin, giáo dục cho các em tư tưởng lành mạnh, tình cảm tốt đẹp, phát huy tính tích cực của học sinh qua việc ứng dụng CNTT để rèn kĩ năng đọc, tạo không khí học tập vui tươi, sôi nổi và sinh động cho các em, để các em có nhiều giờ học Tập đọc tốt hơn. Muốn có giờ học tập đọc tốt, giáo viên cần tạo cho các em không khí ham mê học tập các em có phương pháp học tập đúng. Khi đó, các em sẽ phát huy được năng lực đọc và thói quen làm việc với văn bản. Ngoài ra, còn giáo dục các em lòng say mê đọc sách báo, giáo dục tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ, tư tưởng đạo đức và làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, kiến thức về đời sống và kiến thức văn học cho các em. Dạy tốt giờ Tập đọc qua việc ứng dụng CNTT để rèn kĩ năng đọc cho học sinh không chỉ giúp các em đọc đúng, đọc hay mà còn giúp các em ghi nhớ một số bài văn, bài thơ theo yêu cầu của chương trình, giúp cho các em góp phần tích luỹ thêm vốn từ ngữ, vốn hiểu biết về thiên nhiên xã hội. Các em biết cảm nhận được cái hay, cái đẹp của mỗi tác phẩm. 3. Thực trạng tổ chức dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học Tân Triều 3.1 Qua nghiên cứu chương trình: Chương trình Tập đọc lớp 4 gồm 35 tuần, trong đó mỗi tuần gồm hai tiết tập đọc, với yêu cầu học sinh biết cách đọc các loại văn bản hành chính, khoa học, văn học phù hợp với thể loại và nội dung văn bản, bước đầu làm quen với văn bản kịch, thể hiện được tình cảm, thái độ của tác giả, giọng điệu của nhân vật Vì vậy việc làm thế nào để bồi dưỡng, xây dựng phương pháp, để các em có hứng thú học tập, tích cực chủ động và có kĩ năng đọc tốt là việc làm hết sức quan trọng. Quá trình xây dựng, rèn kĩ năng đọc cho các em vốn từ vựng phong phú và đa dạng. 3.2 Về phương tiện, đồ dùng. Tập đọc là môn đòi hỏi nhiều đến kĩ năng thực hành. Để tạo điều kiện cho học sinh thực hành được tốt, các em phải được đọc nhiều, được quan sát qua tranh, ảnh, câu hay đoạn văn bản được hướng dẫn trực tiếp qua các kí hiệu...và có sự hỗ trợ về đồ dụng trực quan đẹp, hình ảnh rõ ràng sẽ phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo và khơi dậy sự hứng thú của các em. Trong thực tế tôi thấy: - Nguồn sách của các em còn quá ít. - Tranh ảnh dùng cho các bài học quá ít ỏi, chủ yếu các em được rèn luyện bằng bài đọc của sách giáo khoa... - Các câu văn dài hay đoạn văn cần luyện đọc hầu hết các em chỉ được hướng dẫn trực tiếp trên sách giáo khoa là chính nên hiệu quả của việc đọc chưa cao.
- 5 3.3 Qua thực tế giảng dạy và dự giờ của giáo viên. Bên cạnh đó, qua dự giờ của các bạn đồng nghiệp và thực tế giảng dạy của bản thân, tôi thấy: trong phương pháp dạy Tập đọc giáo viên cũng mắc những tồn tại phổ biến là dạy bằng phương pháp truyền thống, coi nhẹ thực hành, coi nặng về giảng giải, chưa coi trọng việc phát triển năng lực, trí tuệ của học sinh. Coi nhẹ kĩ thuật đọc của học sinh và khả năng đọc hiểu. Chẳng hạn như: Giọng đọc của từng bài, từng đoạn, cách chữa lỗi phát âm cho học sinh, cách phối hợp giữa đọc thành tiếng với đọc hiểu trong một bài Tập đọc. Giáo viên chủ yếu dùng SGK để giảng dạy mà không có phương tiện hỗ trợ nên dễ gây nhàm chán, tẻ nhạt với học sinh. Hoặc kéo dài về thời gian nên tình trạng “cháy giáo án” thường xuyên xảy ra. Hầu hết giáo viên chỉ chú trọng dạy đúng và đủ quy trình tiết học, đủ các bước lên lớp, song chưa chú trọng việc có phương pháp dạy Tập đọc sao cho tiết học hay, đạt hiệu quả cao hơn Năm học 2022-2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 4A3. Trong quá trình dạy học phân môn Tập đọc, tôi thấy có thực trạng: + Một số học sinh đọc chưa rõ ràng, rành mạch, chậm, đọc ngắc ngứ dừng lại ở những tiếng khó đánh vần, đọc nhỏ và chưa tự tin. + Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi các em còn nhỏ, đang ở độ tuổi mải chơi thích tìm hiểu những điều mới lạ nhưng sự rèn luyện về tư duy ngôn ngữ chưa cao, chưa có sự kiên trì học tập. Quá trình nhận thức thường gắn với những hình ảnh, hoạt động cụ thể, nên việc bắt các em chú ý vào bài học chỉ bằng sách giáo khoa sẽ gây sự nhàm chán không muốn học. Từ thực tế trên, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng phân môn Tập đọc của học sinh lớp 4A3: BẢNG KHẢO SÁT Đọc chưa rõ ràng, Đọc hay, diễn Tổng số học sinh rành mạch, ấp úng, Đọc to, rõ, lưu loát cảm, thể hiện ngại thể hiện cảm xúc 36 em 20 = 56 % 12 = 33% 4 = 11% Xuất phát từ tình hình thực tế học sinh và yêu cầu về giáo dục toàn diện, chuẩn bị tiền đề cơ bản để học sinh tiếp tục tham gia học các lớp trên. Bản thân tôi đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra các biện pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy – học phân môn Tập đọc. Vì thế tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4 thông qua ứng dụng CNTT
- 6 4. Các biện pháp rèn kĩ năng đọc qua ứng dụng CNTT Năng lực đọc được tạo nên từ những kĩ năng bộ phận, cũng là những yêu cầu về chất lượng của đọc đúng là: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Những yêu cầu được hình thành dưới các hình thức: Đọc thành tiếng và đọc thầm, đọc hiểu. Trong đề tài này với khuôn khổ hạn hẹp, tôi chỉ xin phép được trình bày những biện pháp để rèn kĩ năng đọc cho học sinh qua ứng dụng CNTT, chủ yếu là kĩ năng đọc thành tiếng và phần đọc hiểu. Những phần khác có liên quan đến kĩ năng đọc như kĩ năng làm mẫu của giáo viên, vốn sống và năng lực cảm thụ văn học...tôi xin phép được trình bày ở mảng đề tài khác. 4.1 Biện pháp thứ nhất: Rèn kĩ năng đọc thành tiếng qua ứng dụng CNTT 4.1.1. Giáo viên cần nắm vững các vấn đề sau: Cần nắm chắc nội dung kiến thức và các phương pháp dạy học của phân môn tập đọc. Có hiểu biết về trình độ tin học và công nghệ thông tin, biết cách tạo lập các trang trình chiếu qua kênh chữ hay hình ảnh, đoạn phim trên các slide điện tử phù hợp với bài bằng cách kết hợp với các hiệu ứng trong việc ứng dụng các phần mềm hỗ trợ như Power Point, phần mềm Media Play, phần mềm Flats, phần mềm video clip, scan tranh ảnh...chủ yếu được khai thác từ Internet một cách hợp lý để giúp cho bài giảng phong phú. Từ đó biết kết hợp với các phương pháp gây hứng thú để rèn kĩ năng đọc cho học sinh đạt hiệu quả cao. 4.1.2. Biện pháp tổ chức quá trình rèn đọc thành tiếng qua ứng dụng CNTT. 4.1.2.1 Luyện đọc to Để giao tiếp bằng lời có hiệu quả, giáo viên phải cho các em hiểu rằng các em đọc không chỉ đọc cho mình cô giáo mà còn cho tất cả các bạn trong lớp cùng nghe nên cần phải đọc với giọng đủ lớn cho mọi người nghe rõ. Muốn luyện cho học sinh đọc to, giáo viên phải động viên các em tự tin đồng thời luyện cho các em kĩ thuật nâng cao giọng cũng như luyện cho các em cách thở sâu để lấy hơi. Nhưng đọc to không có nghĩa là đọc quá to (đọc như gào lên) hay ngược lại đọc quá nhỏ (đọc lí nhí âm thanh không thoát ra khỏi miệng) sẽ làm cho người nghe theo dõi một cách mệt mỏi khó chịu. Tuỳ theo số lượng người nghe mà người đọc cần điều chỉnh âm lượng cho phù hợp. Muốn vậy giáo viên cần đọc mẫu để học sinh nhận ra độ lớn của giọng như thế nào là vừa phải. Tổ chức cho học sinh luyện đọc to dưới hình thức đọc cả nhóm (đọc trong nhóm, cặp, đọc trước lớp), tăng cường hình thức đọc cả nhóm. Tăng cường hình thức đọc nối tiếp để luyện được nhiều học sinh đọc to. Để hỗ trợ cho việc đọc to được hiệu quả, giáo viên có thể đưa đoạn văn bản cần đọc này vào các slide trình chiếu giúp học sinh chú ý hơn. Tuy nhiên theo từng bài, từng đoạn văn bản để đưa lên slide cho phù hợp tránh sự lạm dụng CNTT không phù hợp.
