Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn chữ viết đúng và đẹp trong các tiết Chính tả cho học sinh Lớp 3 thời kì học trực tuyến

doc 22 trang Chăm Nguyễn 30/12/2025 140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn chữ viết đúng và đẹp trong các tiết Chính tả cho học sinh Lớp 3 thời kì học trực tuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_chu_viet_dung_va.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn chữ viết đúng và đẹp trong các tiết Chính tả cho học sinh Lớp 3 thời kì học trực tuyến

  1. 2) Nhóm nghiên cứu thực tiễn: - Khảo sát thực tế. - Dự giờ đồng nghiệp. - Thực nghiệm sư phạm. - Thống kê số liệu. 3) Phương pháp bổ trợ: - Thống kê Toán học. - Các bảng biểu, sơ đồ. 4) Phương pháp khảo sát: Tôi đã vận dụng phương pháp này để tìm hiểu và rà soát kĩ năng viết ở lớp 3. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ( NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI CỦA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN) I. Cơ sở khoa học của việc chọn sáng kiến: 1) Cơ sơ lí luận: 1.1. Cơ sở tâm lý: Tâm lí học và giáo dục học nêu rất rõ “ Quá trình hình thành nhân cách cho học sinh qua các hoạt động để từng bước phát triển nhận thức cho học sinh” Các hoạt động ấy được tổ chức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. - Nhân cách được hình thành “ Bằng hoạt động” và “ Thông qua hoạt động” - Thông qua các hoạt động học tập, lao động, vui chơi quá trình nhận thức của các em được phát triển theo các mức độ: Mức 1: Hình thành tri thức kĩ năng. Mức 2: Hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thói quen. Đây chính là cụ thể hoá mục tiêu giáo dục: Giáo dục đại trà và giáo dục học sinh năng khiếu. 1.2. Cơ sở giáo dục: Giáo dục nói chung, lí luận dạy học từng môn học nói riêng cung cấp cho phương pháp dạy học tiếng Việt cũng như dạy phân môn Tập viết, những hiểu biết về nguyên tắc, quy luật của việc dạy môn học. Mục đích của phương pháp dạy học phân môn Tập viết cũng như các môn khoa học khác nói chung là tổ chức sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh. Chuẩn bị cho các em hành trang
  2. đi vào cuộc sống, lao động xã hội mới. Do đó mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục đề ra là phát triển trí tuệ, hình thành thế giới khoa học phát triển tư duy sáng tạo thông qua các kĩ năng và kĩ xảo cho học sinh. Giúp các em có năng lực và thói quen viết đúng và viết đẹp chữ tiếng Việt văn hoá, tiếng Việt chuẩn mực lớp 3. 2) Cơ sở thực tiễn: Trong những năm học trước, thực trạng dạy Chính tả ở trường Tiểu học trên cả hai đối tượng: Giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế. - Về phía giáo viên: Chữ viết mẫu chưa đẹp đồng đều, do đó khi giảng dạy và rèn chữ viết cho học sinh có chất lượng và hiệu quả chưa cao, phần luyện tập thực hành còn ít, giáo viên chưa uốn nắn, sửa sai cách viết, chữ viết trong giờ Chính tả cho học sinh một cách triệt để. - Việc rèn chữ viết đúng và viết đẹp cho học sinh phải có một quá trình rèn rũa lâu dài, không phải đến lớp trên mới được hình thành và rèn luyện mà đã được dạy ngay từ lớp 1. Khi lên lớp 2, lớp 3 các em đã đọc thông, viết thạo, có nhiều em đã viết nhanh nhưng viết ngoáy, viết cẩu thả, viết sai kích thước các con chữ, nên đòi hỏi giáo viên cần rèn cho học sinh viết chữ đúng và viết đẹp là điều mà không chỉ có phụ huynh học sinh và nhà trường quan tâm mà xã hội và cả ngành giáo dục đều quan tâm một cách đặc biệt . 3) Cơ sở tâm lí: - Học sinh tiểu học thường hiếu động, thiếu kiên trì, mà phân môn học Tập viết đòi hỏi phải có quá trình vận động của mắt, vận động của tay, khả năng nghe, nhìn, có tư duy, có tình cảm, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ, hiểu và viết những gì đọc được. Với việc rèn cho học sinh lớp 3 viết đúng và viết đẹp trong đòi hỏi có một quá trình lâu dài, nên khi dạy Chính tả cho học sinh Tiểu học cần có trực quan sinh động, chữ mẫu chuẩn mực để gây hứng thú cho học sinh hoặc các hình thức tổ chức trò chơi nâng cao kĩ năng rèn chữ viết đúng và đẹp tạo cho không khí giờ học vui tươi, sinh động, góp phần nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh. II. Đặc điểm tình hình và số liệu khảo sát: ( Thực trạng khi chưa có kinh nghiệm thực hiện): 1) Thuận lợi: - Về phía học sinh : Các em rất ngoan và có ý thức vươn lên trong học tập. + Phần đông các em ở cùng một khu nên thuận lợi cho việc học nhóm.
  3. + Với tỷ lệ nữ 17 em, nam 25 em. Trong đó con em dân tộc 11 em, các em đều ngoan nên việc dạy cũng đỡ vất vả. + Đa số các phụ huynh quan tâm việc học của con em mình thể hiện thành công ở mô hình học bán trú 2 buổi/ ngày, ở sự chuẩn bị cho các em đầy đủ các loại sách vở, đồ dùng học tập cần thiết. - Giáo viên: Với 33 năm công tác, có sự say mê với việc rèn chữ viết cho học sinh, cũng đã từng đi thi giáo viên viết chữ đẹp cấp huyện, được sự chỉ đạo sát sao, sự hướng dẫn nhiệt tình của Ban giám hiệu cùng với sự động viên của các đoàn thể và đồng nghiệp tôi rất yên tâm và nhiệt tình trong công tác giảng dạy. - Về phía Nhà trường: + Nhà trường rất quan tâm trong việc rèn chữ viết cho học sinh nên đã trang bị đầy đủ cho mỗi phòng học một bảng chống loá có dòng kẻ ô li rất hiệu quả cho việc rèn chữ viết cho học sinh. + Trong mỗi phòng học có đủ bóng điện thắp sáng, có quạt mát cho mùa hè và học sinh ngồi bàn ghế 2 chỗ rất thuận lợi cho việc giáo viên khi giảng dạy dễ dàng đi đến từng học sinh rèn chữ và kiểm tra việc thực hành viết của các em. 2) Khó khăn: Một số em ở xa đi lại vất vả nên không đảm bảo thời gian học tập (trong những hôm trời mưa). - Chữ viết của học sinh trong lớp không đồng đều, các em còn viết sai rất nhiều, một số em có thói quen cầm bút sai, để vở chưa đúng quy định, ngồi viết chưa đúng tư thế, thực hành viết còn quá chậm, viết xấu, viết cẩu thả, nên ảnh hưởng đến chất lượng chung của lớp. Một số em kinh tế gia đình còn eo hẹp ( hộ nghèo) nên đồ dùng học tập còn thiếu.Bên cạnh đó năm nay là một năm đặc biệt: học sinh học trực tuyến nên mỗi lần chụp bài cho cô là tôi lại thấy băn khoăn khó tả về chữ học sinh, để rèn cho các em viết được đẹp đúng mẫu chữ càng thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này. 3) Khảo sát thực tế qua giờ dạy: Qua thực tế giờ dạy tôi nhận thấy như sau: 3.1. Về giáo viên: * Ưu điểm: Nhiệt tình, truyền thụ đầy đủ nội dung bài học cho học sinh bám sát theo chương trình và sách giáo khoa; chữ viết mẫu của giáo viên đúng chuẩn, dễ quan sát, trình bày khoa học.
  4. * Hạn chế: Giáo viên chưa tổ chức được nhiều trò chơi trong giờ học cho học sinh nên ít gây hứng thú cho học sinh trong học tập.Đặc biệt việc học trực truyến lại càng khó khăn hơn trong việc viết mẫu cho học sinh quan sát và theo dõi. 3.2. Về học sinh: * Ưu điểm: Hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, có tinh thần thi đua học tập. * Hạn chế: Khi luyện tập các em cứ viết theo bản năng mà chưa thực sự chú ý đến việc nắn nót để rèn chữ cho đúng và đẹp. - Ở các em còn hiện tượng giấu dốt chưa mạnh dạn trong việc hỏi thầy, hỏi bạn. Thời gian học rèn chữ ở nhà còn hạn chế dẫn đến bài viết chưa đẹp. 3.3.Số liệu khảo sát trước khi thực hiện đề tài: Tôi đã khảo sát qua phiếu học tập và được thực hiện sau khi học tiết Chính tả “ Tiết 4: Cô giáo tí hon” (Vở Tiếng Việt lớp 3 - Tập 1). Nội dung phiếu như sau: PHIẾU HỌC TẬP PHÂN MÔN: Chính tả Tiết 4 : Cô giáo tí hon( nghe viết) Em hãy nghe và viết đúng,đẹp bài viết: Cô giáo tí hon Kết quả của học sinh viết trên phiếu được đánh giá như sau: - Khi nhận lớp 3 A 5 sau giờ học Chính tả đó tôi có chấm bài và có số liệu cụ thể TSHS : 42 em Viết sai Viết đúng SL 35 7 TL % 83 % 17% - Các lỗi sai chính tả của học sinh lớp 3A5 tôi chia ra cụ thể từng phần: TSHS Viết sai Viết đúng Độ cao, khoảng 42 cách Dấu thanh Vần Phụ âm đầu 20 6 7 3 6
  5. - Cuối tháng 9 năm 2021, tôi chấm vở sạch chữ đẹp và đã phân loại chữ viết của học sinh trong lớp: Loại A B C TSHS:4 2 SL 6 28 8 TL % 14 % 67% 19 % III.Thời gian,đối tượng và phạm vi thực hiện sáng kiến: 1) Thời gian thực hiện: Xuất phát từ thực tế trên tôi đã đề ra thời gian thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này trong một năm học 2021 – 2022 tôi chia ra làm hai đợt bởi năm học này nghỉ phòng chống dịch CoVid 19 như sau: Đợt 1: Thời gian Nội dung Tháng 9/ 2021 Điều tra - Khảo sát thực tế Tháng 10/ 2021 Thực nghiệm sư phạm trong 4 tiết Tháng 11/ 2021 Thực nghiệm sư phạm trong 4 tiết Tháng 12/ 2021 Sơ kết kết quả đợt 1 Đợt 2: Tháng 1/ 2022 Thực nghiệm sư phạm trong 4 tiết Tháng 2/ 2022 Thực nghiệm sư phạm trong 4 tiết Tháng 3/ 2022 Sơ kết kết quả đợt 2 Viết đề cương dàn bài sơ lược của sáng kiến kinh nghiệm. Tháng 4/ 2022 Hoàn thành bài viết sáng kiến kinh nghiệm. 2) Đối tượng và phạm vi thực hiện sáng kiến: * Đối tượng nghiên cứu là 42 học sinh lớp 3A5 do tôi phụ trách. * Phạm vi :Nội dung môn Tiếng Việt và đi sâu vào Rèn luyện kĩ năng viết chữ đúng và đẹp trong các tiết của phân môn Tập Viết nói riêng. IV.Biện pháp thực hiện: ( Nội dung chủ yếu của sáng kiến) 4.1.Các biện pháp thực hiện: 4.1.1 Biện pháp 1: Biện pháp nêu gươnggây hứng thú học tập và sử dụng một số ứng dụng CNTT: a) Nhiệm vụ: Giáo viên giáo dục cho học sinh thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của chữ viết. Từ đó, giúp các em có lòng say mê và tinh thần quyết tâm
  6. rèn chữ viết cho đúng và đẹp như chữ mẫu và chữ của các thế hệ trước, thể hiện và tôn vinh nét đẹp của văn hoá Việt. Góp phần giữ gìn và phát triển cái đẹp của chữ Việt với bạn bè Quốc tế.Giúp học sinh làm quen với máy tính và một số ứng dụng : Chia sẻ bài, làm bài trên khung chát. Đặc biệt biết sử dụng thêm một số phần mềm chỉnh sửa văn bản, đấu thanh và kĩ thuật viết chữ. b) Khó khăn gặp phải: - Giáo viên: Thường dạy theo chương trình hàng tuần của tổ, chưa có sự chuẩn bị nhiều, còn giành ít thời gian đầu tư cho bài dạy, còn ngại làm các đồ dùng dạy học. - Học sinh: Thời gian rèn chữ viết ở nhà còn hạn chế, nhiều em còn thiếu các loại sách vở đồ dùng học tập, công việc chuẩn bị học bài, làm bài trước khi đến lớp còn lơ là, bút viết không cùng loại. c) Biện pháp khắc phục: - Giáo viên: Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo phương tiện máy tính máy chiếu, bài giảng điện tử,mô hình bài dạy về kiến thức cũng như đồ dùng dạy học vì chuẩn bị tốt sẽ có khả năng thành công rất lớn. Cụ thể: + Giáo viên cần đọc kĩ, nghiên cứu kĩ nội dung bài viết Chính tả trong sách giáo khoa, sách hướng dẫn, nắm được mục tiêu kiến thức kĩ năng yêu cầu của bài và xác định được đúng trọng tâm kiến thức mà học sinh cần đạt được sau bài học. + Nghiên cứu sách hướng dẫn, sách tham khảo lựa chọn các phương pháp giảng dạy phù hợp. + Chuẩn bị các phương tiện, đồ dùng dạy học cần thiết cho bài dạy như: bài viết mẫu có hình ảnh sinh động phong phú cho học sinh quan sát, phấn màu, thước kẻ, . Nêu nhiều tấm gương rèn luyện chữ của người xưa như :Ông Cao Bá Quát, ông Vương Hi Chi, Đồng thời cho học sinh quan sát vở của tôi, của những anh chị cùng trường đã được giải viết chữ đẹp của huyện được lưu bài viết trong sổ truyền thống của Nhà trường như chữ viết của chị Giàng Thị Kim Chi, Trần Thị Kim Dung, Phan Ngọc Anh. Bên cạnh đó chính là các bài viết đẹp của các bạn cùng lớp như : Nguyễn Ngọc Tú, Hoàng Minh Phương, Trịnh Ngọc Hân.... Qua những câu chuyện về thực tế chữ viết của các bạn trước khi được rèn chữ và sau khi được rèn chữ viết giúp các em thêm tin tưởng và quyết tâm rèn luyện chữ viết của mình cho đẹp.
  7. Mặt khác, tôi giúp học sinh hiểu được câu nói “ Nét chữ , nết người”. Người viết chữ đẹp là người có nhiều đức tính tốt, người viết chữ đẹp được người đọc yêu quý tôn trọng. Nếu rèn luyện để học sinh có chữ viết đẹp sẽ giúp các em có tính kiên trì, cẩn thận , hỗ trợ đạt kết quả cao ở các môn học và đặc biệt là các bài thi. - Học sinh: + Chuẩn bị các loại sách vở, sách giáo khoa, vở Chính tả,vở Luyện chữ đẹp, vở Luyện tập Tiếng Việt, đồ dùng học tập đầy đủ. + Học sinh đọc trước bài viết Chính tả và tìm hiểu nội dung bài viết trong vở từ ở nhà, tập viết trước bài ở nhà. + Đến lớp chỗ nào chưa hiểu nêu ý kiến cô giáo hướng dẫn cho. d) Đánh giá: Khi thực hiện biện pháp này cần đề cao tính tự giác của cả thầy và trò, chuẩn bị tốt đồng nghĩa với việc giáo viên lường trước được các tình huống sư phạm có thể xảy ra. Từ đó giúp giáo viên tự tin hơn và thành công hơn trong giờ dạy. 4.1.