- 7 4.1.2.2 Luyện đọc đúng. Đọc đúng chính âm Tiếng Việt (âm, từ, khó). Ở lớp 4, yêu cầu này đó được giảm nhẹ hơn so với lớp 1, 2 , 3. Tuy nhiên với lớp đọc yếu, việc luyện đọc đúng chính âm vẫn là yêu cầu cần thiết với các em phát âm chưa chuẩn, dễ lẫn. Chẳng hạn : + Lá trầu đọc thành ná trầu ( lẫn lộn giữa l và n) + Giã gạo đọc thành dã gạo ( lẫn lộn giữa gi và d) + Sáng nay đọc thành xáng lay ( lẫn lộn giữa s và x ; l và n) Những âm này thường có ở bất kì bài tập đọc nào. Nhưng nếu chỉ cho HS phát âm máy móc tức là nhìn SGK thì hiệu quả không cao. Còn nếu ghi lên bảng quá nhiều từ hoặc từ khó viết như các tiếng nước ngoài sẽ mất nhiều thời gian ảnh hưởng đến tiến trình tự và hiệu quả tiết học. Vì vậy tôi đưa các từ khó đọc lên các trang trình chiếu trên phần mềm Power Point qua màn hình rộng sẽ tiết kiệm được thời gian đồng thời thu hút sự chú ý và gây hứng thú trong giờ học. Khi hướng dẫn các em đọc tôi vẫn thường kết hợp hướng dẫn tỉ mỉ cả phần đọc âm trong từ (đối với những học sinh đọc yếu và ngọng âm), tôi làm mẫu trước sau đó cho các em phát âm theo ở tháng đầu tiên của năm học. Ví dụ: + Âm l : Khi phát âm, đầu lưỡi chạm hàm ếch, bật âm + Âm n : Đầu lưỡi thẳng, ép mặt lưỡi lên hàm ếch, bật âm + Âm x : Phát âm nhẹ + Âm s : Là phụ âm đầu lưỡi. Khi phát âm đầu lưỡi cong lên tạo khe hở, bật âm qua răng. + Âm r : Khi phát âm cần uốn lưỡi, đẩy hơi mạnh, tạo độ rung cần thiết . Luyện ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ trong câu, đoạn, bài. Việc ngắt giọng đúng, khi đọc do logic, do ý nghĩa câu, đoạn thông thường khi viết được thể hiện bằng dấu câu và khi đọc được thể hiện bằng ngắt giọng (gọi là ngắt giọng logic). Nhưng ở lớp 4 nhiều bài có câu dài mà không có dấu câu, khi đọc phải tự ngắt giọng logic sao cho phự hợp. Chẳng hạn: Nếu đánh vạch chia ghi vào vị trí ngắt giọng logic ta sẽ ngắt theo ký hiệu (/), ở vị trí dấu phẩy hoặc câu dài tự ngắt khi đọc ngắt giọng ngắn (kí hiệu bằng một vạch chéo); ở vị trí dấu chấm ngắt giọng dài hơn (//). Dấu chấm xuống dòng nghỉ dài hơn nữa (///).Đối với bài thơ, việc ngắt giọng không chỉ phụ thuộc vào dấu câu mà cũng căn cứ vào tình tiết, nhịp điệu của thơ ca. Để giúp học sinh nắm bắt được cách ngắt giọng logic với các kí hiệu trên một cách nhanh chóng, tôi sử dụng CNTT dùng các hiệu ứng trong powerpoint hoặc
- 8 bảng tương tác điện tử các em sẽ được quan sát và thực hành đọc trực tiếp trên màn hình rộng gây được sự chú ý, hứng thú và tự giác học tập của các em. Để sử dụng CNTT hiệu quả, tôi chọn phông chữ, phông nền, màu nền phù hợp, độ sáng vừa phải và cũng không quá tối, nhợt nhạt hay màu sắc quá loè loẹt sẽ rối mắt sao cho phông chữ nổi bật trên màu nền nhã nhặn. Những kí hiệu ngắt giọng dùng hiệu ứng đổi màu và xuất hiện cùng một lúc hoặc lần lượt chỉ với một lần nhấn chuột nhưng không quá nhanh (HS sẽ khó nhận biết) hoặc quá chậm (ảnh hưởng đến thời gian). Biện pháp thực hiện như sau: Giai đoạn đầu, giáo viên đưa ra mẫu câu, đoạn cần luyện đọc đúng, gọi một học sinh đọc, học sinh khác nhận xét, sửa cách đọc hoặc có thể đưa ra cách đọc khác rồi rút ra sự thống nhất chung. Sau đó khi các em đã quen với cách làm này có thể hỏi luôn về cách ngắt câu và nhận xét thống nhất sau đó cho vài em đọc lại. *Ví dụ 1: Đêm nay/ anh đứng gác ở trại.