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh mua vở, chọn bút: a) Nhiệm vụ: - Giáo viên nhận lớp và ngay trong buổi họp Hội cha mẹ học sinh trước khi khai giảng đã đưa ra yêu cầu gia đình học sinh mua thống nhất một loại bút máy và cùng sử dụng mực viết màu đen để tiện cho việc rèn chữ có hiệu quả. - Quy định học sinh cùng một loại vở ô ly do nhà xuất bản HỒNG HÀ.. b) Khó khăn gặp phải: - Gia đình học sinh đi họp không đầy đủ. - Một số gia đình học sinh còn nghèo,nhận thức về vấn đề rèn chữ viết cho học sinh không đồng đều nên khó đi đến thống nhất ngay được. - Học sinh tận dụng bút cũ đang sử dụng từ năm học trước. c) Biện pháp khắc phục: - Tôi hướng dẫn cho học sinh chọn vở có dòng kẻ rõ ràng, viết không bị nhoè mực; khuyến khích học sinh dùng bút máy ( không nên dùng bút kim, bút bi ). - Tôi chú ý đặc biết đến tư thề ngồi viết đúng cho học sinh, đặt vở hơi chếch khoảng 9 đến 10 độ, cầm bút bằng ba ngón tay d) Đánh giá: Sau khi sử dụng biện pháp trên tôi thấy chữ viết của học sinh lớp 3A5 của tôi có tiến bộ rõ rệt. Chữ viết của các em có cùng màu mực đen, viết chữ vào vở
  8. rất dễ căn độ rộng và độ cao nên chữ viết đúng quy định theo mẫu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 4.1.3.Biện pháp 3: Rèn chữ viết qua các bài Chính tả: - Bài viết mẫu trên bảng của giáo viên cần đúng, đẹp và được coi như bài viết trong vở của học sinh phóng to. - Trước khi viết bài yêu cầu học sinh đọc nhiều lần theo hình thức khác nhau: + Đọc cá nhân. + Đọc theo nhóm đôi. + Đọc theo nhóm lớn. + Đọc đồng thanh. + Ghi nhớ các quy tắc viết các chữ, các chữ viết hoa , chữ viết thường. - Yêu cầu học sinh hiểu được nội dung bài viết. - Quan sát một số bài viết của các bạn học sinh các năm trước . - Cho học sinh viết bảng con các chữ khó viết. - Cho học sinh quan sát bài viết mẫu của giáo viên rồi viết nắn nót vào vở. - Giáo viên đọc cho học sinh soát lỗi . - Cho học sinh đổi vở chéo để kiểm tra lẫn nhau . * Đặc biệt lưu ý: - Cần quan sát kĩ bài viết và ghi nhớ cách viết danh từ riêng trong bài. - Giáo viên cần hướng dẫn rõ ràng, mạch lạc,các cụm từ giúp học sinh dễ nhớ và thay đổi cách viết phù hợp và giúp học sinh viết đầy đủ và chính xác. Kết hợp giữa việc dạy, giáo viên cần quan sát khắp lớp chữ viết của từng học sinh để giúp đỡ, chỉ bảo các em sửa lỗi sai kịp thời từ đó tỉ lệ học sinh viết sai sẽ không còn, hạn chế sự viết ẩu của học sinh. Sau mỗi tiết học chữ viết của học sinh sẽ tiến bộ rõ rệt. Đồng thời ý thức của học sinh khi bước vào giờ học Tập viết thấy thoải mái và ham thích được rèn chữ viết. Từ đó, tính cẩn thận, lòng kiên trì và nhân cách tốt đẹp của các em được hình thành và phát triển. 4.1.4.Biện pháp 4: Rèn cho học sinh viết đúng cỡ chữ: a) Rèn viết chữ thường: Trên thực tế để học sinh viết đúng, viết đẹp ngay tất cả các con chữ là điều rất khó. Do vậy, tôi định ra mỗi ngày rèn cho học sinh một số con chữ, tôi lựa chọn những con chữ có đặc điểm gần giống nhau và sắp xếp theo thứ tự để học sinh rèn luyện. Đầu tiên tôi rèn cho học sinh các con chữ o, ô, ơ . Những con chữ này tưởng rất đơn giản nhưng nhiều học sinh vẫn sai về kích thước chữ, điểm đặt bút. Khi dạy viết các con chữ này trên phòng học zoom thật là khó
  9. khăn, tôi tải phần mềm viết bảng từ dod tôi bắt đầu kẻ ô vuông lên bảng, chấm điểm đặt bút bằng màu vẽ và viết mẫu kết hợp hướng dẫn cho học sinh tiện quan sát. Sau đó yêu cầu học sinh nhận xét và nêu lại quy trình viết chữ và điểm tiếp xúc của chữ “ o” với các cạnh của hình vuông. Tôi giúp cho học sinh hình dung cách viết chữ “ o” thông qua hình ảnh trực quan, nếu điểm đặt bút ở vị trí tai phải của các em, từ vị trí này ta vòng qua đỉnh đầu qua tai trái vòng qua cằm và dừng bút vào tai phải ( trùng với điểm đặt bút ). Viết được chữ “ o” học sinh sẽ dễ dàng viết được các con chữ ô, ơ, a, ă, â, d, đ, q, g vì tất cả các con chữ này đều có nét cong tròn khép kín và các con cũng dễ dàng viết được chữ: c, x, e, ê, s. - Tiếp theo tôi rèn cho học sinh viết các con chữ: m, n, i, u, ư, v, r, t. Khi rèn viết các chữ này tôi chú trọng luyện viết nét móc: móc ngược, móc xuôi, móc hai đầu. Viết được các chữ này học sinh dễ dàng viết được các chữ l, b, h, k, y. Các chữ: l, b, h, k, y đều giống nhau ở một nét cơ bản là nét khuyết.Cách rèn con chữ này thì tốt rồi nhưng lại gặp khó khăn trong việc kiểm tra và chỉnh sửa cho từng em. Tôi lại hướng dẫn các em một số kĩ năng chia sẻ bài trên phòng học sau đó cùng với cô trưc tiếp sửa cho từng em. b) Rèn chữ viết hoa: Để viết đúng, đẹp các con chữ theo mẫu chữ viết thường đã là khó nhưng để viết đúng và đẹp các chữ hoa đối với học sinh còn khó hơn. Căn cứ vào sự cấu tạo nét giống nhau của các chữ, tôi chia các chữ hoa thành các nhóm sau để học sinh thuận lợi hơn trong việc rèn chữ: Nhóm 1: Các chữ có nét khuyết trên. Nhóm 2: Các chữ có nét khuyết dưới. Nhóm 3: Các chữ có nét cong tròn khép kín. Nhóm 4:Các chữ có cùng nét móc ngược,móc xuôi,móc hai đầu. Nhóm 5: Các chữ có nét móc xoắn. Nhóm 6: Các chữ có nét thắt. Khi dạy học sinh chữ theo nhóm giáo viên cho học sinh quan sát nhận xét tìm ra những nét giống nhau của các chữ để vận dụng viết chữ cho đẹp. c) Rèn cho học sinh viết các nét nối giữa các con chữ: Học sinh thường gặp khó khăn khi viết nét nối giữa các con chữ. Các lỗi thường gặp là: khoảng cách giữa các con chữ thưa ( hoặc dày) quá, nét nối vụng về, nét nối đứt đoạn,
  10. Tôi đã phân loại các nét nối để rèn chữ viết cho học sinh và hướng dẫn từng nét nhỏ một,viết như thế nào? Đó là câu hỏi,việc làm thiết thực của tôi: Ví dụ: - Nhóm nét móc nối với nét móc: nu, nư - Nhóm nét cong nối với nét cong: co, ca, dùng kĩ thuật rê bút viết tiếp. - Nhóm nét khuyết nối với nét khuyết: kh, - Nhóm nét móc nối với nét khuyết: nh, ng, 4.1.5. Biện pháp 5: Rèn cho học sinh kĩ năng viết liền mạch: Một số học sinh viết chậm nguyên nhân là các em viết xong một con chữ lại nhấc bút rồi mới đặt bút để viết con chữ tiếp theo, các nét chữ không liền mạch, bị rời rạc, không có sự liên kết trong cả một chữ viết. Viết như vậy dễ dẫn đến sai cả độ rộng các con chữ trong một chữ, tốc độ viết cũng bị chậm. Do yêu cầu viết đúng và tốc độ tôi đã rèn cho học sinh lớp tôi viết liền mạch. Ví dụ: Khi viết chữ “ trường” tôi hướng dẫn học sinh viết liền mạch như sau: Bước 1:Tôi hướng dẫn học sinh viết chữ tr trước chữ tr được viết bởi chữ t nối liền với chữ r Bước 2:Tôi hướng dẫn các em dùng kĩ thuật đưa bút viết nối tiếp vần ương không nhấc bút. Bước 3:Cuối cùng tôi hướng dẫn kĩ thuật Lia bút để ghi đấu thanh huyền trên đầu âm chính ta viết được chữ “ trường” 4.1.6.Biện pháp 6: Biện pháp hỗ trợ: Trên thực tế nhiều học sinh có viết từng chữ đẹp song nhìn cả bài viết chưa hài hoà do khoảng cách giữa các nét chữ chưa hợp lí. Tôi hướng dẫn học sinh khoảng cách giữa các chữ có độ rộng bằng một con chữ “ o” ,mới đầu khi viết một chữ học sinh viết một chữ “ o” tưởng tượng rồi viết tiếp theo, sau đó khi đã quen mắt quen tay rồi thì học sinh không cần thao tác ấy nữa. 4.2 . Đối với phần luyện viết: a) Đối với phần luyện viết chữ hoa: - Yêu cầu đầu tiên đối với các giáo viên là phải phát âm thật chuẩn. - Yếu tố gia đình cũng rất quan trọng vì ngay từ khi mới tập nói ở gia đình đã dạy các em nói. Mà cổ nhân đã có câu : “ Uốn cây từ thuở còn non Dạy con từ thuở con còn trẻ thơ ”
  11. - Cung cấp lại cho các em các quy tắc chính tả mà các em đã bị quên hoặc nhớ không chính xác. - Từ việc trẻ phát âm chuẩn tiếng Việt yêu cầu học sinh phân biệt các cặp phụ âm dễ lẫn sẽ trở thành đơn giản và nhanh chóng tìm ra đáp án đúng. u - ư i k, c a - ă - â gh, e - ê ngh o - ô - ơ iê VD: Ghép với “q” là “u” ( không bao giờ âm “ o” đứng sau phụ âm “ q” ). q u b) Đối với phần luyện viết chữ thường: - Giáo viên khai thác triệt để kênh hình và phát âm thật chuẩn các từ cần viết. - Cuối mỗi tiết dạy với cách dạy như trên tôi thấy hiệu quả rất cao: 100% học sinh viết đẹp và viết đúng. 4.3. Một số biện pháp khác: a) Về phía giáo viên: Luôn nâng cao trình độ nghiệp vụ , học hỏi và thực hành tốt các ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình học trực tuyến, kết hợp với phụ huynh giáo dục cho các em sử dụng phương tiện dạy học an toàn và có hiệu quả.Xây dựng cho các em tính tự chủ không lệ thuộc vào cha mẹ. Bản thân tôi luôn chú ý tới chữ viết của mình sao cho mỗi chữ viết cho học sinh đều là chữ mẫu mực để các em học tập như ghi lời nhận xét ở vở của các em. Khi trả bài cho các em nhận xét kĩ những ưu điểm, khuyết điểm về chữ viết của học sinh và cách sửa lỗi sai đó ( lỗi sai độ cao, lỗi sai độ rộng, khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ, khoảng cách giữa các chữ với nhau, )Khi trả bài cho các em nhận xét kĩ những ưu điểm, khuyết điểm về chữ viết của học sinh và cách sửa lỗi sai đó ( lỗi sai độ cao, lỗi sai độ rộng, khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ, khoảng cách giữa các chữ với nhau, ) - Các chữ có vần gồm 2 nguyên âm mà có dấu thanh khi phát âm trọng âm dồn vào nguyên âm nào ta viết dấu thanh đó ở trên ( hoặc ở dưới) âm đó.