// Trăng ngàn và gió núi bao la / khiến lòng anh man mác nghĩ tới trung thu/ và nghĩ tới các em// (Trung thu độc lập – Thép Mới – TV4, tập 1) *Ví dụ 2: Trong bài “Cánh diều tuổi thơ” (Tạ Duy Anh, TV4, tập 1), tôi thiết kế ngắt giọng lôgic qua câu văn dài như sau: Tôi đó ngửa cổ suốt một thời mới lớn / để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời / và bao giờ cũng hi vọng / khi tha thiết cầu xin: ”Bay đi diều ơi! Bay đi! 4.1.2.3 Rèn đọc diễn cảm: Đọc diễn cảm là hình thức đọc có ngữ điệu phù hợp với nội dung văn bản nhằm truyền cảm được nội dung bài đọc đến với người nghe. Đọc diễn cảm được thực hiện trên cơ sở đọc đúng, đọc lưu loát, trôi chảy rồi sử dụng ngữ điệu khi đọc (ngắt giọng biểu cảm). Ngữ điệu đọc diễn cảm bao gồm các yếu tố sau: - Ngắt nghỉ đúng, nhịp điệu phù hợp với nội dung, cường độ đọc (nhấn mạnh hay lướt nhẹ), âm lượng đọc (to hay nhỏ) giọng đọc (lên cao hay xuống thấp) và thay đổi sắc thỏi giọng đọc. - Cũng tương tự với cách ngắt giọng logic, ở phần này tôi cũng sử dụng các slide trình chiếu với những hiệu ứng đơn giản. Riêng phần thể hiện cường độ đọc và các đoạn cần thể hiện sự thay đổi sắc thái biểu cảm dùng kí hiệu gạch chân, đổi màu phông chữ sau đó bằng các hiệu ứng cho xuất hiện lần lượt trên slide thay vì phải mất thời gian viết bảng bằng phấn vừa tốn công mà không mang lại hiệu quả cao.
- 9 Ví dụ về một số bài đọc thực hành trên lớp: a. Ngắt nghỉ để bộc lộ được ý tứ, nội dung bài học: - Để diễn tả được tình cảm yêu thương tha thiết của người mẹ Tà ôi với con và với cách mạng thể hiện qua lời ru dịu dàng, đằm thắm. học sinh phải chú ý cách ngắt nhịp bài thơ như sau: Em cu Tai/ ngủ trên lưng mẹ ơi/ Em ngủ cho ngoan/ đừng rời lưng mẹ/ Mẹ giã gạo/ mẹ nuôi bộ đội/ Nhịp chày nghiêng,/ giấc ngủ em nghiêng/ Mồ hôi mẹ rơi,/ má em nóng hổi/ Vai mẹ gầy/ nhấp nhô làm gối/ Lưng đưa nôi/ và tim hát thành lời:/ b. Nhịp điệu thay đổi chậm rãi, lên nhanh hơn để phù hợp với nội dung bài đọc: Ví dụ: Trong bài: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài – TV4, tập 1, ngắt đoạn như sau: “ Từ trong hốc, một mụ nhện cong chân nhảy ra, hai bên có hai nhện vách nhảy kèm. Dáng đây là vị chúa chùm nhà Nhện. Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm. Tụi quay phắt lưng, phúng càng đạp phanh phách ra oai. Mụ nhện co rúm lại / rồi cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo. Tôi thét: (nhịp điệu chậm rãi, căng thẳng, hồi hộp) - Các người có của ăn, của để, bép múp béo míp mà cứ đòi mỗi một tí tẹo nợ đã mấy đời rồi. Lại còn kéo bè kéo cánh / đánh đập một cô gái yếu ớt thế này. Thật đáng xấu hổ/. Có phá hết vòng vây đi không.” (nhịp điệu nhanh, mạnh mẽ, dứt khoát, đanh thép như ra lệnh) c. Cường độ đọc nhấn mạnh hay lướt nhẹ, âm lượng phát ra to hay nhỏ. Chẳng hạn cũng đoạn trên nhưng khi đọc nhấn giọng ở nhiều từ gạch chân. “ Từ trong hốc đá, một mụ nhện cái cong chân nhảy ra, hai bên có hai nhện vách nhảy kèm. Dáng đây là vị chúa trùm nhà nhện. Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm. Tụi quay phắt lưng, phóng càng đạp phanh phách ra oai. Mụ nhện co rúm lại / rồi cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo. Tôi thét : - Các người có của ăn của để, béo múp béo míp mà cứ đòi mãi một tí tẹo nợ đã mấy đời rồi. Lại còn kéo bè kéo cánh / đánh đập một cô gái yếu ớt thế này. Thật đáng xấu hổ/ Có phá hết vòng vây đi không?” ( Dế Mèn bênh vực kẻ yếu – Tô Hoài – TV4, tập 1) d. Giọng lên cao hoặc xuống thấp: Thường đọc cao giọng ở cuối câu hỏi, câu cảm. Chẳng hạn:
- 10 Em cu tai ngủ trên lưng mẹ ơi! (đọc cao giọng ở từ “mẹ ơi”) (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ- Nguyễn Khoa Điềm, TV4, tập 2) đ. Thay đổi giọng đọc để thể hiện những sắc thái tình cảm, đa dạng như vui vẻ, hóm hỉnh, lo lắng, buồn phiền, hờn giận, chế giễu, trìu mến, phẫn nộ Ví dụ: Đọc bài thơ: Mẹ ốm (Trần Đăng Khoa- TV 4, tập 1) Mọi hôm mẹ thích vui chơi Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu Lá trầu khô giữa cơi trầu Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay Cánh màn khép lỏng cả ngày Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan Khắp người đau buốt nóng ran Mẹ ơi cô bác xóm làng đến thăm Người cho trứng, người cho cam Và anh y sĩ đã mang thuốc vào Sáng nay trời đổ mưa rào Nắng trong trái chín, ngọt ngào bay hương Cả đời đi gió đi sương Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi Mẹ vui con có quản gỡ Ngâm thơ, kể chuyện, rồi thì múa ca Rồi con diễn kịch giữa nhà Một mình con sắm cả ba vai chèo. Vì con mẹ khổ đủ điều Quanh đôi mắt mẹ có nhiều nếp nhăn Con mong mẹ khoẻ dần dần Ngày ăn ngon miệng, đêm nằm ngủ say Rồi ra đọc sách, cấy cày Mẹ là đất nước, tháng ngày của con - Khi đọc bài này, tôi cho học sinh thảo luận cặp đôi để tìm ra cách đọc từng khổ thơ. + Khổ 1,2: giọng trầm buồn vì mẹ ốm
- 11 + Khổ 3: Lo lắng vì mẹ sốt cao + Khổ 4,5: Giọng vui khi mẹ khoẻ, diễn cho cho mẹ xem. + Khổ 6,7: giọng thiết tha và thể hiện lòng biết ơn của bạn nhỏ đối với mẹ. e. Ngoài những bài đọc thực hành trên lớp như ngắt, nghỉ, nhịp điệu, cường độ đọc . Tôi cũng dạy cho các em phân biệt cách đọc giữa các loại câu. Cao giọng ở cuối câu hỏi, câu cảm, đối với câu kể, đọc theo giọng của người dẫn chuyện, chậm rãi, nhịp điệu vừa phải. Đối với câu đối thoại cần phân biệt giọng các nhân vật để khi đọc người nghe có thể biết trong bài có mấy nhân vật, hoặc đọc phân biệt giữa nhân vật người già, trẻ em Các nhân vật là người lớn thường phải đọc với giọng đĩnh đạc, trầm, thong thả hay trìu mến còn trẻ em phải đọc với giọng hồn nhiên, nhí nhảnh Hoặc trong cùng một nhân vật, tuỳ từng văn cảnh cần có giọng đọc khác nhau. Chẳng hạn nhân vật Dế Mèn trong bài “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” của Tô Hoài: Lời kể của Dế Mèn đọc với giọng chậm, thể hiện sự ái ngại, thương xót với Nhà Trò, lời Dế Mèn nói với Nhà Trò đọc với giọng mạnh mẽ, dứt khoát, thể hiện sự bất bình, thái độ kiên quyết, lời của Dế Mèn đối với bọn Nhện, giọng mạnh mẽ, đanh thép như ra lệnh. *Hay ở bài Ga-vrốt ngoài chiến luỹ (V. Huy- gô - TV4, tập 2) có đoạn: - Cậu làm trò gì đấy? (Giọng hoảng hốt, ngạc nhiên) – Cuốc-phây-rắc hỏi. - Em nhặt cho đầy giỏ đây! (giọng hồn nhiên, nhí nhảnh) - Cậu không thấy đạn réo à? (giọng lo lắng) - Có chứ, nó rơi như mưa ấy. Nhưng làm sao nào? (giọng hồn nhiên, tinh nghịch) Cuốc-phây-rắc thét lên: - Vào ngay! (giọng quát lớn, lo lắng) Trong quá trình rèn đọc diễn cảm, tôi rèn cho các em kỹ năng sử dụng các kí hiệu trong bài đọc, chẳng hạn: (/) ngắt nhanh (//) nghỉ hơi lâu (-): nhấn giọng ↑: cao giọng ↓: thấp giọng Ví dụ: Hai người bột tỉnh dần/, nhận ra bạn cũ thấy lạ quá, / kêu lên: - Ôi ↑, chính là anh đó cứu chúng tôi đấy ư ↑? Sao trông anh khác thế ↑? - Có gì đâu /, tại tớ nung trong lửa.// Bây giờ tớ có thể phơi nắng, phơi mưa hàng đời người. Nàng công chúa phục quá, / thì thào ↓ với chàng kị sĩ: - Thế mà chúng mình mới chớm xuống nước đã vữa ra.↓ (giọng nhỏ lại)
- 12 Đất Nung đánh một câu cộc tuếch: - Vì các đằng ấy ở trong lọ thuỷ tinh mà. ( Chú Đất Nung - Nguyễn Kiên) - Lúc đầu khi học sinh chưa quen, chưa nhớ tôi dùng các kí hiệu đưa vào các câu, đoạn văn, thơ rồi hỏi học sinh: “Kí hiệu đó cần đọc như thế nào?” Để học sinh nhớ các kí hiệu tôi cho học sinh làm bài tập: - Em hãy đọc đúng , diễn cảm theo kí hiệu trong đoạn văn trên để thể hiện sự ngạc nhiên, khâm phục khi gặp lại Đất Nung và sự thẳng thắn chân thành , bộc tuệch của Đất Nung. Sau khi học sinh đó nhớ được các kí hiệu trên, ở mỗi bài tập đọc phần hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, sau khi chọn đoạn cần đọc, tôi cho một học sinh đọc cả đoạn, cả lớp theo dõi, tìm cách ngắt, nghỉ, nhấn giọng và giọng đọc của đoạn sao cho phù hợp. Với cách làm này, chỉ sau một thời gian ngắn học sinh đó tự nhận ra cách đọc cho phù hợp với mỗi loại bài tập đọc khác nhau và có thể đưa ra được nhiều cách đọc khác nhau trong cùng một câu văn ,đoạn văn mà vẫn thể hiện ngữ điệu phù hợp với văn cảnh đó. Chẳng hạn với câu văn sau: “ Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều.” (Cánh diều tuổi thơ, Tạ duy Anh, TV4, tập 1) Học sinh của tôi đã ngắt như sau: Cách 1: “ Tuổi thơ của tôi / được nâng lên từ những cánh diều.” (ngắt theo cụm C-V nhấn mạnh kí ức tuổi thơ của tác giả) Cách 2: “ Tuổi thơ của tôi được nâng lên / từ những cánh diều.” (ngắt theo cách biểu cảm nhấn mạnh những cánh diều đã làm cho tuổi thơ của tác giả thêm đẹp, nâng những ước mơ của tác giả bay cao.) Bằng cách ứng dụng CNTT với những hiệu ứng phong phú đã mang lại hiệu quả rất cao, tạo niềm say mê hứng thú giúp các em diễn cảm tốt hơn. Chẳng hạn slide rèn học sinh đọc diễn cảm trong bài Ga-vrôt ngoài chiến luỹ:

